1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

51 phương pháp phẫu thuật nội soi trong rò bàng quang âm đạo: Giải pháp không cần thời gian chờ đợi

6 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 268,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày về: Tổn thương bàng quang trong phẫu thuật sản phụ khoa gây ra rò bàng quang âm đạo, trước đây mổ qua ngả bụng hoặc xuyên âm đạo là phương thức tiếp cận để điều trị khâu lỗ rò. Với những kinh nghiệm đã trải qua và khả năng chuyên môn,nhóm tác giả đã áp dụng phương pháp nội soi ổ bụng hoặc nội soi xuyên bàng quang để khâu rò bàng quang âm đạo.

Trang 1

51 PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG RÒ BÀNG QUANG ÂM

ĐẠO: GIẢI PHÁP KHÔNG CẦN THỜI GIAN CHỜ ĐỢI

Trần Trọng Trí*, Thái Kinh Luân*, Vũ Đức Huy*, Nguyễn Thị Thái Hà*, Hoàng Khắc Chuẩn*, Châu Quý Thuận*, Dương Thị Kim Cúc*, Hà Dương Quang Vũ***, Trần Ngọc Sinh**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tổn thương bàng quang trong phẫu thuật sản phụ khoa gây ra rò bàng quang âm đạo, trước đây mổ qua ngả

bụng hoặc xuyên âm đạo là phương thức tiếp cận để điều trị khâu lỗ rò Với những kinh nghiệm đã trải qua và khả năng

chuyên môn, chúng tôi đã áp dụng phương pháp nội soi ổ bụng hoặc nội soi xuyên bàng quang để khâu rò bàng quang âm

đạo

Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu hồi cứu, gồm 28 bệnh nhân nữ được mổ nội soi rò bàng quang âm đạo

từ tháng 02/2006 đến tháng 6/2009 Tất cả bệnh nhân được mổ nội soi với phương thức tiếp cận lỗ rò qua đường xuyên ổ

bụng hoặc xuyên bàng quang Bệnh nhân đã được khám và chuẩn bị kỹ lưỡng, xét nghiệm UIV, soi bàng quang, siêu âm và

xét nghiệm tiền phẫu Sonde tiểu đặt trong 02 tuần và có thể đặt lâu hơn nếu cần thiết

Kết quả: Trong 28 bệnh nhân mổ nội soi có 1 bệnh nhân phải chuyển sang mổ hở là do dính chặt vào đại tràng sigma

và túi cùng Douglas (sau khi có kết quả ung thư cổ tử cung) Trong 27 trường hợp mổ nội soi có 2 trường hợp rò nước tiểu

sau khi rút sonde niệu đạo Sau này phải chuyển sang mổ hở qua ổ bụng để khâu rò Thời gian mổ trung bình 241 ± 38 phút,

nhanh nhất 80 phút, lâu nhất 410 phút Thời gian nằm viện 11 ± 1,9 ngày, sớm nhất 7 ngày và lâu nhất 21 ngày Bệnh nhân

trẻ sẽ tiếp tục đời sống sinh hoạt tình dục bình thường

Kết luận: Phẫu thuật nội soi là phẫu thuật ít xâm lấn, hiệu quả và an toàn trong điều trị rò bàng quang âm đạo Tuy

nhiên, chỉ nên thực hiện ở người có kinh nghiệm và kỹ năng phẫu thuật nội soi đường tiết niệu Cần có thời gian và số lượng

bệnh nhân để hoàn thiện kỹ thuật

Từ khóa: Rò bàng quang âm đạo, phẫu thuật nội soi

ABSTRACT

LAPROSCOPIC TREATMENT IN EARLY INTERVENTION OF VESICO-VAGINAL

FISTULA

Tran Trong Tri, Thai Kinh Luan, Vu Duc Huy, Nguyen Thi Thai Ha Duong T, Hoang Khac Chuan,

Dương Thi Kim Cuc,Chau Quy Thuan, Duong Quang Vu, Tran Ngoc Sinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 2 - 2010: 289 - 294

Introduction and aims: Bladder injured in gynecological surgeries is not uncommon due to its vicinity to cervix and

vagina resulting in fistula Until now open abdominal or transvaginal approach was used as a modality of management With the

growing experience and expertise these case can be managed by laparoscopic route

Method: This retrospective study included 28 women operated laparoscopically for vesico vaginal fistula during

February 2006 to June 2009 All patients were operated laparoscopically by trans abdominal trans vesical route Patients were

thoroughly investigated by IVU, cystoscopy and ultrasound Per urethral catheter was kept for 2 weeks and extended if

needed

Results: Of the 28 patients operate laparoscopically 1 patient had to be converted to open due to dense adhesions of the 27

cases completed laparoscopically 2 had leak per vaginal following removal of per urethral catheter The average operating time

was 241 + 38 minutes ranging from 80 to 410 minutes Hospital stay averaged 11 ± 1.9 days ranging from 7 to 21 days

Adult patients resumed to normal sexual life

Conclusions: Laparoscopic trans vaginal – vaginal fistula repair appears to be a safe and effective procedure that

adheres to the principles of a trans abdominal trans vesical fistula repair while decreasing morbidity and improving cosmesis

Continued follow-up is required to determine its long-term efficacy compared with the accepted open transabdominal and

Trang 2

Tác giả liên hệ: BS Trần Trọng Trí, trantrongtri70@yahoo.com, 0918086162

Keywords: Vesico-vaginal fistula, Laparoscopy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rò bàng quang âm đạo là một vấn đề xã hội và phẫu thuật trong nhiều thế kỷ Ở các nước phát triển hơn

90% các trường hợp là do biến chứng của phẫu thuật vùng chậu hay xạ trị ung thư vùng chậu(4) Trong khi đó, ở

các nước đang phát triển dò bàng quang âm đạo thường liên quan đến chuyển dạ kéo dài

Bằng chứng cổ xưa nhất của rò bàng quang âm đạo được phát hiện vào năm 1923, khi Derry phẫu tích xác

ướp của nữ hoàng Henhenit (2050 trước công nguyên) ông phát hiện có một chỗ rò bàng quang âm đạo lớn

Tài liệu đầu tiên đề cập đến rò sinh dục được ghi lại trên sách giấy cói của bộ tộc Ebers vào khoảng năm 2000

trước công nguyên Tuy nhiên mãi đến năm 950 sau công nguyên Avicenna mới phát hiện mối tương quan giữa

những thai kỳ sinh khó ở những phụ nữ trẻ với việc hình thành chỗ rò bàng quang âm đạo

Năm 1597, Luiz de Mercado đặt tên thuật ngữ là rò (fistula) được sử dụng (trước đó được gọi là ruptura)

Nguyên tắc phẫu thuật để điều trị dò bàng quang âm đạo được Hedrik von Roonhuyse mô tả vào năm 1663 Sau

đó, Johann Fatio sử dụng kỹ thuật của Roonhuyse lần đầu tiên đã vá rò bàng quang âm đạo thành công Tuy

nhiên mãi đến thế kỷ 19 việc vá rò bàng quang âm đạo thành công mới trở nên phổ biến

James Marion Sims có bài diễn thuyết nổi tiếng về điều trị rò bàng quang âm đạo vào năm 1852 Sims đã

thành công ở lần phẫu thuật thứ 30 trên một nô lệ có tên là Anarcha Sims nhấn mạnh tầm quan trọng của việc

bộc lộ tốt, cắt mô sẹo ở bờ chỗ rò và âm đạo đủ rộng, và tầm quan trọng của dẫn lưu bàng quang liên tục sau mổ

Năm 1861, Maurice Collis lần đầu tiên báo cáo kỹ thuật khâu theo từng lớp và sau đó 1893 Schuchardt mô tả

đường mổ cạnh trực tràng tạo thuận lợi cho quá trình bộc lộ trong vá rò bàng quang âm đạo thể cao

Trong những năm đầu thế kỉ XX, một vài kỹ thuật đã từng được sử dụng để làm tăng tính hiệu quả của việc

vá rò bàng quang âm đạo Thủ thuật của Latzko đã được tán thành với tỷ lệ thành công của ông lên đến 95 –

100% Năm 1950, O'Conor và Stovsky phổ biến đường mổ qua đường bụng

Từ đó đến nay, đã có nhiều kỹ thuật ngoại khoa được phát triển để sửa chữa tình huống không may này:

qua ngã âm đạo, ngã bụng hay nội soi Phẫu thuật nội soi ngay từ lúc mới đầu đã phát triển mạnh trong niệu

khoa do là phẫu thuật ít xâm lấn, và rút ngắn thời gian bệnh Hầu hết các phẫu thuật tạo hình trong niệu khoa có

thể thực hiện được với phẫu thuật nội soi, và phẫu thuật khâu rò bàng quang âm đạo cũng có thể thực hiện để

giúp bệnh nhân mau lành bệnh và hồi phục nhanh hơn so với phẫu thuật mở kinh điển

Từ năm 1994, Nezhat đã báo cáo điều trị rò bàng quang âm đạo qua nội soi ổ bụng(2)

Tại bệnh viện Chợ Rẫy bắt đầu áp dụng phẫu thuật nội soi điều trị dò bàng quang âm đạo từ tháng 2/2006

Chúng tôi giới thiệu phương pháp tiến hành, rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả bước đầu điều trị những bệnh

nhân không may bị rò bàng quang- âm đạo

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Bệnh nhân được chẩn đoán dò bàng quang âm đạo với soi bàng quang, làm nghiệm pháp 3 cục bông gòn,

chụp X- quang hệ niệu có cản quang (UIV) và siêu âm để chẩn đoán phân biệt với dò niệu.quản- âm đạo Chúng

tôi lựa chọn những bệnh nhân có dò bàng quang âm đạo chưa được điều trị dò trước đó, hoặc đã mổ hở trước đó

thất bại

Trang 3

Hình 1: hình ảnh dò bàng quang âm đạo trên soi bàng quang và cystography

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả tất cả các trường hợp nhập viện điều trị được chẩn đoán xác định rò bàng quang- âm đạo có

chỉ định mổ nội soi sớm không chờ đợi đến 3 tháng như kinh điển và ghi nhận về: nguyên nhân gây rò, thời gian

từ khi rò đến lúc phẫu thuật, thương tổn rò, vị trí và số lượng trocar, thời gian mổ, phẫu thuật qua bàng quang

hay qua ổ bụng, thời gian lưu thông bàng quang để chuyển lưu nước tiểu, theo dõi và đánh giá kết quả sau khi

rút thông dẫn lưu bàng quang

Các bước tiến hành phẫu thuật

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, nằm tư thế sản phụ khoa trong tất cả các trường hợp:

- Phẫu thuật nội soi ổ bụng: Nội soi bàng quang đặt 2 thông niệu quản 6F Vào ổ bụng bằng 1 trocar 10

mm dưới rốn, quan sát đánh giá toàn ổ bụng và đặt 2 trocar 5 mm ở hai hố chậu Tìm và đi vào mặt sau

bàng quang dễ dàng thấy những dấu hiệu gián tiếp gần lỗ rò như: tổ chức co rút, chỉ khâu chưa tan, mạc nối

hay các quai ruột đến bám…Bóc tách giải phóng các tổ chức hay tạng Chủ động mở bàng quang đến vị trí

lỗ rò, bóc tách riêng biệt 2 lớp, khâu âm đạo, khâu bàng quang riêng từng lớp (bàng quang có thể khâu mũi

rời hay khâu vắt) Dẫn lưu Douglas Đặt thông tiểu lưu tối thiểu 2- 3 tuần

- Phẫu thuật nội soi qua bàng quang: Bệnh nhân được soi bàng quang đánh giá kích thước, vị trí lỗ rò so với

đường giữa, gờ liên niệu quản và 2 miệng niệu quản Đặt 2 thông niệu quản 6 F để nhận diện và bảo vệ niệu quản

trong suốt quá trình phẫu thuật và tiếp tục lưu thêm 4- 5 ngày hậu phẫu Một cuộn gạc tròn trong 1 condom,

được đặt trong âm đạo chèn lỗ rò để tránh cho bàng quang xẹp Sau này chúng tôi khi soi bàng quang đặt một

guidwire qua lỗ rò âm đạo, luồng sonde foley 10 Fr bơm bóng cố định không cho CO2 xì ra ngoài đồng thời làm

móc để bóc tách lỗ rò Dưới hướng dẫn của máy soi bàng quang đặt 2 trocar 10mm trên bụng vào bàng quang,

đặt 1 trocar 5mm qua niệu đạo, khâu cố định các trocar và chuyển sang bơm hơi vào bàng quang, đẩy hết nước

trong bàng quang sau đó tiến hành phẫu thuật nội soi Vị trí 2 trocar trên bụng, phẫu thuật viên và màn hình

monitor tùy thuộc vị trí lỗ rò Tiến hành bóc tách xuyên bàng quang và âm đạo thành 2 lớp riêng biệt rộng rãi,

khâu lại từng lớp với mũi khâu rời bằng Vicryl 2.0 hoặc 3.0, xóa khoảng chết, tránh chảy máu Mở bàng quang ra

da và đặt thông niệu đạo lưu

KẾT QUẢ

Trang 4

Nguyên nhân Số ca Tỷ lệ (%)

Mổ cắt tử cung và 2 phần phụ (mổ

hở)

Mổ cắt tử cung và 2 phần phụ (nội

soi)

- Thời gian từ khi phát hiện rò đến lúc phẫu thuật: 26 ± 21 tháng, sớm nhất 1 tháng và lâu nhất 240 tháng

Trong 25 trường hợp có một trường hợp lỗ rò để hơn 20 năm (bệnh nhân được mổ bắt con năm 1973, đến năm

1987 mổ sỏi bàng quang; một trường hợp biết rò bàng quang hơn 10 năm)

- Thời gian phẫu thuật trung bình: 214 ± 38 phút, nhanh nhất 80 phút, lâu nhất 410 phút

- Thời gian nằm viện trung bình: 11 ± 1,9 ngày Sớm nhất 7 ngày, lâu nhất 21 ngày Đây là hai bệnh nhân

người Campuchia muốn chắc chắn hết rò mới về

- Diện tích lỗ rò trung bình: 1,7 ± 0,2 cm (nhỏ nhất, lớn nhất)

- Có 16 trường hợp phẫu thuật nội soi qua ổ bụng 14 trường hợp chủ động chỉ định ngay từ đầu,2 trường

hợp quyết định ban đầu là nội soi xuyên bàng quang nhưng khi đặt trocar thấy bàng quang không căng và hơi

thoát vào ổ bụng quyết định chuyển sang nội soi ổ bụng.1 trường hợp nội soi vào ổ bụng phát hiện đại tràng

sigma bám chặc tử cung và túi cùng Douglas nên chuyển sang mổ hở

- 12 trường hợp nội soi xuyên bàng quang thành công với hai trocar 10mm ở trên xương mu và một trocar

5mm ở niệu đạo

- Thời gian lưu thông bàng quang chuyển lưu nước tiểu: 14 ± 1.7 ngày, sớm nhất 14 ngày, lâu nhất 21 ngày

(bệnh nhân người Campuchia)

- Có trường hợp nào phải chuyển mổ hở, là do bệnh nhân được mổ cắt tử cung, do ung thư cổ tử cung

- Kết quả bước đầu:

Hình 2: Khâu chỗ rò bàng quang âm đạo qua nội soi ổ bụng và qua nội soi bàng quang

BÀN LUẬN

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây rò bàng quang âm đạo đối với các nước phát triển hơn 90% do tổn thương phẫu

thuật sản phụ khoa trong đó nguyên nhân đứng hàng đầu là do cắt tử ung qua ngả bụng với tỷ lệ 1/1800

hoặc do xạ trị ung thư vùng chậu Trong khi đó, ở các nước đang phát triển thì nguyên nhân gây rò thường

liên quan đến chuyển dạ kéo dài và thương tổn thường phức tạp Trong nghiên cứu của chúng tôi nguyên

Trang 5

nhân gây rò chủ yếu do cắt tử cung 19/28 trường hợp (67,8%) chỉ 1 trường hợp do chuyển dạ kéo dài phải

mổ bắt con do bất xứng đầu chậu, thương tổn lớn 3 cm Không có trường hợp nào do xạ trị

Chẩn đoán

Không khó khăn với soi bàng quang, nghiệm pháp ba cục bông gòn Siêu âm bụng và chụp x quang hệ niệu

có cản quang để phát hiện thương tổn kèm theo, 10% rò bàng quang âm đạo có kèm theo rò niệu quản Trong

nghiên cứu này không có trường hợp nào có tổn thương kèm theo

Diện tích lỗ rò

Với lỗ rò nhỏ từ 2 - 3 mm có thể điều trị bảo tồn với đặt thông tiểu tùy tác giả, thời gian đặt thông điều trị bảo

tồn từ 4 - 12 tuần Trong nghiên cứu này lỗ rò trung bình 1,7 ± 0,2 cm, có 2 trường hợp lỗ rò có kèm chỉ khâu sau

khi cắt chỉ lỗ rò lớn 3 cm, không có trường hợp hợp nào điều trị bảo tồn

Thời gian từ khi rò đến lúc phẫu thuật

Thời gian từ khi rò đến lúc phẫu thuật vẫn còn nhiều bàn cãi Trước đây đa số các tác giả đề nghị thời gian

thích hợp để tiến hành phẫu thuật từ 8 đến 12 tuần sau khi phát hiện thương tổn rò để tránh viêm nhiễm, phù nề

và hoại tử mô nhất là những trường hợp chuyển dạ kéo dài Tuy nhiên, gần đây với những thương tổn rò không

phức tạp, tình trạng mô âm đạo tương đối không rối loạn do lần mổ trước, thể trạng bệnh nhân tốt có thể tiến

hành mổ sớm ngay sau khi phát hiện rò(1) (Margolis and Mercer, 1994; Blandy et al, 1991; Blaivas et al, 1995;

Langkilde et al, 1999) và tỷ lệ thành công lên tới 90% trong mổ hở Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian tiến

hành phẫu thuật sau khi phát hiện dò trung bình 2-3 tháng, sớm nhất 1 tháng và trễ nhất là hơn 20 năm (1 trường

hợp)

Thời gian gần đây, khoa Tiết niệu của bệnh viện Chợ Rẫy đã bắt đầu tiến hành mổ sớm những trường hợp

phát hiện và chẩn đoán rò bàng quang âm đạo, điều này giúp cho bệnh nhân không phải chịu đựng cảnh nước

tiểu ra âm đạo liên tục, phải mang tã lót liên tục, rất bất tiện cho việc đi lại, sinh hoạt, làm việc, hoàn toàn xa lánh

mọi người.Thậm chí, một số cặp vợ chồng trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt vợ chồng

Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật nội soi cung cấp một phương pháp để thay thế phẫu thuật mổ mở, tôn trọng các nguyên tắc phẫu

thuật: bộc lộ rõ đường rò, cắt bỏ mô xơ quanh lỗ rò, bóc tách rộng rãi giữa 2 lớp, không khâu căng, tránh chảy

máu, tránh khoảng chết, nhét mạc nối giữa bàng quang và âm đạo, dẫn lưu bàng quang hiệu quả (Sotelo et al,

2005)(5) Việc lựa chọn đường vào tùy thuộc thói quen và kinh nghiệm của phẫu thuật viên

Khởi đầu nghiên cứu chúng tôi chọn ngã nội soi qua ổ bụng, nhưng sau khi triển khai nội soi qua ngã bàng

quang để cắm lại niệu quản, túi thừa bàng quang… chúng tôi nhận thấy có nhiều thuận lợi hơn và nhẹ nhàng

hơn cho bệnh nhân nhưng với 3 điều kiện cần: Dung tích bàng quang, độ giãn nở của bàng quang và vị trí đặt

trocar thuận lợi

Chibber (1)

(n = 8)

Sotelo

2005 (5)

(n = 15)

Bệnh viện Chợ Rẫy (n = 27)

Thời gian phẫu

thuật (phút)

Thời gian lưu

thông BQ (ngày)

Thời gian nằm

viện (ngày)

Thời gian theo dõi

(tháng)

Thành công (%) 8/8 (100%) 14/15 (93%) 25/27 (92,6

%)

Kết quả phẫu thuật

Tỷ lệ thành công phẫu thuật dò bàng quang âm đạo khoảng 75 – 95%, thất bại khoảng 10% Tỷ lệ thành công

của phẫu thuật nội soi của chúng tôi không khác với các tác giả tại các trung tâm khác Tuy nhiên theo Theobald

Trang 6

Kristensen and Lose

(1994)

KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi điều trị rò bàng quang âm đạo là một phẫu thuật hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho

bệnh nhân, hoàn toàn có thể thay thế phẫu thuật mổ hở kinh điển Tuy nhiên cần phẫu thuật viên có kinh nghiệm

và quen với phẫu thuật nội soi đường Tiết niệu

Việc tôn trọng các nguyên tắc phẫu thuật như: cắt lọc mô xơ, bóc tách riêng 2 lớp rộng rãi, khâu không căng

(tension free), tránh khoảng chết, tránh chảy máu và dẫn lưu bàng quang tốt là những nhân tố quan trọng giúp

cuộc mổ thành công

Cần có thời gian theo dõi và số lượng bệnh nhân để đánh giá chính xác và hoàn thiện kỹ thuật mổ nội soi

Bệnh nhân dò bàng quang âm đạo đã được can thiệp sớm bằng phương pháp nội soi bước đầu đạt được kết

quả đáng được khích lệ tại khoa Tiết niệu của bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi hy vọng rằng sấp tới đây chúng tôi sẽ

tiến hành mổ sớm hơn nữa cho những bệnh nhân không may bị biến chứng rò bàng quang âm đạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chibber PJ (2005), Laparoscopic O’Conor’s repair for vesico-vaginal and vesico-uterine fistulae BJU

International, 96, 183 – 186

2 Nezhat CH., Nezhat F., Nezhat C., Rottenberg H (1994) Laparoscopic repair of versicovaginal fist:

Acase report Obstet Gynecol.;83;899-901

3 Ou CS et al (2004), Laparoscopic repair of vesicovaginal fistula J Laparoendosc Adv Surg Tech A,; 14:17

4 Romics I (2002), The diagnosis and management of vesicovaginal fistulae, BJU International, 89, 764–

766

5 Sotelo R (2005), Laparoscopic repair of vesicovaginal fistula J Urol.; 173(5):1615-8

6 Von Theobald et al.(1998), Laparoscopic repair of a vesicovaginal fistula using an omental J flap Br J

Obstet Gynaecol; 105:1216

7 Wein AJ (2007) Vesicovaginal Fistula. Campbell-Walsh Urology, 9th ed 2007

8 Wong C (2006), Laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal fistula repair, J Endourol.; Apr;

20(4): 240-3

Ngày đăng: 21/01/2020, 01:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w