1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng chất lượng môi trường không khí khu vực xử lý chất thải y tế các bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và tuyến tỉnh tại một số tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

7 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 337,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí tại khu vực lò đốt rác y tế và hệ thống xử lý nước thải bệnh viện của một số bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

KHU VỰC XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA 

 TUYẾN TRUNG ƯƠNG VÀ TUYẾN TỈNH   TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  

Trịnh Hồng Lân* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Việc khảo sát đánh giá thực trạng chất lượng không khí ở các khu vực xử lý chất thải y tế của 

các bệnh viện là hết sức quan trọng và cần thiết nhằm kiểm soát, phòng chống ô nhiễm môi trường tại các cơ sở y 

tế, hạn chế những ảnh hưởng có hại cho sức khỏe người cán bộ y tế vận hành các hệ thống xử lý chất thải y tế,  hay cho cả các cộng đồng dân cư quanh các bệnh viện tại các tỉnh thành phía Nam.  

Mục  tiêu: Xác định và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí tại khu vực lò đốt rác y tế và hệ 

thống xử lý nước thải bệnh viện của một số bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông  Cửu Long năm 2013.  

Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang . 

Kết quả: Phần lớn các mẫu đo nồng độ các hơi khí độc trong không khí tại khu vực các bể chứa nước thải 

bệnh viện đều có nồng độ khá thấp nằm trong ngưỡng giới hạn tối đa cho phép. Có 2/6 chỉ tiêu không đảm bảo  tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) trong đó có 1 mẫu đo nồng độ khí H 2 S trong không khí tại khu vực bể  chứa nước thải của bệnh viện Cần Thơ là khá cao (0,060 mg/m3KK), vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép 1,43 lần.  Kết quả khảo sát nồng độ bụi và hơi khí độc xung quanh các lò đốt rác y tế của 6 bệnh viện cho thấy có 6/54  (chiếm 11,11%) mẫu đo không bảo đảm TCVSCP. Nhiều mẫu hơi kim loại nặng vượt TCVSCP. Trong đó có 2/6  mẫu đo hơi chì và 1/6 mẫu đo hơi thủy ngân (Hg) vượt TCVSCP. Nồng độ bụi trong không khí gần khu vực lò  đốt rác y tế cũng có 2/6 mẫu đo của 6 bệnh viện vượt TCVSCP. Có 5/6 bệnh viện là có ít nhất 1 chỉ tiêu đo nồng 

độ bụi và hơi khí độc trong không khí cao vượt mức giới hạn tối đa cho phép . 

Kiến nghị: Các bệnh viện cần chú trọng hơn tới việc kiểm tra, bảo trì các hệ thống cống thu gom nước thải, 

đậy kín các nắp cống, bể chứa nước thải, giám sát chặt chẽ qui trình vận hành hệ thống xử lý nước thải qui qui  định để hạn chế khí H 2 S. Các bệnh viện cần chú trọng hơn tới việc kiểm tra, bảo trì các hệ thống lò đốt rác y tế,  xem xét sửa chữa nâng cấp hay lắp đặt thêm các hệ thống xử lý khí thải lò đốt rác y tế. Trang bị khẩu trang than  hoạt tính cho tất cả cán bộ thường xuyên làm việc ở khu vực Hệ thống xử lý nước thải và Hệ thống lò đốt rác y 

tế. 

Từ khóa: Chất thải y tế, ô nhiễm môi trường, lò đốt rác y tế, hệ thống xử lý nước thải  

ABSTRACT 

AIR ENVIRONMENTAL QUALITY AT MEDICAL WASTE TREATMENT AREA 

 IN SOME PROVINCIAL AND CENTRAL HOSPITALS IN MEKONG DELTA REGION 

Trinh Hong Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 730 ‐ 736 

Background: Assessing the current status of air quality at medical waste treatment area is very important 

and necessary to control and prevent pollution at health facilities, and to restrict the harmful effects to staff at  medical waste treatment area and the communities around hospitals in the southern provinces. 

Objectives: To identify and assess the level of air pollution in the area of medical waste incinerators and 

Trang 2

Method: cross‐sectional study 

Results:  Most  of  the  toxic  gas  samples  in  the  atmosphere  at  the  area  of  sewage  tank  had  relatively  low 

concentration  and  still  stayed  in  the  maximum  threshold.  There  was  2/6  indicators  not  meet  the  standards  of  hygiene. 1 sample measuring H 2 S concentrations in the atmosphere at a sewage tank area, was relatively high  (0.060 mg/m3), exceeded 1.43 times compared to the standards for hygiene. The survey results of toxic gas and  dust  concentration  around  the  medical  waste  incinerators  in  hospitals  showed  6/54  samples  (representing  11.11%) exceeded the standards of hygiene. Several heavy metal vapor samples exceeded standards of hygiene. Of  the total heavy vapor samples, 2/6 lead and 1/6 mercury vapor samples exceeded standards of hygiene. There was  2/6 sample measuring the concentration of dust in the air near the medical waste incinerator exceeded standards 

of hygiene. There was 5/6 hospitals, that had had at least one indicator of the concentration of toxic gas and dust 

in the air exceeded the maximum limit. 

Recommendations: Hospitals should pay more attention to the examination and maintenance of the sewage 

collection  system,  tightly  close  manholes,  sewage  tanks,  and  closely  monitor  the  operating  system  process  of  sewage treatment as prescribed to limit H 2 S. Hospitals should concern more to the examination and maintenance 

of  the  medical  incinerator  systems,  and  consider  repairing  or  upgrading  or  installing  the  medical  waste  incinerators. They should supply charcoal masks for all staff regularly working at the area of sewage treatment  systems and medical incinerators systems. 

Keywords: medical waste, pollution, medical waste incinerators, sewage treatment system 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Trong  những  năm  trước  đây  công  tác  quản 

lý  và  xử  lý  chất  thải  y  tế  nhìn  chung  là  chưa 

được quan tâm ở hầu hết các bệnh viện mặc dù 

Bộ Y tế đã có những văn bản qui định về công 

tác này như Quyết định của Bộ trưởng Bộ y tế số 

2575/1999/QĐ‐BYT ngày 27 tháng 8 năm 1999 về 

việc  ban  hành  Qui  chế  quản  lý  chất  thải  Y  tế. 

Qua những điều tra khảo sát của các Viện thuộc 

Bộ Y tế cho thấy công tác quản lý và xử lý chất 

thải y tế ở nhiều bệnh viện vẫn còn rất nhiều bất 

cập,  nguy  cơ  gây  ô  nhiễm  môi  trường  vẫn  còn 

rất  cao(1,2,3,4). Trong  những  năm  gần  đây,  trước 

những  vấn  đề  nổi  cộm  và  gây  nhiều  bức  xúc 

trong xã hội Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 

43/2007/QÐ‐BYT ngày 03 tháng 12 năm 2007 của 

Bộ trưởng Bộ Y tế về công tác quản lý và xử lý 

chất thải Y tế thay thế Quyết định 2575 cũ, công 

tác quản lý và xử lý chất thải y tế đã từng bước 

trong cả nước đã được đầu tư trang bị các lò đốt  rác y tế, các hệ thống xử lý nước thải. Việc vận  hành các lò đốt rác y tế và các hệ thống nước thải 

y tế đã làm giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm mội  trường  do  chất thải  y  tế  gây  ra.  Tuy  vậy,  chính  các  hệ  thống  xử  lý  chất  thải  y  tế  này  lại  có  thể  gây  ô  nhiễm  môi  trường  thứ  cấp  nếu  chúng  không được sản xuất và vận hành đúng qui định 

và đúng các qui chuẩn.  

Do  vậy,  việc  khảo  sát  đánh  giá  thực  trạng  chất  lượng không  khí  ở các  khu  vực  xử  lý  chất  thải y tế của các bệnh viện là hết sức quan trọng 

và  cần  thiết  nhằm  kiểm  soát,  phòng  chống  ô  nhiễm  môi  trường  tại  các  cơ  sở  y  tế,  hạn  chế  những ảnh hưởng có hại cho sức khỏe người cán 

bộ y tế vận hành các hệ thống xử lý chất thải y 

tế,  hay  cho  cả  các  cộng đồng dân  cư quanh  các  bệnh viện tại các tỉnh thành phía Nam.  

Đề  tài  nghiên  cứu  khoa  học  này  được  thực 

Trang 3

lò đốt rác y tế và hệ thống xử lý nước thải bệnh viện 

của  một  số  bệnh  viện  tuyến  Trung  ương  và  tuyến 

tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013.”  

Nhằm giải quyết ba mục tiêu cụ thể sau: 

Xác định mức độ ô nhiễm môi trường không 

khí  tại  xung  quanh  khu  vực  lò  đốt  rác  y  tế  tại 

một  số  bệnh  viện  tuyến  Trung  ương  và  tuyến 

tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. 

Xác định mức độ ô nhiễm môi trường không 

khí tại xung quanh khu vực hệ thống xử lý nước 

thải bệnh viện tại một số bệnh viện tuyến Trung 

ương  và  tuyến  tỉnh  khu  vực  Đồng  bằng  Sông 

Cửu Long. 

ÐỐI TƯỢNG ‐PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Ðối tượng nghiên cứu  

Các lò đốt rác y tế. 

Các hệ thống xử lý nước thải bệnh viện. 

Ðịa điểm và thời gian nghiên cứu 

Các  bệnh  viện  tuyến  Trung  ương  và  tuyến 

tỉnh trên địa bàn khu vực Đồng bằng Sông Cửu 

Long  gồm: Cần  Thơ,  Trà  Vinh,  Hậu  Giang,  Sóc 

Trăng, Vĩnh Long và Cà Mau trong khoảng thời 

gian 2013.  

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả cắt ngang. 

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu  

Số đơn vị được khảo sát: 6 bệnh viện tuyến 

Trung ương và tuyến tỉnh.  

Cỡ  mẫu  :  Tất  cả  các  lò  đốt  rác  y  tế  và  hệ 

thống  xử  lý  nước  thải  bệnh  viện  các  loại  của  6 

bệnh viện. 

Phương pháp đo và phân tích  

Xét  nghiệm  SO2  :  Air  Sampling  &  Anlysis 

Method 704A*. 

Xét nghiệm NO2 : Thường qui kĩ thuật Viện  YHLĐ‐VSMT 2002. 

Xét nghiệm HCl : Thường qui kĩ thuật Viện  YHLĐ‐VSMT 2002. 

Xét nghiệm H2S  :  Thường  qui  kĩ  thuật  Viện  YHLĐ‐VSMT 2002. 

Xét nghiệm CO : 52TCN 352‐1989. 

Xét  nghiệm  Pb  :  TCVN5704  &  5754‐1993  AAS‐ APHA 3500. 

Xét  nghiệm  Cd  :  TCVN5704  &  5754‐1993  AAS‐ APHA 3500. 

Xét  nghiệm  Hg  :  TCVN5704  &  5754‐1993  AAS‐ APHA 3500. 

Xét nghiệm HF : TCVN 4499 – 1989. 

Xét nghiệm Bụi : TCVN 5704 : 93. 

 * Phép thử đã được công nhận phù hợp theo ISO/IEC 

17025 : 2005; TQKT: Thường qui kỹ thuật của Bộ Y tế  năm 2002. Giới hạn phát hiện: Cd: 0,0001 mg/m 3 ; Hg:  0,0001 mg/m 3 ; Pb: 0,00015 mg/m 3 , HF : 0,04 mg/m 3   

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng không khí 

Tiêu  chuẩn  QCVN05:  2009/BTNMT  và  QCVN06: 2009/BTNMT. 

Phương pháp phân tích, xử lý số liệu  

Xử lý số liệu  

Sử dụng phần mềm EXCEL để nhập và xử lý 

số liệu. 

 Phương pháp phân tích  

 Các  phương  pháp  thống  kê:  Thống  kê  mô 

tả :   Tần  số  và tỷ  lệ  phần trăm  các mẫu đo  đảm  bảo  và  không  đảm  bảo  tiêu  chuẩn  QCVN05:  2009/BTNMT và QCVN06: 2009/BTNMT. 

Trang 4

Kết quả Khảo sát nồng độ bụi, hóa chất và hơi khí độc  

Nồng độ hơi khí độc tại khu vực bể xử lý nước thải của 6 bệnh viện 

Bảng 1. Kết quả khảo sát nồng độ hóa chất và hơi khí độc tại khu vực bể xử lý nước thải bệnh viện của 6 bệnh 

viện 

SỐ

TT

Các loại hóa chất và hơi khí độc

trong không khí (KK) Nồng độ (mg/m3KK)

Tiêu chuẩn QCVN05: 2009/BTNMT

và QCVN06: 2009/BTNMT

Ghi chú : *có 2 bệnh viện có chỉ tiêu đo vượt TCVSCP là Cần Thơ và Cà Mau  

Kết  quả  bảng  1  cho  thấy  phần  lớn  các  mẫu 

đo nồng độ các hơi khí độc trong không khí tại 

khu vực các bể chứa nước thải bệnh viện đều có 

nồng  độ  khá  thấp  nằm  trong  ngưỡng  giới  hạn 

tối  đa  cho  phép.  Chỉ  có  1  mẫu  đo  nồng  độ  khí 

H2S  trong  không  khí  tại  khu  vực  bể  chứa  nước 

thải  của  bệnh  viện  Cần  Thơ  là  khá  cao  (0,060 

mg/m3KK),  vượt  tiêu  chuẩn  vệ  sinh  cho  phép  1,43 lần. Điều này có lẽ là do hiện nay hệ thống 

xử lý nước thải của bệnh viện Cần Thơ đang bị  quá tải do vậy, khả năng xử lý nước thải bị hạn  chế, hoặc do các lắp đường cống thải trong bệnh  viên bị bể vỡ, không có nắp đậy kín. 

Nồng độ bụi, hóa chất và hơi khí độc tại khu vực lò đốt rác thải rắn y tế của bệnh viện 

Bảng 2. Kết quả khảo sát nồng độ bụi, hóa chất và hơi khí độc tại khu vực lò đốt rác y tế của 6 bệnh viện 

SỐ TT Các loại hóa chất và hơi khí độc trong không khí (KK) Nồng độ (mg/m3KK) Tiêu chuẩn QCVN05: 2009/BTNMT và QCVN06: 2009/BTNMT

Ghi chú: * Có 2 bệnh viện có chỉ tiêu đo vượt TCVSCP là bệnh viện HG, ST ** Có 1 bệnh viện có chỉ tiêu đo vượt TCVSCP 

là bệnh viện CM. *** Có 2 bệnh viện có chỉ tiêu đo vượt TCVSCP là bệnh viện HG,VL. **** Có 2 bệnh viện có chỉ tiêu đo  vượt TCVSCP là bệnh viện ST,HG 

Kết quả đo đạc nồng độ hóa chất, hơi khí độc 

và  bụi  trong  không  khí  ở  bảng  2  cho  thấy,  tại 

thời điểm kiểm tra nồng độ các chất vô cơ như 

SO2,  NO2, HCl  và  CO  đều  ở  ngưỡng  khá  thấp, 

bảo  đảm  tiêu  chuẩn  vệ  sinh  cho  phép (Tiêu 

chuẩn  QCVN05:  2009/BTNMT  và  QCVN06: 

2009/BTNMT).  Tuy  nhiên,  nồng  độ  bụi  và  kim 

loại nặng trong không khí lại khá cao (ngoại trừ 

Cadimi có nồng độ thấp không phát hiện được), 

tỉnh là Hậu Giang và Sóc Trăng có nồng độ chì 

vô cơ quá cao ở gần lò đốt rác y tế (có mẫu đo  vượt TCVSCP tới 14 lần), tạo ra nguy cơ nhiễm  độc  chì  vố  cơ  khá  cao  cho  những  người  xung  quanh. bệnh viện Cà Mau có nồng độ Hg trong  không  khí  cao  vượt  TCVSCP  11,33  lần.  bệnh  viện HG có nồng độ HF gần lò đốt rác cao vượt  TCVSCP  9  lần.  Riêng  nồng độ  bụi trong  không  khí cũng có 2 bệnh viện tỉnh là Sóc Trăng và Hậu 

Trang 5

này để lẫn trong chất thải y tế được mang đi đốt 

hoặc cũng do chất lượng lò đốt rác chưa tốt, hệ 

thống xử lý bụi và hơi khí độc hoạt động không  hiệu quả. 

Kết quả khảo sát về mức độ ô nhiễm môi trường do bụi và hơi khí độc  

Bảng 3. Kết quả khảo sát nồng độ bụi, hóa chất và hơi khí độc tại khu vực xử lý nước thải y tế của 6 bệnh viện 

SỐ

TT

Các loại hóa chất và hơi khí độc

trong không khí (KK)

Số lượng mẫu khảo sát

Số lượng mẫu không bảo đảm TCVSCP

Tỷ lệ mẫu không bảo đảm

Kết quả bảng 3 cho thấy có 2/6 (33,33%) khu 

vực  xử  lý  nước  thải  y  tế  trong  6  bệnh  viện  có 

nồng  độ  hơi  khí  độc  H2S  cao,  vượt  TCVSCP. 

Nguyên nhân có thể là do hệ thống xử lý nước 

thải  được  quản  lý  và  vận  hành  chưa  hiệu  quả,  các  lắp  đậy  bể  chứa  xử  lý  nước  thải  và  của  hệ  thống cống thu gom bị hở nhiều.  

Bảng 4. Kết quả khảo sát nồng độ bụi, hóa chất và hơi khí độc tại khu vực xử lý nước thải y tế của 6 bệnh viện 

SỐ

TT Các loại hóa chất và hơi khí độc trong không khí (KK) Số lượng mẫu khảo sát không bảo đảm TCVSCP Số lượng mẫu không bảo đảm Tỷ lệ mẫu

Kết  quả  khảo  sát  nồng  độ  bụi  và  hơi  khí 

độc xung quanh các lò đốt rác y tế của 6 bệnh 

viện cho thấy có 6/54 (chiếm 11,11% ) mẫu đo 

không  bảo  đảm  tiêu  chuẩn  vệ  sinh  cho  phép. 

Trong đó đáng ngại nhất là khá nhiều mẫu hơi 

kim  loại  nặng  vượt  TCVSCP.  Trong  đó  có  2/6 

mẫu đo hơi chì vượt TCVSCP; 1/6 mẫu đo hơi 

Thủy ngân (Hg) vượt TCVSCP. Có 2/6 mẫu đo 

HF  không  bảo  đảm  tiêu  chuẩn  vệ  sinh  cho 

phép.  Nồng  độ  bụi  trong  không  khí  gần  khu 

vực  lò  đốt  rác  y  tế  cũng  có  2/6  mẫu  đo  của  6 

bệnh viện vượt TCVSCP. 

Như vậy, trong 6 bệnh viện được quan trắc 

thì chỉ có duy nhất bệnh viện Trà Vinh không có 

bất  kỳ  chỉ  tiêu  nồng  độ  bụi  và  hơi  khí  độc  nào 

vượt TCVSCP ở cả khu vực hệ thống xử lý nước 

thải và khu vực lò đốt rác y tế. Ngược lại bệnh 

viện  Hậu  Giang  có  tới  3/12  chỉ  tiêu  là  nồng  độ 

bụi, nồng độ HF và nồng độ hơi Pb trong không  khí cao vượt TCVSCP, tiếp đến là các bệnh viện 

Cà  Mau,  Sóc  Trăng  đều  có  2/12  chỉ  tiêu  trong  không khí cao vượt TCVSCP. Các bệnh viện Cần  Thơ và Vĩnh Long, mỗi bệnh viện đều có 1/12 chỉ  tiêu trong không khí cao vượt TCVSCP. 

Kết  quả  quan  trắc  nồng  độ  hơi  khí  độc  tại  khu vực của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện  của chúng tôi tại 6 bệnh viện tuyến Trung ương 

và tuyến tỉnh  năm 2013 khi so  sánh với  các  kết  quả nghiên cứu khác cho thấy nồng độ khí H2S  trong không khí ở khu vực hệ thống xử lý nước 

thải  dao  động  ở  mức  từ  0,014  –  0,060  thấp  hơn 

khá  nhiều  so  với  kết  quả  khảo  sát  của  Nguyễn  Khắc  Hải,  Viện  Y  học  lao  động  và  Vệ  sinh  môi  trường khảo sát trong những năm 2003 ‐ 2004(1)  với nồng độ H2S trong không khí khu vực đầu ra  của 49 hệ thống xử lý nước thải bệnh viện trung 

Trang 6

bình  là  0,051  ‐  0,116  mg/m3;  nồng  độ  khí  SO2 

trong không khí ở 6 bệnh viện chúng tôi khảo sát 

cũng  thấp  hơn  nhiều  so  với  nghiên  cứu  của 

Nguyễn Khắc Hải (với mức dao động trung bình 

từ 0,146 – 0,152 mg/m3). Riêng nồng độ khí NO2 

thì  tương  đương  với  kết  quả  khảo  sát  của 

Nguyễn Khắc Hải (với mức dao động trung bình 

từ 0,026 – 0,035 mg/m3)(1).  

Kết  quả  quan  trắc  nồng  độ  hơi  khí  độc  tại 

khu vực của Lò đốt rác y tế của chúng tôi tại 6 

bệnh viện cho thấy, các chỉ tiêu cơ bản như CO, 

SO2, NO2 đều thấp nằm trong giới hạn tối đa cho 

phép,  tương  đương  với  kết  quả  khảo  sát  của 

Nguyễn  Khắc  Hải,  Viện  Y  học  lao  động  và  vệ 

sinh môi trường khảo sát trong những năm 2003  – 2004(1). 

Kết  quả  quan  trắc  nồng  độ  hơi  khí  độc  tại  khu  vực  của  lò  đốt  rác  y  tế  và  hệ  thống  xử  lý  nước  thải  của  chúng  tôi  tại  6  bệnh  viện  tuyến  Trung  ương  và  tuyến  tỉnh  năm  2013  cho  thấy  mức độ ô nhiễm môi trường không khí do xử lý  chất thải y tế là đáng quan tâm. Kết quả khảo sát 

có  tới  5/6  bệnh  viện  là  có  ít  nhất  1  chỉ  tiêu  đo  nồng độ bụi và hơi khí độc trong không khí cao  vượt  mức  giới  hạn  tối  đa  cho  phép  và  cần  có  những giải pháp phù hợp để khắc phục để bảo  đảm môi trường trong sạch của bệnh viện. 

Bảng 5. Kết quả khảo sát các loại hóa chất và hơi khí độc trong không khí của 6 bệnh viện 

SỐ

TT Các loại hóa chất và hơi khí độc trong không khí (KK) Nồng độ (mg/m3KK) Tiêu chuẩn QCVN05: 2009/BTNMT và QCVN06: 2009/BTNMT

KẾT LUẬN 

Qua  các  kết  quả  nghiên  cứu,  chúng  tôi  có 

một số kết luận sau : 

Phần  lớn  các  mẫu  đo  nồng  độ  các  hơi  khí 

độc  trong  không  khí  tại  khu  vực  các  bể  chứa 

nước  thải  bệnh  viện  đều  có  nồng  độ  khá  thấp 

nằm trong ngưỡng giới hạn tối đa cho phép.  

Có  2/6  chỉ  tiêu  không  đảm  bảo  TCVSCP 

trong  đó  có  1  mẫu  đo  nồng  độ  khí  H2S  trong 

không  khí  tại  khu  vực  bể  chứa  nước  thải  của 

bệnh viện Cần Thơ là khá cao (0,060 mg/m3KK), 

vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép 1,43 lần. 

Kết quả khảo sát nồng độ bụi và hơi khí độc 

xung  quanh  các  lò đốt  rác y  tế  của 6  bệnh  viện 

cho thấy có 6/54 (chiếm 11,11% ) mẫu đo không 

bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.  

Nhiều mẫu hơi kim loại nặng vượt TCVSCP.  Trong  đó  có  2/6  mẫu đo  hơi  chì  và 1/6  mẫu  đo  hơi Thủy ngân (Hg) vượt TCVSCP.  

Nồng độ bụi trong không khí gần khu vực lò  đốt rác y tế cũng có 2/6 mẫu đo của 6 bệnh viện  vượt TCVSCP. 

5/6 bệnh viện là có ít nhất 1 chỉ tiêu đo nồng 

độ bụi và hơi khí độc trong không khí cao vượt  mức  giới  hạn tối  đa  cho  phép  và  cần  có những  giải  pháp  phù  hợp  để  khắc  phục  để  bảo  đảm  môi trường trong sạch của bệnh viện. 

KIẾN NGHỊ 

Để cải thiện điều kiện làm việc của cán bộ 

y tế đồng thời giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm  môi  trường,  chúng  tôi  xin  có  một  số  đề  xuất  kiến nghị sau: 

Các  bệnh  viện  cần  chú  trọng  hơn  tới  việc 

Trang 7

thải,  đậy  kín  các  nắp  cống,  bể  chứa  nước  thải, 

giám sát chặt chẽ qui trình vận hành hệ thống xử 

lý nước thải qui qui định để hạn chế khí H2S. 

Các  bệnh  viện  cần  chú  trọng  hơn  tới  việc 

kiểm tra, bảo trì các hệ thống lò đốt rác y tế, xem 

xét  sửa  chữa  nâng  cấp  hay  lắp đặt  thêm  các hệ 

thống xử lý khí thải lò đốt rác y tế . 

Trang bị khẩu trang than hoạt tính cho tất cả 

cán  bộ  thường  xuyên  làm  việc  ở  khu  vực  Hệ 

thống xử lý nước thải và Hệ thống lò đốt rác y tế. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Nguyễn Khắc Hải và CS (2004). Nghiên cứu đề xuất các giải 

pháp xử lý chất thải bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường. Báo 

cáo  tổng  kết  nhiệm  vụ  quản  lý  Nhà  nước  về  bảo  vệ  môi 

trường.  Đề  tài  NCKH  cấp  Bộ  y  tế.  Viện  YHLР và  VSMT. 

Tr.57. 

2 Nguyễn Bích Diệp, Nguyễn Thị Hồng Tú và CS (2010). Điều  kiện lao động đặc thù và Sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên 

Y tế trong giai đoạn hiện nay. Nhà xuất bản Giao thông vận  tải. Hà Nội. Tr.42. 

3 Nguyễn Thị Ngọc Lan và CS (2011). Dịch vụ Y tế lao động cơ  bản và cải thiện điều kiện lao động trong các cơ sở y tế. NXB  Heart& Mind. Hà Nội. Tr. 20. 

4 Viện Vệ sinh Y tế công cộng Tp. HCM (2007). Báo cáo kết quả  quan  trắc  môi  trường  ngành  y  tế  năm  2007.  Đề  tài/Dự  án  NCKH cấp Bộ 2007. Tr. 34‐45. 

 

Ngày nhận bài báo:       17/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   11/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 02:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w