Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưõng của 71 trẻ bị TCKD nhập khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi đồng 2 trong hai năm (3/1999-3/2001). Kết quả cho thấy có 31% trẻ đang bị suy dinh dưỡng bao gồm 26,8% trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân và 12,7% trẻ bị suy dinh dưỡng gầy mòn. TCKD đã ảnh hưởng đến sự tăng cân của trẻ, biểu hiện bằng 80% trẻ bị giảm, đứng cân hoặc tăng cân chậm, báo động tương lai suy dinh dưỡng của những trẻ này nếu còn tiếp tục tiêu chảy và các thực hành nuôi dưỡng sai lầm.
Trang 1TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CHẾ ĐỘ NUÔI DƯỠNG
CỦA TRẺ EM TIÊU CHẢY KÉO DÀI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Trần Thị Thanh Tâm *
TÓM TẮT
Tiêu chảy kéo dài (TCKD) gặp không nhiều nhưng thường kết hợp với suy dinh dưỡng thành một vòng xoắn bệnh lý gây tử vong hoặc ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em Chúng tôi nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưõng của 71 trẻ bị TCKD nhập khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi đồng 2 trong hai năm (3/1999-3/2001) Kết quả cho thấy có 31% trẻ đang bị suy dinh dưỡng bao gồm 26,8% trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân và 12,7% trẻ bị suy dinh dưỡng gầy mòn TCKD đã ảnh hưởng đến sự tăng cân của trẻ, biểu hiện bằng 80% trẻ bị giảm, đứng cân hoặc tăng cân chậm, báo động tương lai suy dinh dưỡng của những trẻ này nếu còn tiếp tục tiêu chảy và các thực hành nuôi dưỡng sai lầm Có 35,2% trẻ đưọc xếp loại thiếu máu và 21,1% trẻ bị giảm đạm máu, cũng là hậu quả dinh dưỡng trực tiếp hay gián tiếp của TCKD Trước khi TCKD, trẻ dưới 12 tháng có 68,4% đưọc nuôi bằng sữa mẹ, nhưng cũng có 58,6% trẻ bú bình Đa số các trẻ được ăn dặm đúng theo lứa tuổi Nhưng khi tiêu chảy bắt đầu xảy ra, 18% trẻ từ 6-12 tháng ngưng ăn dặm chỉ bú mà thôi, số còn lại tuy được ăn hoặc ăn dặm nhưng chất lượng bữa ăn giảm về số lượng bữa ăn, số lượng một bữa ăn, và chất lượng bữa ăn Đa số đều loại bỏ hoặc giảm dầu mỡ trong bữa ăn, Trẻ được ăn thịt heo nhiều lần hơn thịt gà, bò hay tôm cá Rau cải, trái cây đều bị giảm tiêu thụ Trên các TCKD, trẻ bú mẹ có tình trạng dinh dưỡng kém hơn trẻ bú bình (p=0,012) Tương tự, trẻ bú mẹ ít bị thay đổi cân nặng theo chiều hướng xấu hơn trẻ bú bình (p=0,002) Tình trạng dinh dưỡng ít bị ảnh hưởng bởi thời gian kéo dài của tiêu chảy mà bị ảnh hưởng bởi chế độ nuôi dưỡng trong lúc tiêu chảy, và đặc tính của tiêu chảy Trẻ bị tiêu chảy nhiễm trùng có tình trạng dinh dưỡng kém hơn trẻ tiêu chảy không do viêm nhiễm
SUMMARY
NUTRITIONAL STATUS AND FEEDING PRACTICE OF CHILDREN WITH PERSISTENT DIARRHEA
HOSPITALIZED IN CHILDREN HOSPITAL N o 2
Tran Thi Thanh Tam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 6 - No 1 - 2002: 25 - 30
Persistent diarrhea (PD) infrequently occurs but commonly associated with malnutrition to build up a vicious cycle, which markedly affect the growth and development of young children We examined the nutritional status and feeding practice of 71 children with PD hospitalized in children hospital N2 during 3/1999-3/2001 The results showed that 31% patients have got under nutrition including 26.8% underweight and 12.7% wasted Besides overt malnutrition, PD adversely affected the weight increase, manifested by 80% of those children with weight decrease, no or slow weight increase That implied an inevitable malnutrition if the diarrhea and wrong feeding practice continues There were 35.2% diarrheal children classified as anemic and 21.1% as hypoproteinemic Before diarrhea, among under 12-month children, there were 68.4% breast-fed and 58.6% bottled-fed The majority received supplementary food at the appropriate age When diarrhea started, 18% of patients from 6-12 months of age stopped eating weaning food and continued consuming milk, either breast milk or animal milk The rest although continued to have weaning food, the quantity and the quality of weaning food were reduced Mothers
usually eliminated oil or fat from the supplementary food Children were given pork meat more frequently
* Bệnh viện Nhi đồng 2 – TP Hồ Chí Minh
Trang 2than chicken, beef, shrimp or fish The patients less consumed vegetables and fruits In the children with persistent diarrhea, breast-fed children had lower nutritional status than the bottled-fed ones (p=0.012) Similarly, the bottled-fed children had worse weight change than the breastfed ones (p=0.002) The nutritional status was not affected by the duration of diarrhea before admission, but by the feeding care during diarrhea and the characteristics of diarrhea Children with infectious diarrhea had worse nutritional status than the ones with non-infectious diarrhea
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trong khi tỷ lệ tử vong trong tiêu
chảy cấp đã giảm và những trường hợp mất nước
nặng do tiêu chảy cấp rất hiếm gặp nhờ vào bù
dịch bằng dường uống, thì tiêu chảy kéo dài
(TCKD) nổi lên trong bệnh lý tiêu hóa của trẻ em
như là một trong những nguyên nhân gây tử vong
và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của
trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển Bệnh gặp
không nhiều, nhưng TCKD cùng với suy dinh
dưỡng tạo nên vòng xoắn bệnh lý phức tạp góp
phần trực tiếp hoặc gián tiềp vào tử vong trẻ em
Việt nam
Nguyên nhân TCKD hiện nay còn có nhiều
điểm chưa rõ Nó có thể là hậu quả của sự tương
tác nhiều yếu tố được bàn cãi nhiều trong những
năm gần đây như nhiễm trùng ruột kéo dài, tổn
thương niêm mạc chậm phục hồi, tính nhạy cảm
của chủ thể, miễn dịch niêm mạc, suy dinh dưỡng,
thiếu vi chất
Ơû Việt Nam, các công trình nghiên cứu về
TCKD còn ít(2,7,8) Chúng tôi tiến hành nghiên cứu
về một số nguyên nhân TCKD và từ đó rút ra
hướng xử trí thích hợp trong hoàn cảnh Việt Nam
Bài báo này nhằm mục đích tường trình tình
trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng của 71 trẻ
tiêu chảy kéo dài trong nghiên cứu của chúng tôi
Tình trạng dinh dưỡng và những sai lầm trong
thực hành nuôi dưỡng có thể vừa là yếu tố thúc
đẩy vừa là hậu quả của TCKD Khảo sát tình
trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng của những
trẻ này sẽ giúp ích trong việc hình thành một chế
độ ăn uống và theo dõi chăm sóc cho các trẻ
TCKD góp phần cho điều trị thành công các
trường hợp TCKD
Mục tiêu nghiên cứu
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của các trẻ
em bị tiêu chảy kéo dài
2 Khảo sát các chế độ nuôi dưỡng trước và trong khi bị tiêu chảy, phát hiện các vấn đề sai lầm trong nuôi dưỡng có khả năng là yếu tố thúc đẩy tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài
3 Khảo sát mối liên hệ giữa tình trạng dinh dưỡng, nuôi dưỡng với các đặc điểm lâm sàng của tiêu chảy kéo dài
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
- Gồm 71 bệnh nhân vào khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi đồng 2 từ 3/1999 đến 3/2001 được chẩn đoán là TCKD có các tiêu chuẩn sau:
+ tiêu chảy phân nước trên 3 lần trong 1 ngày + thời gian tiêu chảy kéo dài trên 14 ngày + tuổi từ 2 tháng đến 60 tháng
Loại trừ những bệnh nhân
+ tiêu chảy từ lúc mới sinh liên tục đến khi nhập viện
+ có các bệnh bẩm sinh mạn tính
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiền cứu, mô tả cắt ngang
Cách thực hiện
- Mỗi bệnh nhân vào viện được làm hồ sơ
nghiên cứu riêng (khác với bệnh án nhập viện của bệnh viện) để theo dõi quá trình điều trị
- Mỗi trẻ được cân, đo chiều cao, đo vòng đầu, vòng cánh tay Cân được ghi nhận lúc nhập viện, lúc xuất viện, mỗi ngày một lần trong suốt thời gian nằm viện Các số đo nhân trắc khác được ghi nhận lúc nhập viện, lúc xuất viện và mỗi tuần một lần trong suốt thời gian nằm viện
- Một bảng câu hỏi gồm các câu hỏi liên quan
Trang 3đến yếu tố kinh tế xã hội, chế độ nuôi dưỡng, tiền
căn tiêu chảy, đặc điểm lâm sàng của bệnh
Xử lý số liệu
+ chương trình Epinut: xử lý các số liệu nhân
trắc thành các chỉ số Z score
+ chương trình SPSS 9.05 for windows để thực
hiện thống kê mô tả và phân tích
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm chung khi vào viện
Tuổi nhỏ nhất là 2 tháng và lớn nhất là 6 tuổi,
tuổi trung bình là 10,76 tháng Tuy nhiên 84,5%
trẻ của nhóm nhiên cứu thuộc nhóm dưới 12
tháng, nhưng nếu tính đến 2 tuổi thì hơn 90% tổng
số trẻ Điều này phù hợp với các nghiên cứu về
tiêu chảy cấp là lứa tuổi thường gặp là từ 6 tháng
– 24 tháng Tỷ lệ này tương đương với các nghiên
cứu khác của Việt Nam(8) 86%, của Tunisie(4) 93%
trẻ tiêu chảy kéo dài nhỏ hơn 12 tháng
Không có chênh lệch về tỷ lệ nam/nữ (1,08)
khi mắc bệnh tiêu chảy kéo dài, nhưng một
nghiên cứu khác của Việt Nam tỷ lệ này là 2,6(3)
42,5% trẻ đến từ thành phố Hồ Chí Minh và
ngoại thành, phần còn lại đến từ các tỉnh gần thành
phố đa số thuộc miền Đông, miền Trung và miền
nam Trung bộ, hiếm thấy các trẻ đến từ miền Tây
Có lẽ đây là do đặc điểm bệnh nhi miền Tây ít đến
khám và điều trị tại bệnh viện Nhi đồng 2
Bảng 1: Nghề nghiệp của cha mẹ của trẻ thuộc nhóm
nghiên cứu
Công nhân viên, thợ 39,4% 14,1%
Hoàn cảnh kinh tế gia đình tạm đủ ăn hoặc dư
dã chiếm đa số 80%, trong khi đó có 20% trả lời
là hoàn cảnh kinh tế khó khăn Theo nghiên cứu ở
Tunisie(4), có đến 2/3 trẻ TCKD thuộc gia đình
nghèo Các trẻ đa số là đứa con đầu lòng (80%)
được mẹ trực tiếp chăm sóc (69%) vì đa số trẻ nhỏ
hơn 1 tuổi
Sáu mươi lăm phần trăm trẻ nhập viện vào mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 5) Thời gian tiêu chảy trước khi nằm viện ít nhất là 2 ngày, dài nhất là 5 tháng Một số trẻ có thời gian tiêu chảy trước khi nằm viện nhỏ hơn 2 tuần (12,7%) là những trẻ vào viện vì tiêu chảy cấp nhưng sau đó tiêu chảy không cầm và trở thành tiêu chảy kéo dài ngay trong khi nằm bệnh viện
Chế độ nuôi dưỡng
Trong nhóm trẻ dưới 12 tháng bị TCKD, có 68,4% trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và 58,6% trẻ được nuôi dưỡng bằng bình sữa bột (Dielac, Similac ) Theo Khaldi F(4) trong 74 trẻ TCKD ở Tunis (Tunisie), có 69% trẻ bú mẹ (tương tự nghiên cứu này) nhưng cũng có 82% trẻ bú bình, cao hơn con số của chúng tôi Quan sát nhóm trẻ dưới 4 tháng tuổi bị TCKD, chúng tôi ghi nhận đưọc có 60% trẻ bú mẹ tuyệt đối, 20% số trẻ bú bình tuyệt đối, còn 20% thì bú mẹ kết hợp với bú bình nhưng trong đó số cử bú mẹ chiếm 80% tổng số cữ bú trong ngày
Bảng 2 : Tình hình ăn dặm trước và trong khi bị tiêu
chảy của trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi n=28)
Aên bột Aên
cháo
Aên cơm Không ăn
dặm
Trước tiêu chảy 17,9% 67,9% 7,1% 7,1% Trong lúc tiêu
chảy
7,9% 60% 7,1% 25%
Trước 4 tháng tuổi, các trẻ này không ăn gì khác ngoài sữa (sữa mẹ hoặc sữa bò) Aên dặm sớm trước 4 tháng không có trường hợp nào trong lô nghiên cứu này Aên dặm muộn sau 6 tháng chiếm 10% tổng số trẻ trong lô nghiên cứu Mười tám phần trăm trẻ trong lứa tuổi 6-12 tháng, ngưng ăn dặm bột, cháo khi trẻ tiêu chảy kéo dài, và tiếp tục chế độ ăn sữa giống như trước khi trẻ mắc tiêu chảy Các trẻ còn lại đều được tiếp tục ăn dặm nhưng giảm về số lượng và chất lượng bữa ăn, có đến 90% trẻ này bị giảm hoặc bỏ hẳn dầu, mỡ trong chén cháo hay cơm Thịt, cá, trứng, tôm đều được cho vào chén bột, cháo nhưng thường ăn nhiều thịt heo hơn các loại thịt khác, hoặc tôm cá Các thức ăn được dân gian cho là tốt trong tiêu chảy như củ cải đỏ được ăn thường xuyên trong
Trang 4bữa ăn hơn các loại rau khác như rau muống, rau
dền, cải xanh Trái cây thường bị hạn chế ăn (80%
trường hợp) đặc biệt là như cam, chanh, đu đủ
Tình trạng dinh dưỡng
WAZ -2 được định nghĩa là suy dinh dưỡng
nhẹ cân
HAZ -2 được định nghĩa là suy dinh dưỡng
còi cọc
WHZ -2 được định nghĩa là suy dinh dưỡng
gầy mòn
Bảng 3: Kết quả phân nhóm tình trạng dinh dưỡng của
trẻ trong lô nghiên cứu
Loại suy dinh dưỡng Số trẻ bị suy dinh
dưỡng/tổng số
Tỷ lệ (%)
Suy dinh dưỡng nhẹ cân 19/71 26,8
Suy dinh dưỡng còi cọc 11/71 15,5
Suy dinh dưỡng gầy mòn 9/71 12,7
Như vậy tỷ lệ trẻ không suy dinh dưỡng (là trẻ
có HAZ, WHZ và WAZ >-2) là 69% (49/71) và
trẻ suy dinh dưỡng (khi có một trong 3 chỉ số trên
-2) là 31% (22/71) Tỷ lệ suy dinh dưỡng tính theo
Z score của cân nặng theo tuổi -2 là 27% theo
Lima và cộng sự(6) tương đương với tỷ lệ suy dinh
dưỡng trong lô nghiên cứu này (26,8%), nhưng
theo nghiên cứu của Khaldi(4) thì suy dinh dưỡng
cấp chiếm đến 69%
Bảng 4 : Sự thay đổi cân nặng tại thời điểm nhập viện
so với cân nặng trước khi tiêu chảy
Thay đổi cân nặng Số trẻ Tỷ lệ phần trăm (%)
Tăng cân bình thường 16 22,5
Cân nặng là chỉ số dinh dưỡng thay đổi nhanh
khi tiêu chảy và cũng cải thiện nhanh khi điều trị
tốt Do đó, khi quan sát sự thay đổi về cân nặng,
ta thấy rõ ràng tiêu chảy kéo dài đã ảnh hưởng
đến dinh dưỡng của trẻ sâu sắc Gần 80% trẻ bị
thay đổi về cân nặng theo chiều hướng xấu đi
trong thời gian bị tiêu chảy bao gồm sụt cân, đứng
cân, tăng cân chậm Và điều này đã không những
đe dọa tình trạnh dinh dưỡng của trẻ mà còn thật
sự gây suy dinh dưỡng nhẹ cân cho 26,8% trẻ, và
suy dinh dưỡng gầy mòn cho 12,7% trẻ Do đa số trẻ nhập viện trong vòng tháng đầu của bệnh (78%), nên các trường hợp suy dinh dưỡng còi cọc có thể là cơ địa có sẵn của các trẻ tiêu chảy kéo dài Ngoài ra, do thiếu dữ kiện cân nặng của trẻ trước khi bị tiêu chảy, tình trạng suy dinh dưỡng hiện tại (31% trẻ) có thể được xem là hậu quả mà cũng có thể là yếu tố cơ địa góp phần đưa đến tình trạng tiêu chảy kéo dài của trẻ
Khi tham khảo điểm ngưỡng xác định thiếu máu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 1972(5), tỷ lệ thiếu máu trong lô nghiên cứu là 35,2%
Protein máu được cho là thấp khi <6g/dl+ Tiêu chảy kéo dài có các tổn thương niêm mạc ruột dẫn đến tình trạng thất thoát protein qua ruột, hậu quả là làm giảm protein máu, đặc biệt làø albumine máu Theo Rosalind, điểm ngưỡng của giảm albumine máu theo các lứa tuổi như sau: 0 -
11 tháng là dưới 2,5g/dl; 12 tháng - 6 tuổi là dưới
<3g/dl Theo đó, tỷ lệ trẻ tiêu chảy kéo dài có protein máu giảm và albumine giảm lần lượt là 21,1% và 11,3%
Trang 5Mối liên quan của tình trạng dinh dưỡng, chế độ
nuôi dưỡng với một số đặc điểm lâm sàng của
tiêu chảy kéo dài
Bảng 5: Liên quan giữa suy dinh dưỡng (SDD) còi cọc
và chế độ nuôi dưỡng ở trẻ TCKD dưới 12 tháng tuổi
(n=57)
Tình trạng dinh
dưỡng
Bú mẹ Bú bình (sữa nhân
tạo) Số trẻ Tỷ
lệ%
Số trẻ Tỷ lệ %
Còi cọc so với tuổi 2 3,5 6 10,5
Không còi cọc so với
tuổi
34 59,6 15 26,3
Fisher’s exact test, p=0,023
Bảng 6: Liên quan giữa SDD nhẹ cân và chế độ nuôi
dưỡng ở trẻ TCKD dưới 12 tháng tuổi (n=57)
Tình trạng dinh
dưỡng
(sữa nhân tạo) Số trẻ Tỷ lệ% Số trẻ Tỷ lệ %
Nhẹ cân so với tuổi 2 3,5 8 14
Không nhẹ cân so
với tuổi
34 59,6 13 22,8
Fisher’s exact test, p=0,003
Bảng 7: Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và chế
độ nuôi dưỡng của các trẻ tiêu chảy kéo dài
Chế độ
nuôi
dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng WAZ a
Giá trị trung
bình độ lệch
chuẩn
HAZ b
Giá trị trung bình độ lệch chuẩn
WHZ c
Giá trị trung bình độ lệch chuẩn
Bú mẹ
(n=38) -0,602 1,109 -0,323 1,191 -0,282 1,268
Bú bình
(n=28) -1,733 1,272 -1,309 1,321 -1,007 1,321
a: ANOVA (có kiểm tra tham số thay đổi cân
nặng trong khi tiêu chảy) p= 0,012
b : ANOVA, (có kiểm tra tham số thay đổi
cân nặng trong khi tiêu chảy) p= 0,012
c: ANOVA, (có kiểm tra tham số thay đổi cân
nặng trong khi tiêu chảy) p=0,47
Trong lô nghiên cứu, trẻ bú mẹ có tỷ lệ suy
dinh dưỡng nhẹ cân hay còi cọc đều thấp hơn trẻ bú
sữa nhân tạo một cách có ý nghĩa thống kê Điều
này cũng phù hợp với tính chất ưu việt của sữa mẹ
trong bảo vệ đường ruột chống bệnh tiêu chảy
Khi mắc tiêu chảy dù có suy dinh dưỡng hay
không suy dinh dưỡng, trẻ được bú mẹ ít bị thay đổi cân nặng theo chiều hướng xấu (sụt cân, đứng cân, hay tăng cân chậm) so với trẻ bú bình có ý nghĩa thống kê Ngay cả những trẻ suy dinh dưỡng, trẻ bú mẹ có tỷ lệ thay đổi cân nặng theo chiều hướng xấu thấp hơn so trẻ bú bình Quan sát này phù hợp với nghiên cứu của Jimenez R và cộng sự(3) kết luận rằng các trẻ bú mẹ vẫn tăng cân trong 4 tuần lễ đầu của bệnh tiêu chảy và khuyến cáo bú mẹ là một phương pháp hiệu quả để trẻ phục hồi dinh dưỡng khi bị tiêu chảy kéo dài
Bảng 8 : Sự thay đổi cân nặng khi mắc TCKD theo chế
độ nuôi dưỡng ở trẻ <12 tháng (n=57)
nhân tạo) Số trẻ Tỷ lệ% Số trẻ Tỷ lệ%
Có thay đổi cân nặng theo chiều hướng xấu (sụt, đứng, tăng cân chậm)
21 59 20 95,2
Tăng cân bình thường theo lứa tuổi 15 41 1 4,8
Fisher’s exact test, p=0,002
Bảng 9: Tình trạng dinh dưỡng theo nguyên nhân bệnh
tiêu chảy kéo dài (n=71)
Tình trạng dinh dưỡng (Z score)
Trung bình độ lệch chuẩn
ANOVA
1 chiều
p
ANOVA có kiểm tra các đồng tham số
* P’
Đại tràng kích thích, không dung nạp lactose,
dị ứng protein sữa bò (n=34)
Tiêu chảy nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng, AIDS (n=37)
Cân nặng theo chiều cao (WHZ)
-0,242 1,270 -1,096 1,325 0.007 0.009 Chiều cao
theo tuổi (HAZ)
-0,342 1,304
-1,249 1,194
0.003 0.03
Cân nặng theo tuổi (WAZ)
-0,550 1,175
-1,737 1,153
0.000 0.007
* : phân tích hồi qui và phân tích variance cho biết hiệu quả chính của yếu tố sau khi loại trừ các hiệu quả phụ và tương tác của các đồng tham số: chế độ nuôi dưỡng, tuổi
Qua phân tích cho thấy, hầu như không có mối
Trang 6tương quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ mắc
TCKD với thời gian bệnh ở nhà trước khi dược
đưa đến bệnh viện (hệ số tương quan Pearson r =
- 0,35, p<0,001) Thay vào đó, tình trạng dinh
dưỡng của trẻ TCKD theo nghiên cứu này có liên
quan với căn nguyên của bệnh tiêu chảy Chúng
tôi chia làm hai nhóm bệnh lớn: nhóm tiêu chảy
do viêm hay nhiễm (tiêu chảy nhiễm vi khuẩn, ký
sinh trùng, celiac, AIDS) và nhóm tiêu chảy
không do viêm nhiễm (đại tràng kích thích, không
dung nạp lactose sau tiêu chảy cấp, dị ứng protein
sữa bò sau tiêu chảy cấp) Nhóm tiêu chảy do
viêm nhiễm có tình trạng dinh dưỡng xấu hơn có ý
nghĩa thống kê so với tình trạng dinh dưỡng của
nhóm TCKD không do nhiễm Phải chăng tình
trạng dinh dưỡng kém của nhóm tiêu chảy do
viêm nhiễm ngay từ trước khi bị mắc tiêu chảy đã
là một yếu tố thuận lợi cho viêm nhiễm tiêu hóa
xảy ra và khi viêm nhiễm ruột xảy ra thì đến
phiên nó làm cho tình trạng dinh dưỡng càng xấu
hơn trong vòng xoắn bệnh lý của tiêu chảy và suy
dinh dưỡng
Chế độ nuôi dưỡng (bú mẹ hay bú bình) có
thể vừa có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng mà
cũng là yếu tố thuận lợi cho TCKD Tuổi cũng
như thế, tuổi càng nhỏ càng có nguy cơ suy dinh
dưỡng và dễ mắc TCKD Phân tích thống kê so
sánh các giá trị trung bình của Z score giữa hai
nhóm TCKD sau khi đã loại bỏ tham gia của hai
đồng tham số (covariate) chế độ nuôi dưỡng và
tuổi cũng cho thấy nhóm trẻ bị tiêu chảy do viêm
nhiễm có tình trạng dinh dưỡng kém hơn nhóm
TCKD không do nhiễm
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 71 trường hợp tiêu chảy kéo
dài nhập khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi đồng 2
chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
1 Bệnh xảy ra phần lớn ở trẻ dưới 12 tháng
với tỷ lệ là 84,5%
2 Ở các trẻ dưới 12 tháng tuổi, có 68,4% bú mẹ và 58,6% bú bình
3 Tỷ lệ trẻ mắc suy dinh dưỡng là 26,8% Bảy mươi tám phần trăm trẻ bị sụt cân, đứng cân hay tăng cân chậm trong thời gian bị tiêu chảy kéo dài báo động một tinh trạng dinh dưỡng bị đe dọa
4 Tình trạng dinh dưỡng của nhóm trẻ mắc bệnh tiêu chảy do viêm nhiễm xấu hơn trẻ tiêu chảy kéo dài không do viêm nhiễm
5 Dù bị mắc tiêu chảy kéo dài, trẻ bú mẹ vẫn có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn trẻ bú bình, góp phần khuyến khích nuôi trẻ bằng sữa mẹ ngay cả trong khi bị tiêu chảy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GIBSON RS Principles of nutritional assessment New York Oxford, Oxford University Press, USA, 1990
2 HOÀNG THỊ THANH, NGUYỄN GIA KHÁNH Bước đầu đánh giá vai trò của nguyên tố kẽm trong điều trị bệnh tiêu chảy kéo dài ở trẻ em Nhi Khoa 1997, tập 6 số 2: 99-103
3 JIMENEZ-R, FRAGOSO T, SAGARO E., BACALLAO J Influence of breastfeeding on nutritional development of infants with persistent diarrhea Acta-Gastroenterol latinoam 1995; 25 (1):41-8.
Characteristics of persistent diarrhea in pediatric services in Tunis Arch Pediatr 1995 Mar;2(3):227-31
NUTRITIONAL STATUS CRC Press, Inc., Boca Raton, FL., and the Minister of Supply and Services Canada, 19
L, MCAULIFFE J F, MOTA S, LEITE R, GUERRANT R L Persistent diarrhea in Northeast Brazil: etilogies and interactions with malnutrition Acta Pediatr Suppl 381:39-44,
1992
7 PHẠM NGỌC THANH, ĐÀO THỊ LÝ, PHẠM TRUNG DŨNG, PHẠM ĐỨC LỄ Clinical aspects of acute vs persistent diarrhea in Ho Chi Minh city Vietnam Acta Pediatr Suppl, 1992; 381:121-3
8 PHAN KIM NGÂN, NGUYỄN GIA KHÁNH, CHU VĂN TƯỜNG, PHAN PHÚ QÚY, ĐOÀN NGỌC ANH VÀ HOÀNG THU THỦY Persistent diarrhea in Vietnamese children: a preliminary report Acta Pediatr Suppl, 1992; 381:124-6