Bảo hiểm y tế toàn dân là giải pháp hữu hiệu thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế. Kinh nghiệm thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân ở các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, cũng như ở các địa phương cho thấy, luật pháp bắt buộc thực hiện BHYT toàn dân; thời gian hoàn thành BHYT toàn dân có khác nhau. Ở Việt Nam, chính sách BHYT đã triển khai hơn 20 năm, và gần 4 năm thực hiện Luật BHYT đã có những chuyển biến tích cực.
Trang 1VIỆT NAM HƯỚNG TỚI BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN
Đỗ Quang Quý 1* , Trần A Hùng 2
1 Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh – ĐH Thái Nguyên,
2 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
TÓM TẮT
Bảo hiểm y tế toàn dân là giải pháp hữu hiệu thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế Kinh nghiệm
thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân ở các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, cũng
như ở các địa phương cho thấy, luật pháp bắt buộc thực hiện BHYT toàn dân; thời gian hoàn
thành BHYT toàn dân có khác nhau Ở Việt Nam, chính sách BHYT đã triển khai hơn 20 năm, và
gần 4 năm thực hiện Luật BHYT đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, chính sách BHYT
còn một số tồn tại: Số người tham gia chưa nhiều; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi
và mức đóng BHYT… Để BHYT toàn dân đúng nghĩa, đúng lộ trình, theo chúng tôi cần giải
quyết tốt mối quan hệ của 3 đối tượng: đối tượng quản lý quỹ, đối tượng cung cấp dịch vụ y tế, và
đối tượng tham gia
Từ khóa: Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm y tế toàn dân; chính sách Bảo hiểm y tế; Luật Bảo hiểm y tế;
kinh nghiệm Bảo hiểm y tế
BẢO HIỂM Y TẾ*
Khái niệm Bảo hiểm y tế (BHYT), có nhiều
quan điểm Tuy nhiên, theo Từ điển bách
khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995, trang
151 thì "BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước
tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp
của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để
chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh
cho nhân dân" [7] Cũng như hầu hết các quốc
gia trên thế giới, BHYT là một nội dung thuộc
an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi
nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người
tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật
Theo Luật BHYT do Quốc hội ban hành ngày
14/11/2008, BHYT là hình thức bảo hiểm
được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà
nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có
trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật
[1] Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một
khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá
nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do
Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi
thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản
tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không
may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó,
mà không phải trực tiếp trả chi phí khám
*Tel: 0912 290326
chữa bệnh Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT
BHYT là một trong những chính sách an sinh
xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính vững chắc giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân Thực hiện BHYT sẽ tạo mọi điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe Đây là quan điểm nhất quán của Nhà nước ta hướng tới thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn dân
BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN Bảo hiểm y tế toàn dân, là chương trình bảo hiểm nhằm đảm bảo cho tất cả mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản (tăng cường sức khỏe, dự phòng, điều trị và phục hồi chức năng với chi phí hợp lý) Nói cách khác, BHYT toàn dân là mọi người dân đều được quyền tham gia và được bảo vệ bởi
hệ thống BHYT BHYT toàn dân có nghĩa là tất cả mọi người có thể tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng mà không cần phải lo sợ tới gánh nặng từ tài chính mang lại
Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vấn đề BHYT toàn dân phải được tiếp cận đầy đủ trên cả ba vấn đề về chăm sóc sức khỏe toàn dân: Bao phủ về dân số, tức là
tỷ lệ dân số tham gia BHYT; Bao phủ gói quyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y
Trang 2tế được đảm bảo; Bao phủ về chi phí hay mức
độ được bảo hiểm để giảm mức chi trả từ tiền
túi của người bệnh
Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế điều kiện kinh
tế - xã hội của Việt Nam hiện nay, vấn đề
thực hiện BHYT toàn dân hướng tới việc gia
tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT được xác
định là mục tiêu ưu tiên hàng đầu
KINH NGHIỆM THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y
TẾ TOÀN DÂN
Ở một số nước
Hàn Quốc, vào những năm 50 thế kỷ trước,
ngay sau khi hết chiến tranh, mặc dù ở thời
điểm cực kỳ khó khăn song Chính phủ Hàn
Quốc xác định càng khó khăn càng sớm phải
thực hiện BHYT toàn dân để mọi người có
thể chia sẻ cho nhau lúc khó khăn ốm đau,
bệnh tật Hàn Quốc đã kiên trì thực hiện lộ
trình 12 năm để đạt được BHYT toàn dân
Chính sách BHYT toàn dân của Hàn Quốc đã
phát huy tác dụng tích cực góp phần ổn định
an sinh xã hội Hiện nay, Hàn Quốc đã thành
công trong việc bao phủ BHYT toàn dân gần
100% dân số [8]
Singapore, tài chính cho y tế triệt để áp dụng
nguyên tắc phát huy trách nhiệm cá nhân,
Nhà nước đảm bảo các dịch vụ y tế thiết yếu,
cá nhân đóng góp chi phí dịch vụ y tế cao
Singapore áp dụng chương trình tiết kiệm y tế
bắt buộc (Medisave) từ năm 1984, nhằm giúp
cá nhân tiết kiệm tiền cho chi phí y tế Theo
Medisave, mỗi người lao động phải nộp vào
tài khoản y tế cá nhân 6 – 8% lương và được
sử dụng nguồn tiền này cho bản thân và người
thân khi khám chữa bệnh Mỗi người được tự
do lựa chọn người cung ứng dịch vụ và tự trả
chi phí khám chữa bệnh cho bệnh viện từ tài
khoản y tế cá nhân của mình Tuy nhiên, tài
khoản y tế cá nhân không thể đủ trang trải chi
phí y tế lớn do không có sự san sẻ rủi ro theo
nguyên lý bảo hiểm Do đó 1990, Chính phủ
Singapore triển khai chương trình BHYT
mang tên Medishield Đây là chương trình
BHYT bán tự nguyện Tiền đóng BHYT lấy
từ tài khoản y tế cá nhân được trích chuyển tự
động bởi Chính phủ, trừ trường hợp cá nhân
tự làm đơn đề nghị không tham gia Người
tham gia bảo hiểm nộp 20% cùng chi trả và
phải nộp thêm một khoản tiền đương nhiên mỗi khi đi khám bệnh Để tránh lạm dụng quỹ, pháp luật BHYT Singapore quy định khoản tiền phải nộp này khá cao Mức đóng của khoản tiền này được điều chỉnh để mỗi năm có không quá 10% tổng số lượt điều trị nội trú xin thanh toán từ quỹ này và khống chế thêm bởi trần thanh toán chi phí nội trú là không quá 120 đô la Singapore/ngày điều trị Như vậy, chương trình BHYT bán tự nguyện Medishield là sự bổ sung không thể thiếu cho chương trình tiết kiệm y tế Medisave [4]
Nhật Bản là quốc gia châu Á đầu tiên ban
hành Luật BHYT từ năm 1922 Tiếp đó, năm
1938 Nhật Bản ban hành Luật BHYT quốc gia, năm 1939 ban hành Luật BHYT cho người lao động, Luật BHYT cho ngư dân và đến năm 1961, Nhật Bản thực hiện BHYT cho toàn dân [5] Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật Nhật Bản bao gồm: những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Tuy nhiên, pháp luật BHYT còn có những quy định phù hợp dành riêng cho từng đối tượng: BHYT cho người lao động được thực hiện theo nơi làm việc; BHYT quốc gia được thực hiện theo vị trí địa lý Nguồn quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và tài trợ của Nhà nước Trách nhiệm đóng BHYT được thực hiện theo nguyên tắc mức phí đóng BHYT được chia đều, người lao động đóng 50%, chủ sử dụng lao động đóng 50% Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng hai loại quỹ cho các đối tượng để có sự hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế Quỹ BHYT quốc gia áp dụng cho lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Nhà nước bảo trợ nhiều hơn cho loại quỹ này, vì đối tượng của quỹ thường có thu nhập thấp và không ổn định Quỹ BHYT của người làm công ăn lương, đây là đối tượng có thu nhập thường xuyên và ổn định Luật BHYT Nhật Bản quy định bệnh nhân BHYT phải thực hiện trách nhiệm cùng chi trả Quy định này nhằm tăng thêm chi phí cho quỹ BHYT, đồng thời hạn chế sự lạm dụng quỹ từ phía người thụ hưởng Mức cùng chi trả phụ thuộc vào đối tượng hoặc nhóm đối tượng Cụ thể: người
Trang 3lao động tự do trả 30%, công chức trả 20%,
người lao động hưởng lương trả 10% chi phí
khám chữa bệnh
Thái Lan, từ năm 1975 đến năm 2001, Chính
phủ đã thực hiện BHYT cho nhóm người
nghèo và nhóm người bị thiệt thòi Đến năm
1981, Chính phủ triển khai chương trình cấp
thẻ cho người có thu nhập thấp (LIC) đến
những người có thu nhập hàng tháng dưới
1.000 baht/tháng Năm 1983, chương trình
LIC mở rộng đến những người già trên 60
tuổi Vào năm 1993, LIC được mở rộng đến
trẻ em dưới 12 tuổi và các lãnh đạo tôn giáo
Với việc ngày càng mở rộng đối tượng, đến
tháng 4 năm 2002 Thái Lan đã thực hiện
thành công BHYT toàn dân
Ở một số địa phương
Thành phố Hà Nội, trong hai ngày 3/3 và
4/3/2014, đoàn Đại biểu Quốc hội tổ chức
Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bảo hiểm y tế Đại diện các sở ban ngành,
quận huyện và các bệnh viện tại Hà Nội tham
gia góp ý vào dự thảo luật Tại hội nghị, đa số
ý kiến cho rằng, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung
Luật Bảo hiểm y tế cho phù hợp với tình hình
thực tế hiện nay; đề nghị nên quy định Bảo
hiểm Y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10/3/2014 Ủy
ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội phối
hợp với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại
Việt Nam đã tổ chức hội thảo “Đại biểu dân
cử với chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế.”
Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng, việc thực
hiện bảo hiểm y tế toàn dân là rất cần thiết,
phù hợp với tình hình chung và cần quy định
là hình thức bắt buộc
Kinh nghiệm các nước, cũng như ở một số địa
phương cho thấy hầu hết luật pháp bắt buộc
thực hiện BHYT toàn dân; đối tượng được
mở rộng dần Vì thế, thời gian hoàn thành
BHYT toàn dân có khác nhau
THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN
Ở VIỆT NAM
Về Chính sách, pháp luật
Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt
đầu thực hiện từ ngày 15/8/1992, Chính phủ
ban hành Điều lệ BHYT kèm theo Nghị định 299/HĐBT Từ khi ra đời Điều lệ BHYT đầu tiên, nhiều nghị định và các thông tư hướng dẫn mới đã được ban hành nhằm điều chỉnh, sửa đổi chính sách BHYT, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc phát triển BHYT Các văn bản sửa đổi, bổ sung trên đã làm cho chính sách BHYT ngày càng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của đất nước BHYT toàn dân là một nội dung quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006) và lần thứ XI (2011) của Đảng đều nhất quán chủ trương “Tiến tới BHYT toàn dân” và định hướng phải có lộ trình thực hiện phù hợp, hiệu quả
Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng,
lộ trình thực hiện BHYT toàn dân đã được
quy định trong Luật BHYT số 25/2008/QH12
do Quốc hội ban hành ngày 14/11/2008 Mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đạt 80% dân số tham gia BHYT đã được xác định bởi Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/6/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 và Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường lãnh đạo công tác BHXH Đề án thực hiện lộ trình BHYT toàn dân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 29/03/2013 với một lộ trình cụ thể, đó là:
“Tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT, tiếp tục duy trì các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT đạt 100%, mở rộng các nhóm đối tượng để đến năm 2015 trên 70% dân số tham gia BHYT, đến năm 2020 trên 80% dân số
tham gia BHYT” Mục tiêu của Đề án là mở
rộng phạm vi bao phủ của BHYT tiến tới BHYT toàn dân nhằm chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững Ngày 8/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 705/QĐ-TTg về việc nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho một số đối tượng thuộc hộ gia đình cận nghèo, bao gồm các ưu đãi về BHYT cho hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo thuộc vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn
Trang 4Những kết quả đạt được
Về đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong những năm
qua, số người tham gia BHYT gia tăng nhanh
chóng Từ khi Luật BHYT năm 2008 ra đời
đã mở rộng các đối tượng tham gia lên 25 đối
tượng, bao trùm hầu hết các tầng lớp nhân
dân Và số người tham gia BHYT cũng gia
tăng (Bảng 1)
Kết quả cho thấy tỷ lệ dân số tham gia BHYT
tăng từ 60,27% (năm 2010), lên 64,65% (năm
2012), nhóm có tỷ lệ tham gia đạt 100% là
nhóm công chức viên chức hành chính sự
nghiệp, người hưu trí, người có công với cách
mạng Nhóm có tỷ lệ tham gia cao gồm người
nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi Nhóm có tỷ lệ
tham gia trung bình là học sinh sinh viên, đạt
83% Nhóm có tỷ lệ tham gia thấp bao gồm:
Doanh nghiệp (53%), cận nghèo (32%), tự
nguyện (47%) [3]
Về tiếp cận dịch vụ y tế và quản lý quỹ
Trong những năm gần đây, số lượt người có
thẻ BHYT đi khám chữa bệnh tăng nhanh cả
về số lượng và tần suất tại tất cả các tuyến y
tế Năm 2012, ước tính có 121 triệu lượt
người có thẻ BHYT đi khám chữa bệnh, tăng
gần 2,6 triệu lượt so với năm 2011 Tần suất
khám chữa bệnh tăng hàng năm, đặc biệt
là ở tuyến y tế cơ sở, đạt 2,1
lần/người/năm Tham gia BHYT, mỗi người dân đã được hưởng những quyền lợi tiếp cận dịch vụ y tế từ nội trú, ngoại trú, phục hồi chức năng, dự phòng, dịch vụ kỹ thuật cao Nguồn thu từ BHYT đã đóng góp
khoảng 80% tổng kinh phí phục vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện, góp phần nâng chất lượng khám chữa bệnh cho người dân Phần đóng góp của người dân chiếm khoảng 58% trong tổng thu BHYT Tỷ lệ cùng chi trả
là 0% đối với đối tượng người có công với cách mạng và trẻ em dưới 6 tuổi; 5% đối với đối tượng người nghèo, người hưu trí, bảo trợ
xã hội; 20% đối với các đối tượng còn lại Từ năm 2010 đến nay, quỹ BHYT kết dư trên 10 ngàn tỷ đồng (Bảng 2)
BHYT Việt Nam sau hơn 20 năm, và gần 4 năm thực hiện Luật BHYT, đã khẳng định:
- Tính đúng đắn và phù hợp trong lựa chọn chính sách tài chính y tế thông qua BHYT Số người tham gia BHYT tăng hàng năm và đã
mở rộng các đối tượng tham gia BHYT Cùng với chính sách bảo hiểm xã hội, BHYT đã góp phần hình thành và phát triển mạng lưới
an sinh xã hội ở nước ta
- Nguồn kinh phí từ BHYT đã góp phần quan trọng, ổn định trong việc bảo đảm ngân sách hoạt động của các bệnh viện và từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở y tế
Bảng 1: Số lượng người tham gia Bảo hiểm y tế giai đoạn 2010 – 2012
11/10 12/11 Bq
Dân số (nghìn người) 86950 87840 91519 101,02 104,19 102,59
Số người tham gia BHYT (nghìn người) 52407 57982 59164 110,64 102,04 106,25
Nguồn: [2]Báo cáo kết quả giám sát của UBTVQH về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y
tế giai đoạn 2009 – 2012, ngày 9/tháng 9/2013.
Bảng 2: Thu, chi Bảo hiểm y tế giai đoạn 2010 – 2012
11/10 12/11 Bq
Thu BHYT (tỷ đồng) 25581 29981 40237 117,20 134,21 125,42 Chi BHYT (tỷ đồng) 19686 25564 35584 129,86 139,20 134,45
Nguồn: [2]-Báo cáo kết quả giám sát của UBTVQH về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y
tế giai đoạn 2009 – 2012, ngày 9/tháng 9/2013
Trang 5- Với việc mở rộng cơ sở khám chữa bệnh
BHYT, cả công và tư, BHYT đã tạo thuận lợi
cho người bệnh trong việc lựa chọn cơ sở
khám chữa bệnh Việc mở rộng khám bệnh,
chữa bệnh BHYT tại tuyến xã đã góp phần
củng cố và phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất
lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu và khám
chữa bệnh thông thường tại tuyến y tế cơ sở
- Chính sách BHYT đã góp phần vào thực
hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và công
bằng xã hội, góp phần làm thay đổi nhận thức
của người dân trong việc lựa chọn các giải pháp
tài chính để chăm lo sức khỏe của bản thân
Những bất cập thực hiện BHYT
Về tỷ lệ tham gia BHYT
Hiện vẫn còn hơn 30% dân số chưa tham gia
BHYT, trong đó có cả những người thuộc đối
tượng có trách nhiệm phải tham gia BHYT
theo quy định của pháp luật, người thuộc đối
tượng được Nhà nước hỗ trợ mức đóng
BHYT Vẫn còn 18 tỉnh có tỷ lệ tham gia
BHYT dưới 60%, 4 tỉnh có tỷ lệ tham gia
BHYT dưới 50% [6] Dù đã được Nhà nước,
các tổ chức quốc tế hỗ trợ từ 70 - 90% kinh
phí mua thẻ BHYT nhưng hiện mới có gần
1,7 triệu người/khoảng 6 triệu người cận
nghèo tham gia BHYT Nhóm học sinh - sinh
viên bắt buộc phải tham gia BHYT theo luật
định nhưng tỉ lệ tham gia mới đạt 70% Nhóm
đối tượng thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có tới
20 triệu người cũng có tỷ lệ tham gia BHYT ở
mức thấp
Nguyên nhân được nhận định là từ chính sách
pháp luật đến cách thức tổ chức thực hiện
như: Thiếu những quy định chặt chẽ, rõ ràng
và đủ mạnh trong Luật BHYT và các văn bản
dưới Luật; việc tuân thủ pháp luật về BHYT
và phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành
trong tổ chức thực hiện Luật BHYT còn hạn
chế; công tác truyền thông, tuyên truyền chưa
đáp ứng yêu cầu; khả năng đáp ứng, tiếp cận
dịch vụ y tế và chất lượng khám chữa bệnh
chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chăm
sóc sức khỏe của nhân dân; sự phối hợp giữa
các cơ quan chức năng của địa phương còn
thiếu chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện
chính sách BHYT Nhiều ý kiến cho rằng, việc tham gia BHYT ở nước ta đang theo tâm
lý ngược chiều: chỉ khi ốm hoặc sắp ốm, người dân mới thấy xuất hiện nhu cầu mua thẻ BHYT Mua BHYT chỉ có lợi khi người bệnh mắc bệnh nặng, nan y, chi phí điều trị cao Còn nếu cần khám chữa bệnh mang tính chất kiểm tra sức khỏe hoặc bệnh thông thường thì người bệnh sẵn sàng chi trả bằng tiền túi để tránh phải chờ đợi
Về chất lượng khám chữa bệnh
Chất lượng khám chữa bệnh BHYT ở tuyến dưới chưa đáp ứng yêu cầu do hạn chế về nhân lực chuyên môn và kỹ thuật y tế, gây quá tải trong khám chữa bệnh BHYT ở các bệnh viện tuyến trên; tinh thần thái độ và y đức của cán bộ y tế chưa được cải thiện ở nhiều nơi, tạo tâm lý lo ngại đối với người tham gia BHYT Vẫn còn tồn tại tình trạng chênh lệch giá thuốc cùng loại giữa các bệnh viện trong tỉnh, giữa các tỉnh, giữa bệnh viện với thị trường, tình trạng không công bằng về chi trả quỹ BHYT cho mỗi ca bệnh ở các bệnh viện cùng hạng; tình trạng chênh lệch quá nhiều về tần suất khám chữa bệnh, có nơi người có thẻ BHYT bình quân sử dụng 3 - 4 lần đi khám chữa bệnh/năm, song có nơi chưa đến 1 lần/năm Công tác quản lý cũng như áp dụng công nghệ thông tin nhằm cải tiến thủ tục cho người bệnh còn hạn chế Tình trạng sai thông tin trên thẻ, cấp chậm, trùng thẻ BHYT ở nhiều tỉnh với số lượng khá lớn gây khó khăn cho người có thẻ cũng như lãng phí ngân sách; thủ tục khám chữa bệnh, thanh toán BHYT rườm rà, chậm cải tiến…
Thực tế cho thấy, việc cung ứng và chất lượng dịch vụ còn hạn chế, nhất là ở tuyến cơ
sở Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và cán
bộ chuyên môn chưa đáp ứng Tình trạng quá tải còn khá phổ biến, nhất là ở các cơ sở tuyến tỉnh, tuyến Trung ương và tình trạng chuyển tuyến khó kiểm soát Chất lượng khám, chữa bệnh BHYT, thủ tục hành chính, phân tuyến
kỹ thuật chưa phù hợp
Tóm lại, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình thực hiện chính sách BHYT còn một
số tồn tại, bất cập sau:
Trang 6- Đối tượng tham gia BHYT đã mở rộng
nhưng số người tham gia chưa nhiều, mức độ
bao phủ BHYT trong dân số chưa cao, đối
tượng tham gia BHYT hiện tại chủ yếu là
diện bắt buộc Chưa giải quyết được một số
vấn đề, nhất là trong việc bắt buộc sự tham
gia đầy đủ của các nhóm đối tượng hay của
các chủ sử dụng lao động
- Một số quy định về quyền lợi của người
tham gia BHYT chưa rõ ràng Nổi cộm hiện
nay là những vấn đề liên quan đến phạm vi
quyền lợi của người tham gia BHYT; quy
trình thủ tục trong khám chữa bệnh; chuyển
tuyến, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa
bệnh bằng BHYT…
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền
lợi và mức đóng BHYT khi mở rộng phạm vi
bao phủ và quyền lợi, nhất là với các nhóm
được ngân sách nhà nước hỗ trợ và nhóm
tham gia BHYT tự nguyện, ảnh hưởng đến sự
an toàn của quỹ BHYT
- Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách,
pháp luật BHYT chưa mạnh, chưa đồng bộ,
thiếu tính hấp dẫn; sự phối hợp, hợp tác giữa
BHXH với cơ sở khám chữa bệnh còn hạn
chế, thiếu sự hợp tác vì mục tiêu chung là
công bằng, hiệu quả, cải thiện chất lượng điều trị và thoả mãn sự hài lòng của người bệnh BHYT
Tóm lại, nghiên cứu kinh nghiệm BHYT toàn dân của các nước, cũng như thực tế ở Việt Nam cho thấy để BHYT toàn dân đúng nghĩa, đúng lộ trình, theo chúng tôi cần giải quyết tốt mối quan hệ của 3 đối tượng chính: đối tượng quản lý quỹ, đối tượng cung cấp dịch vụ y tế,
và đối tượng tham gia BHYT./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008
2 Báo cáo kết quả giám sát của UBTVQH về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế
(BHYT) giai đoạn 2009 – 2012, ngày 9/tháng 9/2013
3 Phan Văn Toàn, Lộ trình/Chiến lược tiến tới
BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020,
Tài liệu Hội thảo tập huấn "Tìm hiểu các chiến lược tăng cường tiếp cận thuốc cứu mạng" do Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phát triển cộng đồng (SCDI) tổ chức ngày 27 - 28/8/2013
4 Tạp chí bảo hiểm xã hội số 8 năm 2007
5 Tetsuo Fukawa (2002), Public Health Insuarance in Japan, World Bank Institute,
Washington, D.C
6 Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995
7 www.baohiemxahoi.gov.vn
SUMMARY
VIETNAM TOWARDS GLOBAL POPULATION HEALTH INSURANCE
Do Quang Quy 1* , Tran A Hung 2
1 College of Economics and Business Administration - TNU,
2 Land development center in Van Don district, Quang Ninh province
The universal health insurance is an effective solution to implement the socialization of health
care Experience implementing universal health insurance in other countries: Japan, South Korea,
Singapore, Thailand, as well as at the local shows, enforce the law of universal health insurance,
the completion time of universal health insurance different people In Vietnam, health insurance
policies have developed over 20 years, and nearly 4 years of implementation of the health
insurance Law has made positive changes However, some health insurance policies also exist:
The number of participants is not much; not resolve the relationship between benefits and health
insurance premiums For true universal health insurance, the roadmap, according to our need to
address the relationship of three objects: objects funds management , supply objects medical
services, and audience participation
Keywords: Health insurance; Universal health insurance; Health insurance policies; Health
Insurance Act; Health insurance experience
Ngày nhận bài:31/3/2014; Ngày phản biện:29/4/2014; Ngày duyệt đăng: 25/6/2014
Phản biện khoa học: TS Đàm Thanh Thủy – Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - ĐHTN
*Tel: 0912 290326