Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ thai phụ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B tại Bệnh Viện Từ Dũ (6/2006-6/2007). Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.
Trang 1TỶ LỆ THAI PHỤ NHIỄM LIÊN CẦU KHUẨN NHÓM B
TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ (6 / 2006 – 6 / 2007)
Nguyễn Thị Vĩnh Thành*, Ngô Thị Kim Phụng**
TÓM TẮT
Mở đầu: một trong các nguyên nhân thường gặp nhất của nhiễm trùng sơ sinh là liên cầu khuẩn nhóm B
do lây nhiễm từ mẹ sang con CDC và ACOG đã đưa ra khuyến cáo tầm soát liên cầu khuẩn nhóm B trên thai phụ từ 35-37 tuần Tại Việt Nam chưa có chiến lược này nên bước đầu tìm hiểu tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm
B trên thai phụ tại Bệnh viện Từ Dũ
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang
Kết quả: 376 thai phụ có tuổi thai 35-37 tuần được tầm soát liên cầu khuẩn nhóm B với phương pháp tầm
soát là cấy bệnh phẩm từ âm đạo – trực tràng của các thai phụ Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B là 18,1%, con
rạ có tỷ lệ cấy (+) cao hơn so với con so (14,1% & 4%), cư ngụ ở ngoại thành và các nơi khác ngoài thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ (+) cao hơn (12% & 6,4%)
Kết luận: cần có nghiên cứu rộng hơn để có thể đưa việc tầm soát liên cầu khuẩn nhóm B trên thai phụ Việt
Nam vào chương trình chăm sóc tiền sản
ABSTRACT
THE PREVALENCE OF GROUP B STREPTOCOCAL GENITOR -RECTAL TRACT COLONIZATION IN
PREGNANT WOMEN AT TU DU HOSPITAL
Nguyen Thi Vinh Thanh, Ngo Thi Kim Phung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 82 - 86
Background: Group B Streptococcus (GBS) is one of the most common causes of neonatal sepsis CDC and
ACOG recommended screening GBS in pregnant women at 35th to 37th of gestation There is no strategy of screening GBS in pregnant women; so that we initially find out the prevalence of GBS colonization in pregnant
women at Tu Du Hospital
Method: cross sectional study
Results: Screening for GBS was carried out on 376 pregnant women by the anorectal and vaginal culture of
these women The prevalence of positive GBS is 18.1%; higher in the multiparity (14.1% & 4%), residents of the rural and other provinces (12% & 6.4%)
Conclusion: We need more studies about this problem in pregnancy to help us making a strategy of
screening
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm trùng sơ sinh là vấn đề thường gặp
phần quan trọng trong tử vong của trẻ sơ sinh
Nguyên nhân gây nhiễm trùng có thể do nhiều
loại vi trùng trong đó liên cầu khuẩn nhóm B
(Group B streptococcus – GBS) chịu trách nhiệm
một phần với tỷ lệ 1/1.600 trẻ sanh sống có triệu
chứng nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B khởi phát
mặc dù được chăm sóc trong điều kiện tốt nhất thì 1/10 trẻ sơ sinh được chẩn đoán nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B khởi phát sớm sẽ tử vong
khuẩn nhóm B từ mẹ mang mầm bệnh trong thai kỳ đã dẫn đến nhiễm trùng sơ sinh nguy
* Bệnh viện Từ Dũ ** Bộ môn Sản, Đại học Y Dược Tp HCM
Trang 2hiểm này ngay sau sinh Những người lành
mang mầm bệnh này lại thường gặp chiếm
10-35%, đặc biệt ở âm đạo và trực tràng Schrag và
cộng sự (2002, 2003) đã báo cáo tỷ lệ mang mầm
bệnh này là 20-30% trên thai phụ có tuổi thai
khác cũng ghi nhận tỷ lệ 10-30% trên thai
phụ(13,3)
Do tác hại có thể dẫn đến tử vong của nhiễm
liên cầu khuẩn nhóm B ở trẻ sơ sinh nên từ
những thập niên 80 nhiều tác giả đã cố gắng tìm
cách phòng ngừa lây nhiễm liên cầu khuẩn
nhóm B từ mẹ sang con Và chiến lược tầm soát
liên cầu khuẩn nhóm B ở mẹ, phòng ngừa nhiễm
liên cầu khuẩn nhóm B cho con đã được khuyến
cáo bởi Đại học Sản Phụ Khoa Mỹ (the American
College of Obstetricians and Gynecologists –
ACOG – 2002a) và Trung tâm kiểm soát bệnh
của Mỹ (the Centers for Disease Control and
Prevention – CDC – 2002d) nhằm tìm ra những
thai phụ cần được điều trị phòng ngừa trong
thai kỳ Tại Việt Nam vấn đề này còn chưa được
quan tâm đúng mức Do đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu “ Tỷ lệ thai phụ nhiễm liên cầu khuẩn
nhóm B tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 6/2006 đến
tháng 6/2007” nhằm xác định tỷ lệ thai phụ
nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B và khảo sát một
số yếu tố liên quan tại bệnh viện Từ Dũ
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu ước tính n
= 376 (được tính theo tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn
nhóm B trên thai phụ của một nghiên cứu năm
tháng 6/2006 đến tháng 6/2007 những thai phụ
đến khám thai và sanh tại Bệnh viện Từ Dũ hội
đủ các tiêu chuẩn (1) tuổi thai từ 35-37 tuần, (2)
không đặt thuốc âm đạo trong vòng 48 giờ trước
khi khám, (3) đồng ý thực hiện đúng quy trình
nghiên cứu và (4) đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ
được chọn vào mẫu nghiên cứu
Tất cả thai phụ trong mẫu nghiên cứu sẽ
được khám thai theo quy trình khám thai bình
thường Tiến trình lấy mẫu bệnh phẩm được
tiến hành như sau: thai phụ nằm trên bàn
khám trong tư thế sản phụ khoa, bộc lộ phần hội âm; dùng một que tampon phết bệnh phẩm
ở 1/3 dưới âm đạo qua lỗ âm đạo 2cm, xoay tampon 1 hoặc 2 vòng quanh trục; sử dụng chính tampon vừa lấy bệnh phẩm ở âm đạo để phết bệnh phẩm ở trực tràng bằng cách đưa nhẹ nhàng vào lỗ hậu môn xoay 1-2 vòng rồi lấy tampon ra Đặt tampon vào ống nghiệm chứa 4ml môi trường tăng sinh vi khuẩn (dung dịch BHI – Brain Heart Infusion), dán nhãn trên ống chứa bệnh phẩm ghi rõ tên họ và ngày lấy mẫu Bệnh phẩm được chuyển về phòng xét nghiệm vi trùng học Bệnh viện Từ Dũ trong ngày Kết quả cấy và kháng sinh đồ sẽ có trong vòng 72 giờ Quy trình phân lập và định danh liên cầu khuẩn nhóm B tại khoa vi sinh Bệnh viện Từ Dũ lần lượt qua các bước:
- Ủ các ống môi trường tăng sinh vi khuẩn có
- Phân lập vi khuẩn bằng kỹ thuật cấy 3 chiều trên môi trường thạch máu
- Thạch máu được ủ tiếp 18-24 giờ ở nhiệt độ
liên cầu khuẩn nhóm B (các khúm có vòng tiêu huyết hoàn toàn) Các khúm nghi ngờ được cấy lên môi trường thạch máu một lần nữa để tăng
trong bình nến
- Phân lập, định danh liên cầu khuẩn nhóm
B với bộ Kit PASTOREX STREP (hãng BIO – RAD) hoặc dùng trắc nghiệm CAMP – Test
- Kháng sinh đồ trên thạch máu
Các biến số trong nghiên cứu: tuổi, nơi cư trú, nghề nghiệp, tiền thai, trình độ văn hoá, tiền căn sản khoa đặc biệt tiền căn sinh con bị nhiễm trùng sơ sinh sớm, tuổi thai Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 10.0 for Windows Nghiên cứu được tiến hành sau khi giải thích rõ mục đích nghiên cứu và được sự đồng ý tự nguyện của thai phụ; các thông tin nghiên cứu được giữ bí mật
Trang 3KẾT QUẢ
Qua nghiên cứu 376 thai phụ có tuổi thai
35-37 tuần đến khám thai và sanh tại Bệnh viện Từ
Dũ từ tháng 6/2006 đến 6/2007 chúng tôi có các
kết quả sau:
Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở âm
đạo-trực tràng của các thai phụ tại bệnh
viện Từ Dũ
Có 68 trường hợp có kết quả cấy liên cầu
khuẩn nhóm B dương tính
Do đó p = 68/376 = 18,1%
Đặc điểm mẫu nghiên cứu (bảng 1)
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
GBS (+) GBS (-)
Đặ c đ i ể m
T ầ n s ố T ỷ l ệ T ầ n s ố T ỷ l ệ
Tu ổ i
N ơ i c ư
trú
Trình độ
h c v ấ n
Ngh ề
nghi ệ p
S ố l ầ n
sanh đủ
tháng
S ố l ầ n
sanh non
Tuổi thai (bảng 2)
Bảng 2: Phân bố tuổi thai trong nhóm có kết quả cấy
(+)
Tu ổ i thai (tu ầ n) T n su ấ T l ệ
Tu ổ i thai (tu ầ n) T n su ấ T l ệ
Nhận xét: 85,3% thai phụ có kết quả cấy (+)
có tuổi thai từ 35-36 tuần
BÀN LUẬN
Liên cầu khuẩn nhóm B là một vi trùng thường gặp trong dân số chung có thể không bao giờ có triệu chứng bệnh trên một cá nhân nào đó có mang mầm bệnh (người lành mang trùng) Tuy nhiên vi trùng này lại có khả năng gây bệnh lý nguy hiểm cho phụ nữ và trẻ sơ sinh trong thai kỳ đưa đến sảy thai tự nhiên, thai lưu, sanh non, nhiễm trùng như nhiễm trùng ối, viêm nội mạc tử cung Các nhà vi trùng học đưa
ra giả thuyết rằng liên cầu khuẩn nhóm B đã được Pasteur phát hiện vào thế kỷ 19 trong một
những năm 1970 một đợt dịch về bệnh lý gây ra
do liên cầu khuẩn nhóm B trên thai phụ và trẻ sơ sinh khiến cho nhiễm trùng do vi trùng này lúc bấy giờ trở thành một vấn đề lớn trong sức khoẻ cộng đồng Liên cầu khuẩn nhóm B có thể gây ra nhiễm trùng sơ sinh sớm (trong vòng 7 ngày đầu sau sanh) và đây là nguyên nhân hàng đầu của nhiễm trùng sơ sinh và cũng là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất góp phần vào bệnh suất và tử suất trẻ sơ sinh do nhiễm
soát và phòng bệnh của Mỹ (CDC), Đại học Sản phụ khoa của Mỹ (ACOG), Hàn lâm Mỹ về Nhi khoa (AAP) đã xây dựng hướng dẫn chuẩn về
dự phòng và điều trị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B trẻ sơ sinh Vào 1996 ACOG và CDC đã đưa ra hướng dẫn chuẩn về dự phòng bệnh lý
Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở người trưởng thành khoẻ mạnh thay đổi từ 10% đến
của liên cầu khuẩn nhóm B nhưng âm đạo cũng
là một nguồn thường gặp có vi trùng này Có thể phân lập được liên cầu khuẩn nhóm B ở âm đạo
và trực tràng của phụ nữ là người lành mang
trên thai phụ thay đổi từ 5% đến 30%; điều này
Trang 4do sự khác biệt về dân số nghiên cứu, địa điểm
cư trú, kỹ thuật lâm sàng và sinh học trong nuôi
tại các nước đang phát triển là 17,8%, ở Châu Á –
tôi là 18,1% phù hợp với nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Khoa Nam cũng thực hiện tại bệnh viên
Từ Dũ vào năm 2006 là 17% Tỷ lệ này khác với
tác giả Aya Goto thực hiện tại 10 huyện thuộc
tỉnh Nghệ An năm 2003 là 4,4% và tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Khanh nghiên cứu tại Hà Nội
vào năm 2000 là 4,5% Chúng tôi chưa lý giải
được sự khác biệt của tỷ lệ nhiễm trùng này ở ba
vùng địa dư khác nhau Cần có một nghiên cứu
dịch tể cộng đồng với cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều
địa phương về nhiễm trùng này
Phân lập liên cầu khuẩn nhóm B nhờ kỹ
thuật cấy vi trùng này từ bệnh phẩm của âm đạo
– trực tràng là phương tiện tầm soát hữu hiệu
nhất Mẫu bệnh phẩm từ âm đạo-trực tràng
nhạy hơn so với mẫu phân lập từ cổ tử cung Do
đó không cần phải đặt mỏ vịt để lấy bệnh phẩm
Có thể lấy hai mẫu bệnh phẩm biệt lập, một từ
phần ngoài âm đạo và một từ hậu môn trực
tràng; hoặc một mẫu bệnh phẩm duy nhất với
tampon lấy bệnh phẩm ở âm đạo trước và sau
đó ở hậu môn-trực tràng Bệnh phẩm phải được
cho vào môi trường chuyên chở thích hợp nơi
mà liên cầu khuẩn nhóm B có thể sống được cho
đến 96 giờ Điều này rất quan trọng nếu như
mẫu bệnh phẩm được mang đến từ một nơi
khác Kết quả cấy thường có trong vòng 48-72
của chúng tôi về chuyên chở bệnh phẩm vì mẫu
bệnh phẩm được lấy trên thai phụ đến khám
thai tại Bệnh viện Từ Dũ và được chuyển đến
phòng thí nghiệm của Bệnh viện Từ Dũ cùng
trong ngày Lấy bệnh phẩm từ hậu môn trực
tràng cũng gây khó chịu cho bệnh nhân và nên
chăng chỉ phân lập từ âm đạo mà thôi? Nghiên
trùng từ hai vị trí lấy bệnh phẩm riêng biệt (âm
đạo và trực tràng) cho kết quả cấy dương tính
trong 24,3% trường hợp; trong đó 18,5% có kết
quả cấy âm đạo âm tính nhưng dương tính ở mẫu cấy trực tràng Như vậy có đến 1/5 bệnh nhân sẽ không được điều trị kháng sinh dự phòng nếu chỉ dựa vào cấy âm đạo đơn thuần Tuổi của thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi có đến 75% trường hợp từ 26 đến 35 tuổi, tuổi sinh đẻ 4% trường hợp thai phụ < 25 tuổi có kết quả cấy dương tính so với 14,1% trường hợp cấy dương tính có tuổi > 25 Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của tác
tính ở hai nhóm thai phụ > 24 và < 24 tuổi là 36,6% & 26,9% 6,4% thai phụ có kết quả cấy (+)
có địa chỉ cư trú nội thành thành phố Hồ Chí Minh so với 12% trường hợp cấy (+) ở ngoại thành và các tỉnh khác Về nơi cư trú có thể bệnh nhân đến khám và nhập viện khai địa chỉ theo
hộ khẩu nhưng nơi thật sự mà bệnh nhân sinh sống có thể khác; do đó có thể có khác biệt nhiều mặt về đời sống kinh tế xã hội Nghiên cứu của Stapleton và cộng sự ghi nhận một trong các yếu
tố nguy cơ trên thai phụ có kết quả cấy liên cầu khuẩn nhóm B (+) là thu nhập từ trung bình trở lên là yếu tố bảo vệ khỏi nhiễm vi trùng này 57,35% trường hợp cấy (+) là con so; 83,5% có tuổi thai từ 35-36 tuần nằm trong tuổi thai được khuyến cáo tầm soát nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B Do mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ nên một số các yếu tố liên quan không thể ghi nhận được
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B trên thai phụ có tuổi thai từ 35-37 tuần tại bệnh viện Từ Dũ là 18,1% qua kỹ thuật cấy bệnh phẩm từ âm đạo và trực tràng Vì liên cầu khuẩn nhóm B có thể gây
ra nhiều biến chứng nguy hiểm trên mẹ và thai nên cần có chiến lược tầm soát trong chương trình khám và quản lý thai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 American College of Obstetrics and Gynecologists, (1996), Prevention of early-onset group B streptococcal disease in the newborns, Committee Opinion (73) 1-8
Trang 52 Anthony BF, Eisenstadt R, Carter J, Kim KS, Hobel CJ, (1981),
Genital and instestinal carriage of group B streptococci during
pregnancy, J Infect.Dis 143: 761-6
3 Aya G và cs, (2003), Tình hình viêm nhiễm đường sinh dục
dưới ở các thai phụ và các yếu tố liên quan trên 10 cộng đồng
tỉnh nghệ An
4 Baker CJ, Edwards MS, (1995), Group B Streptococcal
infecton, In Infectious Diseases of the fetus and newborn
infant, 4 th ed, edited by Remington and Klein JO,
Philadelphia, Saunders, pp 980-1054
5 Centers for Disease Control and Prevention, (1996),
Prevention of perinatal group B streptococcal disease: a public
health perspective, MMWR Morb.Mortal.wkly.Rep 45 (RR-7):
1-24
6 Haffejee IE, Bhana RH,Coovadia YM, Hoosen AA, Maraj AV,
(1991), Neonatal group B streptococcal infections in Indian
(Asian) babies in South Africa, J Hosp.Infect 22: 225-31
7 McCracken G, (1973), Group B Streptococci: the new
challenge in neonatal infections, J Pediatr 82: 703
8 Mitchell, Anta, Steffenson N, Hogan H, Brooks S, (1997),
Group B Streptococcus and pregnancy: update and
recommendation, MCN Vol 22 (5), pp 242-248
9 Nguyễn Khoa Nam, (2006), Tỷ lệ nhiễm Streptococcus nhóm
B âm đạo – trực tràng của các thai phụ và các yếu tố liên quan,
Luận văn Tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú- chuyên ngành Sản phụ
khoa, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
10 Nguyễn Thị Ngọc Khanh, (2001), Nhiễm khuẩn đường sinh
dục ở phụ nữ có thai ở Hà Nội, Tạp chí Y Học Thực hành, số
42, tr 67-70
11 Orrett FA, (2003), Colonization with Group B streptococci in
pregnancy and outcome of infected neonates in Trinidad,
Peditr Intern 45, 319-323
12 Quinian JD, Ashley HD, Maxwell BD, et al, (2000), The
necessity of both anorectal and vaginal cultures for group B
Streptococcus screening during pregnancy, The Journal of
Family Practice, Vol 49(5): 447-448
13 Renner MR, Renner A, Schmid S, Hoesil I, Nars P, Holzgreve
W, Surbek DV, (2006), Efficacy of a strategy to prevent
neonatal early-onset group B streptococcal (GBS)sepsis,
J.Perinat.Med 34: 32-38
14 Schuchat A, Wenger JD, (1994), Epidemiology of group B
streptococcal disease: risk factors, prevention strategies and
vaccine development, Epidemiuol Rev 16: 374-402
15 Schrag S, Gorwitz R, Fultz-Butts K, (2002), Prevention of
streptococcal disease Revised guidelines from CDC
Morbidity&Mortality Weekly Report Recommendations &
Report 51: 1