Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 120 bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy theo chỉ số khối cơ thể (BMI), tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20% và thừa cân/béo phì là 7,5%. Có 29,1% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin.
Trang 1Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thùy Linh, Viện Đào tạo Y học Dự
phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: linhngthuy.hmu@gmail.com
Ngày nhận: 30/11/2016
Ngày được chấp thuận: 26/2/2017
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2016
Dương Thị Phượng, Lê Thị Hương, Nguyễn Thùy Linh, Dương Thị Yến
Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 120 bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm
mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy theo chỉ số khối cơ thể (BMI), tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20% và thừa cân/béo phì là 7,5% Có 29,1% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin 51,7% bệnh nhân ung thư có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại PG - SGA Tỷ lệ thiếu máu là 59,2% (đặc biệt là nữ giới chiếm 70,5%) Tỷ lệ bị giảm cân trong 6 tháng qua và một tháng qua lần lượt là 75% và 50% Vậy tình trạng suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đang ở mức khá cao và đây là một vấn đề sức khỏe cần được quan tâm.
Từ khóa: tình trạng dinh dưỡng, ung thư, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là một trong những nguyên nhân
gây tử vong hàng đầu trên thế giới, đang ngày
càng gia tăng và trở thành gánh nặng bệnh tật
cho toàn xã hội, trong đó bao gồm cả Việt
Nam [1] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế
giới, năm 2010, mỗi ngày ở Việt Nam có
khoảng 350 trường hợp ung thư được xác
định và 190 trường hợp tử vong do ung thư
[2] Tuy nhiên, quản lý y tế vẫn tập trung vào
việc chăm sóc, điều trị lâm sàng cho bệnh
nhân mà ít chú ý tới vấn đề chăm sóc dinh
dưỡng, đặc biệt là tình trạng dinh dưỡng của
các bệnh nhân này [3] Điều này dẫn đến tình
trạng dinh dưỡng của bệnh nhân không được
đảm bảo Trong khi đó, việc đánh giá tình
trạng dinh dưỡng và can thiệp dinh dưỡng có
vai trò quan trọng góp phần tăng hiệu quả
điều trị, thời gian sống và chất lượng cuộc
sống cho bệnh nhân ung thư [4] Bênh cạnh
đó, bệnh nhân ung thư có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn do nhu cầu trao đổi chất tăng lên [5] Kết quả là suy dinh dưỡng liên quan đến bệnh nhân ung thư thường biểu hiện như một dấu hiệu ban đầu của một bệnh tiến triển nhanh chóng với biểu hiện là sụt cân nhiều trong thời gian ngắn [6] Việc sàng lọc, can thiệp dinh dưỡng kịp thời trước và trong suốt quá trình điều trị ung thư có thể góp phần làm giảm tác dụng gây độc tế bào và các biến chứng liên quan do tác dụng phụ của các phương pháp điều trị [7] Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư bằng mô bệnh học và được điều trị tại Khoa Ung bướu & Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ tháng
1 đến tháng 5 năm 2016
Trang 22 Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
Chọn mẫu và cỡ mẫu
Cỡ mẫu: tính theo công thức cỡ mẫu cho
việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
p: tỷ lệ bệnh nhân ung thư có nguy cơ
hoặc bị suy dinh dưỡng theo PG - SGA lấy từ
nghiên cứu trước là p = 0,59 [8]
ε: là sai số tương đối của nghiên cứu, lấy
ε = 0,15
α: mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05 Khi
đó, Z(1-α/2)= 1,96
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu của
nghiên cứu là n = 119 Cỡ mẫu cuối cùng thu
thập được là 120
Chọn mẫu: phương pháp chọn mẫu thuận
tiện, tất cả bệnh nhân nằm điều trị nội trú tại
bệnh viện trong thời gian tiến hành nghiên
cứu và thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn đều
được đưa vào nghiên cứu cho đến khi đủ cỡ
mẫu
Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
Kỹ thuật thu thập thông tin: phương
pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên
cứu; kết hợp với phương pháp quan sát và đo
đạc các thông số về nhân trắc học, một số chỉ
số cơ thể khác theo bộ công cụ đã xây dựng
sẵn Một số thông tin về kết quả cận lâm sàng
được lấy từ hồ sơ bệnh án
Công cụ thu thập thông tin: bộ câu hỏi
nghiên cứu đã được xây dựng sẵn Ngoài ra, các công cụ thu thập một số chỉ số nhân trắc bao gồm: cân tanita, thước dây và thước gỗ
đo chiều cao
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch
và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi-data 3.1 Các phân tích sẽ được thực hiện bằng phần mềm STATA 12.0
3 Đạo đức nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu và
tự nguyện tham gia nghiên cứu Các thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
III KẾT QUẢ
Nghiên cứu tiến hành trên 120 bệnh nhân ung thư với tỷ lệ khá tương đồng giữa nam và
nữ (49,2% và 50,8%); tuổi trung bình là 55,3 ± 13,4 tuổi Trong đó, ung thư đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,2%, tiếp đến là ung thư vú/cổ tử cung/buồng trứng với 13,3%
và ung thư phổi với 7,5%
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số BMI, kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng chung là 20,0% Trong đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng độ 3 ở nữ cao hơn ở nam (6,6% và 1,7%); ngược lại suy dinh dưỡng độ 1 và độ 2
ở nam (10,2%) lại cao hơn ở nữ (1,6% và 9,8%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê,
p < 0,05 (bảng 1)
2 ) (ε
p) p.(1 α/2) (1 2 Z n
p
−
−
=
Trang 3Bảng 1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo BMI
Phân loại BMI (kg/m 2 ) Chung n (%) Nam n (%) Nữ n (%) p
< 16,0
16,0 - 16,99
17,0 - 18,49
18,5 - 24,99
≥ 25
5 (4,2)
7 (5,8)
12 (10,0)
87 (72,5)
9 (7,5)
1 (1,7)
6 (10,2)
6 (10,2)
45 (76,3)
1 (1,7)
4 (6,6)
1 (1,6)
6 (9,8)
42 (68,9)
8 (13,1)
0,025
Bảng 2 Tình trạng dinh dưỡng theo một số chỉ số hóa sinh máu
Albumin (g/l)
n = 86
> 35
28 - <35
21 - 27
61 (70,9)
22 (25,6)
3 (3,5)
23 (56,1)
17 (41,5) 1(2,4)
38 (84,4)
5 (11,1)
2 (4,4)
0,003
Hemoglobin
n = 120
Có thiếu máu Không thiếu máu
71(59,2) 49(40,8)
28(47,5) 31(52,5)
43(70,5) 18(29,5) 0,01
Đánh giá theo chỉ số albumin, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng chung là 29,1%; trong đó có 25,6% suy dinh dưỡng nhẹ (albumin từ 28 - 35 g/l) và 3,5% suy dinh dưỡng trung bình (albumin từ 21 - 27 g/l) Tỷ lệ này ở nam cao hơn ở nữ có ý nghĩa thống kê, p < 0,05
Về tình trạng thiếu máu: kết quả cho thấy có đến 59,2% đối tượng bị thiếu máu và tỷ lệ này ở nữ cao hơn ở nam có ý nghĩa thống kê (70,5% và 47,5% tương ứng)
Biểu đồ 1 Tình trạng dinh dưỡng theo phân loại PG-SGA
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 48,3% đối tượng nghiên cứu có tình trạng dinh dưỡng tốt (PG
- SGA A) và 51,7% có nguy cơ suy dinh dưỡng ở mức vừa và nặng (PG - SGA B và C)
Trang 4Biểu đồ 2 Tỷ lệ % các triệu chứng ảnh hưởng đến ăn uống của đối tượng nghiên cứu
trong hai tuần qua
Có đến 65,8% đối tượng có triệu chứng mệt mỏi; 56,7% có triệu chứng chán ăn; 44,2% có triệu chứng khô miệng Tỷ lệ thay đổi vị giác, buồn nôn, táo bón và mùi vị thức ăn lạ lần lượt là 37,5%; 34,2%; 32,5% và 27,5% Tỷ lệ có nôn và tiêu chảy là 20,8% và 18,3% Các triệu chứng khác như khó nuốt và nhiệt miệng cũng dao động khoảng 20%
Biểu đồ 3 Thay đổi cân nặng trong 6 tháng và 1 tháng gần đây
Giảm 1: giảm ≥ 5% trong 1 tháng và ≥ 10% trong 6 tháng
Giảm 2: giảm < 5% trong 1 tháng và < 10% trong 6 tháng
Kết quả cho thấy có đến 75% đối tượng giảm cân trong 6 tháng qua, trong đó tỷ lệ giảm trên 10% lên đến 31,7% Tỷ lệ giảm cân trong 1 tháng qua là 50%, trong đó tỷ lệ giảm trên 5% trong 1 tháng là 19,2% Tuy nhiên, cũng có đến 45% đối tượng tăng cân trong 1 tháng qua
6 tháng 1 tháng
Trang 5IV BÀN LUẬN
Theo phân loại tình trạng dinh dưỡng của
BMI, tỷ lệ suy dinh dưỡng chung là 20,0% và
tỷ lệ thừa cân, béo phì là 7,5% Kết quả trong
nghiên cứu này thấp hơn một chút (20% so
với 29,3%) so với một nghiên cứu khác cũng
tiến hành tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
(2015) [9] Kết quả này cũng thấp hơn rất
nhiều so với nghiên cứu trên bệnh nhân ung
thư đại, trực tràng tại Bệnh viện Bạch Mai
(2013) với tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI lên
đến 58,6% [10] Sự khác biệt này có thể được
giải thích do đối tượng nghiên cứu bao gồm
tất cả các bệnh nhân ở nhiều giai đoạn khác
nhau của quá trình điều trị mới được chẩn
đoán phát hiện bệnh, đang trong quá trình
phẫu thuật hoặc đang điều trị hóa chất, trong
khi đối tượng nghiên cứu của hai nghiên cứu
này là các bệnh nhân đang điều trị hóa, xạ trị
Vì vậy, có thể thời gian chưa đủ dài để làm
thay đổi BMI của bệnh nhân trong nghiên cứu
này Như vậy, BMI không nhạy để phát hiện
sự thiếu hụt dinh dưỡng trong thời gian ngắn
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh
dưỡng chung theo phân loại albumin là
29,1% Kết quả này cũng thấp hơn một chút
so với nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai
(2013) với tỷ lệ bệnh nhân có albumin < 35 g/l
là 31,4% [10] Thêm vào đó, nghiên cứu cũng
cho thấy có đến 59,2% đối tượng nghiên cứu
bị thiếu máu Trong đó, 70,5% nữ giới bị thiếu
máu cao hơn hẳn nam giới (47,5%) và sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ thiếu
máu theo nghiên cứu này tương tự với nghiên
cứu tại Bệnh viện Bạch Mai (2013) với 57,1%
[10] Như vậy, nhìn chung ở hầu hết các
nghiên cứu thì bệnh nhân ung thư bị thiếu
máu là rất cao Vì vậy, việc tư vấn dinh dưỡng
cho các bệnh nhân ung thư ngoài chú trọng đến bổ sung các thực phẩm giàu dinh dưỡng, cao năng lượng thì cũng cần chú ý đến các nhóm thực phẩm giàu sắt và giúp kích thích tăng sinh hồng cầu, các tế bào máu khác
Vì tình trạng dinh dưỡng theo PG - SGA, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân
có nguy cơ suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ khá cao (51,7%); trong đó có 12,5% có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng Kết quả này tương tự với nghiên cứu trước: tỷ lệ suy dinh dưỡng (PG - SGA B hoặc C) là 51,7% và nguy cơ suy dinh dưỡng nặng là 8,16% [9]
Trọng lượng là chỉ số cơ bản và quan trọng cho việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng
và tình trạng sức khỏe của cá thể Việc mất hơn 10% trọng lượng cơ thể vào bất cứ khoảng thời gian nào đều được xem là bằng chứng xác định tình trạng suy dinh dưỡng Kết quả cho thấy có đến 75% đối tượng giảm cân trong vòng 6 tháng và tỷ lệ giảm trên 10% lên đến 31,7% Tỷ lệ giảm cân trong 1 tháng qua
là 50% Kết quả này khá tương tự với nghiên trước với tỷ lệ giảm cân trong 6 tháng qua là 68,7%, trong đó tỷ lệ giảm trên 10% trong 6 tháng là 27,2% Tỷ lệ giảm cân trong 1 tháng thấp hơn với 35,3% và có 30,6% tăng cân trong 1 tháng qua [9] Về các triệu chứng ảnh hưởng đến ăn uống, phần lớn các bệnh nhân đều gặp phải ít nhất một triệu chứng Trong
đó, tỷ lệ mệt mỏi gặp ở 65,8%; tỷ lệ chán ăn,
ăn không ngon miệng là 56,7%; các triệu chứng khô miệng, thay đổi vị giác, buồn nôn
và táo bón cũng dao động ở mức 32,5% -44,2% Kết quả này khá tương tự với nghiên cứu trước với triệu chứng chán ăn, ăn không ngon miệng gặp ở 55,8% bệnh nhân; cảm giác no sớm là 45,6%; buồn nôn (38,1%) và khô miệng (33,3%) [9]
Trang 6Như vậy, PG - SGA phát hiện được nguy
cơ suy dinh dưỡng cho các bệnh nhân ung
thư và đánh giá được cả tình trạng sụt cân
nhanh cho nhóm bệnh nhân này Vì vậy, trong
ứng dụng lâm sàng nên đưa PG - SGA làm
công cụ sàng lọc dinh dưỡng cho các bệnh
nhân ung thư
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung
thư đang ở mức khá cao, cùng với đó là tình
trạng thiếu máu, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn
cũng dao động ở mức cao Vì vậy, cần có
những can thiệp dinh dưỡng kịp thời để cải
thiện tình trạng dinh dưỡng cho các bệnh
nhân ung thư
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Bệnh
viện Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện trong
suốt quá trình tiến hành nghiên cứu Chúng tôi
cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bệnh nhân
điều trị nội trú tại bệnh viện đã kiên trì, không
ngại mệt mỏi giúp đỡ chúng tôi hoàn thành
nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Thị Thu Hương, Trần Thị Trà
Phương, Hà Thị Vân và cộng sự (2013).
Thực trạng dinh dưỡng, kiến thức và thực
hành dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đại
trực tràng điều trị hóa chất tại Trung tâm Y
học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch
Mai Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 9(4).
2 Bauer J., Capra S., Ferguson M (2002).
Use of the scored Patient Generated -
Subjec-tive Global Assessment (PG-SGA) as a
nutri-tion assessment tool in patients with cancer
European Journal of Clinical Nutrition, 56, 779
– 785
3 Harper C (2011) Vietnam
Noncommuni-cable Disease Prevention and Control Pro-gramme 2002 - 2010 Implementation Review,
World Health Organization, 4.
4 Menon K.C (2014) Optimizing nutrition
support in cancer care Asian Pac J Cancer
Prev, 15(6), 2933 - 2934.
5 Menon K., Razak S.A., Ismail K.A et al (2014) Nutrient intake and nutritional status of
newly diagnosed patients with cancer from the
East Coast of Peninsular Malaysia BMC Res
Notes, 7, 680.
6 Nguyen Thi Nhung (2015) Nutrional
status and dietary intake of cancer patients receiving chemotherapy in Hanoi medical uni-versity hospital 2015 Bachelor of sience nurs-ing Hanoi Medical University, Ha Noi
7 Planas M., Fernández-Ortega J.F and Abilés J (2011) Guidelines for specialized
nutritional and metabolic support in the criti-cally-ill patient: update: consensus SEMI-CYUC-SENPE: oncohematological patient
Nutr Hosp, 26(2), 50 - 53.
8 Ravasco P., Monteiro-Grillo I., Vidal P.M et al (2005) Dietary counseling improves
patient outcomes: a prospective, randomized, controlled trial in colorectal cancer patients
undergoing radiotherapy J Clin Oncol, 23,
1431 - 1438
9 Santarpia L., Contaldo Fand Pasanisi
F (2011) Nutritional screening and early
treat-ment of malnutrition in cancer patients J
Cachexia Sarcopenia Muscle, 2, 27 - 35.
10 World Health Organization and Inter-national Union Against Cancer (2005).
Global Action Against Cancer, Geneva, Swit-zerland
Trang 7Summary NUTRITIONAL STATUS OF CANCER PATIENTS
AT HANOI MEDICAL UNIVERSITY HOSPITAL IN 2016
A cross-sectional study was conducted on 120 cancer patients at Hanoi Medical University Hospital to assess nutritional status and some clinical symptoms among the patients The results illustrated that, according to Body mass index (BMI), the proportion of malnutritionwas 20% and the rate of overweight/obesity was 7.5% 29.1% participants were malnourished as classified by Albumin 51.7% of cancer patients suffer from malnutrition, as classified by PG-SGA The propor-tion of anemia was 59.2% (especially women accounted for 70.5%) The percentage of loss weight in 6 months ago and 1 month ago was relatively high, at 75% and 50% respectively In conclusion, the malnutrition status of cancer patients are high levels and this is a health issue that needs attention
Keywords: cancer, nutritional status, Hanoi Medical University Hospital