1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

185-192Vai trò của mặt nạ thanh quản proseal trong gây mê phẫu thuật cấp cứu cắt ruột thừa nội soi

9 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 169,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tính an toàn, hiệu quả thông khí và ưu điểm của mặt nạ thanh quản proseal (PLMA) trong gây mê phẫu thuật nội soi cấp cứu cắt ruột thừa so với phương pháp đặt nội khí quản. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA MẶT NẠ

THANH QUẢN PROSEAL

TRONG GÂY MÊ PHẪU

THUẬT CẤP CỨU CẮT RUỘT

THỪA NỘI SOI

Nguyễn Văn Chinh *,

Nguyễn Văn Chừng*, Lê Hữu Bình*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát tính an toàn,

hiệu quả thông khí và ưu ñiểm của mặt nạ

thanh quản Proseal(PLMA) trong gây mê

phẫu thuật nội soi cấp cứu cắt ruột thừa

so với phương pháp ñặt nội khí

quản(NKQ)

Phương pháp nghiên cứu: Tiền

cứu, phân tích, can thiệp lâm sàng Chúng

tôi tiến hành nghiên cứu trên 131 bệnh

nhân chia thành 2 nhóm ngẫu nhiên PLMA

và NKQ.Thu thập các số liệu: tuổi, giới

tính, các bệnh kèm theo, tỷ lệ ñặt thành

công, thời gian ñặt dụng cụ, mạch, huyết

áp, SpO 2 , ETCO 2 , áp lực ñường thở cùng

với các tai biến, biến chứng trong quá

trình gây mê và sau phẫu thuật

Kết quả: Tỷ lệ ñặt thành công

100%( lần ñầu 90,90%, lần hai 9,10%),

thời gian ñặt trung bình 26,05 giây Các

nghiệm pháp xác ñịnh vị trí phát hiện ñặt

sai 6 trường hợp và tất cả ñiều chỉnh

thành công Không khác biệt về hiệu quả

thông khí giữa 2 nhóm Nhóm PLMA ổn

ñịnh huyết ñộng hơn nhóm NKQ nhất là

giai ñoạn ñặt và rút dụng cụ Không

trường hợp xảy ra trào ngược và hít sặc

Kết luận: Phương pháp gây mê

toàn diện PLMA có tính an toàn và hiệu

quả trong phẫu thuật nội soi cắt ruột

thừa

Từ khóa: Mặt nạ thanh quản cổ

ñiển, mặt nạ thanh quản Proseal, ống nội

khí quản

SUMMARY

THE ROLE OF PROSEAL

LARYNGEAL MASK AIRWAY FOR

ANESTHESIA

* Đại học Y Dược TP HCM

OF LAPAROSCOPIC APPENDECTOMY SURGERY

Nguyen Van Chinh, * Nguyen Van

Chung*, Le Huu Binh* Objectives: Compare proseal laryngeal mask airway (PLMA) with endotracheal tube( ETT) with respect to safety, pulmonary ventilation and advantages

Methods: Prospective, randomized

study One hundred and thirty-one laparoscopic appendectomy anesthetized patients (ASA I, II) were randomly allocated for airway management with the PLMA or ETT Ages, sex, coexisting medical illnesses, insertion success rates, insertion time, pulse rate, blood pressure, SpO2, ETCO2, airway pressure and accidents were recorded during and after anesthesia

Results: Insertion success rates

were 100% (first and second attempt success were 90.90% and 9.10% respectively), median insertion time was 26.05s Special tests which confirm incorrect positions recognize 6 cases but all reinsert successfully There were no differences in pulmonary ventilation for both groups The haemodynamic changes

to insertion and removal were greater for ETT than PLMA No cases of regurgitation

or aspiration were recorded

Conclusion: Anesthesia with PLMA for laparoscopic appendectomy surgery is safe and effective

Keywords: Clasic laryngeal mask

airway, proseal laryngeal mask airway, intubation tube

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm ruột thừa cấp là bệnh ngoại khoa thường gặp trong cấp cứu hàng ngày của các bệnh viện [15]Gây mê nội khí quản là tiêu chuẩn vàng cho vô cảm ñể mổ cắt ruột thừa nội soi [1],[12], bởi lẽ nó ñảm bảo chắc chắn ñường thở chống lại nguy cơ trào ngược mà có lẽ do phẫu thuật cấp cứu nội

Địa chỉ liên hệ: ThS.BS Nguyễn Văn Chinh,

0903885497, Email:

chinhnghiem2006@yahoo.com

Trang 2

soi có thể ñem lại Tuy nhiên nó cũng có

nhiều nhược ñiểm ñó là: rối loạn huyết

ñộng nhiều khi ñặt và rút ống, tỉ lệ ñau

họng hậu phẫu cao cũng như các bệnh hầu

họng sau khi ñặt nội khí quản cũng cao, và

cũng góp phần gây ñau hậu phẫu [11],[16]

Mặt nạ thanh quản lần ñầu tiên ñược

sử dụng là vào năm 1981 do bác sĩ người

Anh Archie Brain 8 Tuy nhiên nó chỉ là

mặt nạ thanh quản cổ ñiển (CLMA) chỉ

giải quyết ñược các vấn ñề xâm lấn của

nội khí quản như: giảm ñau họng, ho, khàn

tiếng…nhưng nó vẫn còn có nhiều nhược

ñiểm: không chịu ñược áp lực cao khi

thông khí với áp lực dương, dễ gây chướng

hơi dạ dày và tăng nguy cơ hít phải dịch dạ

dày nhất là trong phẫu thuật cấp cứu

Năm 2000, bác sĩ Archie Brain và

ñồng nghiệp thiết kế một loại mặt nạ mới

có tên là mặt nạ thanh quản Proseal

(PLMA)[3] có nhiều ưu ñiểm hơn mặt nạ

thanh quản cổ ñiển là kiểm soát thông khí

tốt hơn, chịu áp lực cao khi thông khí với

áp lực dương và tách biệt ñường thở và

ống tiêu hóa, dẫn lưu dịch dạ dày, sử dụng

nhanh[5],[6]

Tại ñơn vị chúng tôi, chúng tôi nhận

thấy nguy cơ hít sặc trong các phẫu thuật

cấp cứu nội soi cắt ruột thừa ñối với các

bệnh nhân không kèm theo các yếu tố

nguy cơ hít sặc khác thì tương ñối thấp do

chúng tôi có thói quen là hồi sức nội khoa

và dặn bệnh nhân nhịn ăn ít nhất 6 giờ

trước phẫu thuật Vả lại chúng tôi bị thuyết

phục rằng mặt nạ thanh quản Proseal ít

xâm lấn hơn ống nội khí quản và chống

trào ngược tốt hơn mặt nạ thanh quản cổ

ñiển Chính vì những lí do trên mà chúng

tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu

sau:

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát tính an toàn, hiệu quả thông

khí và ưu ñiểm của mặt nạ thanh quản

Proseal trong gây mê phẫu thuật nội soi

cấp cứu cắt ruột thừa so với phương pháp

ñặt nội khí quản

Mục tiêu chuyên biệt

 Khảo sát tính an toàn thông qua:

ñánh giá khả năng phòng ngừa hít

sặc

 Khảo sát hiệu quả thông khí qua: ñánh giá sự biến ñổi của các thông số: áp lực thông khí, SpO2, ETCO2,

dò khí

 Khảo sát ưu ñiểm so với nội khí quản thông qua: ñánh giá sự biến ñổi huyết ñộng trong gây mê, ñánh giá giảm các tai biến, biến chứng trong quá trình gây mê và sau phẫu thuật, ñánh giá khả năng chấp nhận của bệnh nhân ñối với từng phương pháp

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu và lấy số liệu tại bệnh viện Bình Dân, thành phố Hồ Chí Minh Thời gian thực hiện: từ tháng 10 năm 2008 ñến tháng 06 năm 2009

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Tất cả bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên

- ASA I, II

- Bệnh nhân viêm ruột thừa cấp ñược chỉ ñịnh phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa

- Bệnh nhân ñã nhịn ñói ít nhất 6 giờ

Tiêu chuẩn loại trừ

- Chống chỉ ñịnh mặt nạ thanh quản Proseal: béo phì nặng (BMI

>35kg/m2 ), mang thai, dạ dày ñầy

- Chống chỉ ñịnh phẫu thuật nội soi

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: tiền cứu,

phân tích, can thiệp lâm sàng Chia thành 2 nhóm ngẫu nhiên:

Nhóm 1: gây mê toàn diện với mặt

nạ thanh quản Proseal

Nhóm 2: gây mê toàn diện với nội khí quản

nhân ñược thăm khám tiền mê, ñánh giá nguy cơ phẫu thuật theo ASA, giải thích

và kí cam kết trước mổ

Tiền mê: midazolam 0,04mg/kg (IV) + fentanyl 2-3mcg/kg (IV)

Khởi mê: Cho bệnh nhân thở dưỡng khí trước khởi mê 3-5 phút Propofol tiêm mạch 2-2,5 mg/kg hoặc etomidate tiêm mạch 0,2-0,3 mg/kg Rocuronium tiêm

Trang 3

mạch 0,4-0,6 mg/kg hoặc atracurium 0,5

mg/kg ở bệnh nhân bệnh gan, thận Khi ñạt

ñược tác dụng dãn cơ (ñủ thời gian tác

dụng hoặc dấu hiệu dãn hàm) thì tiến hành

ñặt mặt nạ thanh quản Proseal hoặc nội khí

quản Sau khi ñặt PLMA tiến hành làm

nghiệm pháp xác ñịnh vị trí và ñiều chỉnh

khi sai vị trí Kết nối với vòng gây mê

Duy trì mê: dưỡng khí và isoflurane

hoặc sevoflurane.Fentanyl và dãn cơ

nếu cần

Thu thập số liệu

Tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao,

bệnh kèm theo, ASA, tỷ lệ thành công,

thời gian ñặt, nhịp thở, mạch, huyết áp,

SpO2, ETCO2, ECG, áp lực ñường thở

cùng với các tai biến, biến chứng trong

quá trình gây mê và sau phẫu thuật

Xử lý và phân tích số liệu:

 Chúng tôi xử lý số liệu theo

chương trình SPSS 11.5

Được xác ñịnh khác biệt có ý nghĩa thống

kê khi P < 0,05

KẾT QUẢ

Bảng 1.1: Đặc ñiểm chung của bệnh

nhân

Nhóm

Thông số

P-LMA (n=66) (TB±ĐLC)

NKQ (n=65) (TB±ĐLC)

P

Na

m

28(42,42%) 26(40,00%) 0.12

Giớ

i

Nữ 38(57,58%) 39(60,00%) 0,20

I 42 (63,64%) 42 (64,61%) 0.42

ASA

II 24

(36,36%)

(72,73%)

Mal

lam

pati II 18

(27,27%)

15 (23,08%)

0.08

Bảng1.2- Các chỉ số về hiệu quả thông

khí

Nhóm

Thông số

P-LMA (n=66)

NKQ (n =65)

P

± 0.67

98,81±

0,97

0.93

Áp lực ñường thở

trước bơm thán khí

14,57

± 0,49

15,13 ± 0,13

0,46

Áp lực ñường thở sau

bơm thán khí

18,79

± 1,38

19,24 ± 2,19

0,53

ETCO 2 trước bơm thán khí (mmHg)

32,56

± 2,03

31,26 ± 2,22

0.67

ETCO 2 sau bơm thán khí (mmHg)

36,45

± 4,52

37,35 ± 5,97

0,53

Bảng1.3- Các chỉ số về huyết ñộng

Nhóm

Huyết

áp

P-LMA

(n=66) (mmHg)

P

NKQ

(n=65) (mmHg)

P

HATĐ T-1D

HATĐ T+D

111,43±9,27

104,64±8,35

0.06

109,36±12,51

135,39±18,24

0.001

HATĐ T-1B

HATĐ T+1B

103,68±10,28

122,41±9,36

0.001

108,36±14,12

125,37±19,15

0.001

HATĐ T-1X

HATĐ T+1X

121,38±11,24

117,57±12,37

0.07

120,30±17,25

115,26±12,37

0.06

HATĐ T-1R

HATĐ T+1R

115,83±11,24

117,37±12,59

0.12

114,38±12,47

138,37±18,72

0.001

0 5 10 15 20 25

Thoi gian(phut)

PLMA NKQ

Biểu ñồ1.1 : Đường biểu diễn áp lực ñường thở

95 95.5 96 96.5 97 97.5 98 98.5 99 99.5 100

T™ T- 1D 1D

T-1 B T+ T5 T1 0 T20 T30 T40 T-1X

T+ T-1 R T+1RT+5R

Thoi gian(phut)

PLMA NKQ

Biểu ñồ1.2 : Đường biểu diễn SpO2

Trang 4

10

20

30

40

50

T-1B T+1B T5 T10 T20 T30 T40 T-1X T+1X

Thoi gian(phut)

PLMA NKQ

Biểu ñồ 1.3: Đường biểu diễn ETCO2

75

80

85

90

95

100

Thoi gian(phut)

Biểu ñồ 1.4: Đường biểu diễn mạch

0

20

60

80

100

140

T™ T-1D T+1D T-1B T+1B T5 T10 T20 T30 T40 T-1X T+1X T-1R T+1R T+5R

Thoi gian(phut)

PLMA NKQ

Biểu ñồ1.5: Đường biểu diễn huyết áp tối ña

Bảng1.4: Tai biến và biến chứng

Các tai biến,

biến chứng

P-LMA (n=66)

NKQ (n=65) Kích thích

vùng vẫy lúc

rút

Khàn tiếng 0 (0%) 6(9.23%)

Nôn và buồn

nôn

Chảy máu 5(7.58%) 3(4.62%)

Trào ngược 0(0%) 0(0%)

BÀN LUẬN

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH

NHÂN

Trong nghiên cứu chúng tôi, bệnh nhân

của 2 nhóm không khác biệt về tuổi, BMI,

giới tính, phân loại nguy cơ phẫu thuật

ASA, ñánh giá Mallampati, các bệnh kèm

theo

Tỷ lệ bệnh nhân nữ chung của 2 nhóm

bị viêm ruột thừa ở nghiên cứu của chúng

tôi là 59% nhiều hơn bệnh nhân nam

(41%), tỷ lệ này cũng phù hợp với nghiên

cứu của Lê Văn Nghĩa 15[15] BMI trung

bình của nhóm NKQ là 21,41±6,12, nhóm

PLMA là 21,99±5,65 không khác biệt về mặt thống kê Giới và chỉ số BMI có liên quan mật thiết ñến việc chọn lựa kích cỡ của PLMA khi ñặt Thông thường có hai cách chọn cỡ mặt nạ thanh quản là dựa vào cân nặng và giới tính Theo nhà sản xuất khuyến cáo thì chọn cỡ PLMA theo cân nặng[3] Còn theo Kihara[13] nghiên cứu trên bệnh nhân người Nhật và dựa vào ñánh giá tính dễ ñặt, ñặt ñúng vị trí thông qua ống nội soi mềm chỉ thấy 2 dây thanh

âm hoặc thấy 2 dây thanh âm và các thành phần phía sau nắp thanh môn thì tác giả ñưa ra lựa chọn cỡ số 3-4 cho nữ, cỡ số

4-5 cho nam Để dung hòa 2 ý kiến trên trong nghiên cứu của chúng tôi chọn cỡ số

3 cho bệnh nhân nữ <50 kg, số 4 cho bệnh nhân nam >50 kg Ngoài ra chúng tôi cũng kết hợp thêm với việc ñánh giá cấu trúc vùng hầu họng ñể chọn lựa kích cỡ dụng

cụ cho phù hợp[2],[10]

KỸ THUẬT ĐẶT MẶT NẠ THANH QUẢN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi,

tỷ lệ thành công lần ñầu là 90,90%, và tỷ

lệ thành công sau 2 lần ñặt là 100%, tương

tự với các tác giả [2],[14] Chúng tôi nhận thấy rằng ñể thành công khi ñặt PLMA thì cần phải có những yếu tố sau: cấu trúc giải phẫu vùng hầu họng bình thường, sự thành thạo về kỹ thuật ñặt, chọn cỡ LMA cho thích hợp, chọn liều lượng thuốc mê, phối hợp các loại thuốc mê, cũng như thời ñiểm ñặt với ñộ mê thích hợp Theo nhà sản xuất khuyến cáo thì có 3 cách ñặt: ñặt bằng dụng cụ, bằng ngón trỏ, bằng ngón cái Hiện tại không có nhiều nghiên cứu báo cáo cho thấy sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ thành công giữa các kỹ thuật này[11] Ngoài ra còn có các cách ñặt khác như: ñặt bằng ngón trỏ cải tiến, kĩ thuật là dùng một catheter hút khí quản cho qua ống dẫn lưu ñóng vai trò như một vật hướng dẫn ñể ñưa chính xác vào cơ thắt thực quản Nghiên cứu báo cáo kết quả tỷ lệ thành công 100% cho lần ñặt ñầu tiên tương ñương với kĩ thuật GEB (gum-elastic-bougie)[4] Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi chọn kĩ thuật chủ ñạo là ñặt qua dụng cụ vì ñó là phương pháp mà chúng

Trang 5

tôi thành thạo nhất, dĩ nhiên chúng tôi

cũng dự phòng các kĩ thuật khác khi thất

bại Trong nghiên cứu có 6 trường hợp ñặt

lần 2, trong ñó có 4 trường hợp ñặt nông

theo chúng tôi nghĩ là do lúc tháo dụng cụ

(introducer), PLMA bị kéo theo Như vậy

cho thấy bước tháo dụng cụ ( introducer)

là hết sức quan trọng trong phương pháp

ñặt PLMA bằng dụng cụ

Thời gian ñặt ở nhóm PLMA ngắn

hơn nhóm NKQ có ý nghĩa thống kê với

p<0,05 phù hợp với kết quả của các tác

giả[6],[13] So với sử dụng ống NKQ thì khi

dùng mặt nạ thanh quản ñôi tay của người

gây mê cũng ñược giải phóng như nhau

tuy nhiên thao tác ñặt mặt nạ thanh quản

tương ñối ñơn giản, dễ ñặt, học vài lần là

ñược Ưu ñiểm này thuận lợi trong các

trường hợp cần cấp cứu ñường thở khẩn

cấp nhất là giai ñoạn cấp cứu ban ñầu

Thể tích bơm bóng hơi ảnh hưởng

ñến áp lực chèn ép của bóng hơi và ảnh

hưởng ñến sự tưới máu niêm mạc hầu

họng Sự tăng áp lực của bóng hơi sẽ làm

tăng các biến chứng sau mổ ở vùng họng

thanh quản như : ñau họng, khó nuốt, khó

nói và tổn thương thần kinh Ngoài ra thể

tích bơm bóng cũng ảnh hưởng ñến áp lực

kín của mặt nạ thanh quản Chính vì vậy,

nhà sản xuất khuyến cáo các mức thể tích

bơm bóng hơi tối ña cho mặt nạ thanh

quản Proseal: cỡ số 3 bơm tối ña 20 ml khí

; cỡ số 4 bơm tối ña là 30 ml khí ; cỡ số 5

là 40 ml khí và áp lực bóng hơi tối ña cho

phép ≤ 60 cm H2O, nhằm ñể giảm những

biến chứng vùng họng, thanh quản

Mặt nạ thanh quản Proseal là một

dụng cụ thông khí có nhiều ưu ñiểm nhưng

vẫn có những nhược ñiểm của nó, trong ñó

ñáng ngại nhất là viêm phổi do hít phải

dịch vị trào ngược Tuy nhiên nếu ñặt

ñúng vị trí thì nó có khả năng chống trào

ngược tốt Vì vậy kiểm tra vị trí ñặt mặt nạ

có ñúng hay không là ñiều hết sức cần

thiết Đặt ñúng khi một ñầu tự do của mặt

nạ tựa nhẹ vào thanh môn còn ñỉnh thì tựa

vào cơ thắt trên của thực quản Có nhiều

yếu tố ñể xác ñịnh ñã ñặt ñúng vị trí mặt

nạ thanh quản:

 Quan sát thấy sự di chuyển ra

ngoài nhẹ của ống khi bơm hơi, xuất hiện vòng hình oval ở cổ quanh khu vực sụn giáp và sụn nhẫn, hoặc không nhìn thấy bóng hơi trong khoang miệng

 Bộ phận chống cắn nên nằm giữa răng và lớn hơn 50% ñộ sâu nằm trong miệng

 Bóp bóng nhẹ tay và lồng ngực nở cân xứng

 Không nghe rò khí ở miệng, không thổi hơi vào dạ dày và không tiếng rít thanh quản

 Đường biểu diễn ETCO2 có hình vuông và ETCO2 ≤ 45 mmHg

 SpO2 ≥ 95%, áp lực ñường thở ≤

35 cmH20

 Nghiệm pháp bong bóng âm tính

 Nghiệm pháp ấn hõm ức dương

tính

 Đặt ống dạ dày ñể kiểm tra, nếu ống dạ dày không qua ñược có thể mặt nạ ñã bị gập

Có 3 vị trí sai lệch quan trọng khi ñặt là:

1 Đầu xa của bóng hơi nằm quá cao

sai lệch thường gặp nhất Trong nghiên cứu của chúng tôi gặp 4 trường hợp (6,07%), sau khi phát hiện chúng tiến hành ñẩy PLMA sâu thêm nữa và kiểm tra lại nhưng vẫn không ñược nên rút ra và ñặt lại lần 2 thành công

2 Đầu của bóng hơi nằm trong nắp thanh môn: trong nghiên cứu của chúng

tôi phát hiện 1 trường hợp chiếm 1,51% và chúng tôi nhanh chóng rút ra ñặt lại thành

công

Cả 2 sai lệch loại trên sẽ giảm nếu kĩ thuật ñặt thành thạo, làm xẹp bóp hơi hoàn toàn ñúng tiêu chuẩn trước khi ñặt và cẩn trọng ở thì rút introducer sau khi ñặt

3.Đầu bóng hơi bị gập ra sau: khi ñặt

sai vị trí mặt nạ thanh quản như trong trường hợp này, thì nguy cơ cao dẫn ñến bơm hơi vào dạ dày và hít sặc cao Nghiên cứu của chúng tôi, có 1 trường hợp bóng hơi gập ngược ra sau chiếm tỷ lệ 1,51% Trong trường hợp này chúng tôi rút PLMA

ra và ñặt lại ngay nên thông khí an toàn và hiệu quả

Trang 6

THÔNG KHÍ

Chúng tôi ñánh giá thông khí gọi là

hiệu quả khi: áp lực ñường thở ≤ 35 cm

H2O, SpO2 ≥ 95%., ETCO2 duy trì 35 - 45

mmHg, lồng ngực dãn nở cân xứng, không

nghe rò khí qua miệng và không bơm hơi

vào dạ dày

Theo khuyến cáo áp lực thông khí ≤ 35

cmH2O với mặt nạ thanh quản Proseal khi

ñã ñặt ñúng vị trí thì thông khí sẽ an toàn

và hiệu quả Trong nghiên cứu của chúng

tôi, không bệnh nhân nào có bệnh về ñàn

hồi phổi, không có bệnh nhân béo phì, áp

lực ñường thở của nhóm P-LMA và NKQ

trước và sau bơm thán khí khác biệt không

có ý nghĩa thống kê với P>0,05 Ap lực

ñường thở trước và sau bơm thán khí của

từng nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê

với P<0,05 Ap lực sau khi bơm thán khí

lớn hơn trước khi bơm nhưng nằm trong

giới hạn cho phép, kết quả này cũng tương

tự với các tác giả khác [10],[17]

Sp02 giữa hai nhóm PLMA: 98,67 ±

0,67% và nhóm NKQ: 98,81 ± 0,97%,

khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P

> 0,05 SpO2 luôn luôn dao ñộng từ 98%

ñến 100%, chỉ riêng tại thời ñiểm sau khi

rút 1 phút SpO2 có thấp hơn, nhưng nằm

trong giới hạn cho phép >95% Nhưng sau

rút 5 phút thì SpO2 của 2 nhóm trở về bình

thường PLMA cao hơn nhóm NKQ một ít,

do sau rút thì nhóm PLMA ít kích thích

vùng vẫy hơn, nên thở tốt hơn Kết quả

này cũng tương tự với Maltby [14] Như

vậy cho thấy hiệu quả thông khí của

PLMA và NKQ là như nhau

ETCO2 giữa hai nhóm PLMA và NKQ

khác biệt nhau không có ý nghĩa thống kê

với p>0.05 Tuy nhiên sau bơm thán khí,

ETCO2 của cả 2 nhóm tăng lên có ý nghĩa

thống kê so với trước khi bơm hơi Sự

giảm trao ñổi khí trong quá trình gây mê

cũng là 1 yếu tố làm ưu thán Vì vậy thông

khí kiểm soát với áp lực dương có thể cải

thiện phần nào tình trạng này Theo nghiên

cứu của Dubecz S Jr và cộng sự [9] bệnh

nhân cắt túi mật nội soi có bơm thán khí

không có tiền sử tim mạch và hô hấp thì

thấy có tăng ETCO2 sau khi bơm thán khí

vào ổ bụng, và tác giả cũng cho rằng nên

tăng thông khí ñể ngăn ngừa tình trạng ưu thán Tuy nhiên tác giả không ñề cập cụ thể tăng bao nhiêu ñể bù trừ Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân ñược thông khí kiểm soát, thể tích khí lưu thông tăng

từ 10ml/kg/phút lên ñến 12ml/kg/phút vì thế ETCO2 dao ñộng trong khoảng 30-40 mmHg

HUYẾT ĐỘNG

Trong nghiên cứu chúng tôi tiến hành

so sánh sự biến ñổi huyết ñộng của nhóm PLMA với NKQ qua các thì quan trọng của một cuộc phẫu thuật nội soi bơm hơi ổ bụng, ñó là: trước và sau khi ñặt dụng cụ, trước và sau khi bơm hơi, trước và sau khi

xả hơi, trước và sau khi rút dụng cụ Mạch, huyết áp tại thời ñiểm trước và sau khi ñặt, trước sau khi rút của nhóm NKQ khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05 và mạch, huyết áp sau khi ñặt lớn hơn trước khi ñặt Còn nhóm PLMA mạch, huyết áp có biến ñổi so với sau khi ñặt nhưng không khác biệt về mặt thống kê Kết quả này cũng tương tự với tác giả [14] Người ta thấy rằng sự ảnh hưởng trên huyết ñộng là do kích thích vùng hầu, thanh quản vì vùng này có các sợi thần kinh hướng tâm phân phối cho toàn bộ khí ñạo, các sợi thần kinh này bắt nguồn từ nhánh trong của thần kinh thanh quản trên Đáp ứng với các kích thích cơ học như áp lực tì ñè của bóng chèn, kích thích hoá học như CO2 lên các sợi thần kinh hướng tâm

và kích thích thần kinh giao cảm gây nên tăng huyết áp và mạch Tuy nhiên kích thích trên bệnh nhân ñặt nội khí quản nhiều hơn ở bệnh nhân ñặt mặt nạ thanh quản Khi phân tích ñáp ứng của huyết ñộng trong từng thì ñặt, Oczenski[16] thấy lúc ñưa ñèn soi thanh quản vào thì tác ñộng lên HA nhiều hơn lúc ñưa ống NKQ vào

Trong lô nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy sau bơm hơi huyết áp ñộng mạch cao

có ý nghĩa thống kê so với lúc trước bơm hơi Khi bơm thán khí vào ổ bụng gây chèn ép các mạch máu lớn làm tăng sức cản ngoại vi ñưa ñến hậu quả làm tăng huyết áp ñộng mạch, ngoài ra còn có sự

Trang 7

tham gia của yếu tố thể dịch do bơm hơi

kích thích phúc mạc

Sau tháo hơi lượng máu về tim tăng

dẫn tới tăng tiền gánh, trong lúc sức cản

của hệ thống còn cao do các hormone

Vasopressin, catecholamines ñược tiết ra

lúc bơm thán khí làm tăng huyết áp Chính

vì vậy sau khi xả hơi chúng tôi nhận thấy

không sự khác biệt huyết áp so với trước

xả hơi P> 0.05 Trong nghiên cứu, chúng

tôi nhận thấy huyết áp ñộng mạch tăng

nhưng vẫn kiểm soát ñược, không có

trường hợp nào phải dùng thuốc dãn mạch

TAI BIẾN, BIẾN CHỨNG

Trào ngược và hít sặc là

một biến chứng rất nghiêm trọng, có thể ñe

dọa ñến tính mạng người bệnh, ñây là vấn

ñề mà nhiều tác giả và các nhà gây mê

quan tâm ñến Theo thống kê của

Brimacombe và Brain vào năm 1996 nhận

thấy tỷ lệ hít sặc liên quan tới gây mê toàn

diện là 1.4 – 1.6/10000, trong số này tỷ lệ

tử vong xấp xỉ 5%, một nghiên cứu khác

trên 215488 bệnh nhân gây mê toàn diện

(không dùng LMA cổ ñiển) nhận thấy tỷ lệ

hít sặc chiếm 11/10000 ở nhóm phẫu thuật

cấp cứu, 2.6/10000 ở nhóm phẫu thuật

theo kế hoạch như vậy cho chúng ta thấy

tỷ lệ hít sặc ở bệnh nhân phẫu thuật cấp

cứu cao gấp 4 lần so với phẫu thuật theo

kế hoạch Theo tổng kết của

Brimacombe[4], Keller[12] cho thấy trên

150 triệu bệnh nhân có dùng LMA cổ ñiển

thì tỷ lệ trào ngược là 0.02% trong số ñó tỷ

lệ tử vong là 5%, theo Cook [7] tỷ lệ trào

ngược ñối với LMA cổ ñiển là từ

1-4/11.000, còn P-LMA là 1/200.000 –

2/200.000 Như vậy qua thống kê của các

tác giả trên cho thấy tỷ lệ viêm phổi hít

thấp, nhưng ñây là biến chứng rất nguy

hiểm trong gây mê Trong nghiên cứu của

chúng tôi không phát hiện trường hợp nào

trào ngược hay hít sặc qua phương pháp ño

pH mặt nạ thanh quản và theo dõi các dấu

hiệu lâm sàng Điều này có lẽ thứ nhất là

do mẫu của chúng tôi nhỏ, thứ hai do

chúng tôi chọn mẫu rất kĩ lưỡng, tất cả

bệnh nhân ñều phải nhịn ăn uống >6 giờ

và không có thêm yếu tố nguy cơ trào

ngược như: mang thai, tắc ruột, tiền căn

trào ngược dạ dày thực quản, thoát vị hoành,… Vả lại chúng tôi rất thận trọng trong việc xác ñịnh ñúng vị trí mặt nạ thanh quản sau khi ñặt

Tổn thương niêm mạc chảy máu khi dùng PLMA trong nghiên

cứu của Brimacombe và Kihara[13] là 10,2% trong khi của chúng tôi là 5/66 (7,58%) nhiều hơn so với nhóm nội khí quản 3/65(4,62) Tuy nhiên các trường hợp này ñều là do ñặt ñi ñặt lại nhiều lần Do

ñó tai biến này sẽ giảm dần khi kỹ thuật thành thạo

Kích thích vùng vẫy khi rút dụng cụ: so với nội khí quản tỷ lệ kích

thích 100% trước khi rút dụng cụ thì ở nhóm PLMA chỉ có 12,12% Điều này cho thấy ñặt mặt nạ thanh quản hồi tỉnh êm

ái hơn rất nhiều so với ñặt nội khí quản là

ñiều không thể chối cãi ñược

Đau họng là biến chứng

thường gặp sau gây mê có thể là do tổn thương niêm mạc lúc ñặt dụng cụ, hoặc do bóng hơi chèn ép lên niêm mạc Trong nghiên cứu của chúng tôi, ñau họng ở nhóm P-LMA là 3/66 (4,54%), nhóm NKQ là 27/65( 41,54%) Higgins[11] gặp trong nhóm P-LMA 23/69 (33.33%), nhóm NKQ 37/69 (53.62%) Kết quả của chúng tôi và của Higgins cho thấy tỷ lệ ñau họng

ở nhóm NKQ cao hơn nhiều với p<0.05 có

ý nghĩa thống kê

Khàn tiếng trong gây mê là

do dây thanh âm bị phù nề hoặc tổn thương lúc ñặt NKQ hoặc mặt nạ thanh quản [17] Khàn tiếng cũng có thể là do bơm bóng hơi căng quá gây nên thiếu máu niêm mạc và vùng dây thanh âm bị chèn

ép hoặc do kỹ thuật ñặt thô bạo, thường gặp trong nhóm ñặt NKQ là chính do tác ñộng trực tiếp Trong nghiên cứu của chúng tôi khàn tiếng sau phẫu thuật ở nhóm ñặt NKQ là 6 trường hợp gồm 2 khàn tiếng nhẹ ( 24 giờ sau hết khàn), 4 khàn tiếng vừa ( khi xuất viện vẫn còn khàn tiếng nhưng có ñỡ hơn), còn ở nhóm ñặt P-LMA thì không có trường hợp khàn tiếng (0%), kết quả này cũng tương tự tác giả Lê Tuyên Hồng Dương [8]

Trang 8

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu sử dụng mặt nạ

Proseal trong phẫu thuật cắt ruột thừa nội

soi, chúng tôi rút ra ñược những kết luận

sau:

 Kỹ thuật ñặt mặt nạ thanh quản

Proseal ñơn giản, dễ thực hiện,

thời gian ñặt nhanh và có tỷ lệ

thành công cao

 Phương pháp gây mê toàn diện

qua mặt nạ thanh quản Proseal

ñạt hiệu quả thông khí tốt như

phương pháp ñặt nội khí quản

 Ổn ñịnh huyết ñộng hơn ở nhóm

ñặt mặt nạ thanh quản so với ñặt

nội khí quản

 Rất ít xảy ra trào ngược, hít sặc

 Giảm các tai biến biến chứng

trong và sau phẫu thuật hơn so

với ñặt nội khí quản

 Chất lượng hồi tỉnh tốt vì thế

bệnh nhân dễ chấp nhận hơn so

với nội khí quản

Tóm lại, phương pháp gây mê toàn

diện qua mặt nạ thanh quản Proseal

có tính an toàn và hiệu quả trong

phẫu thuật nội soi cấp cứu cắt ruột

thừa nếu chúng ta tôn trọng ñúng

nguyên tắc: chỉ ñịnh , chống chỉ ñịnh

mặt nạ thanh quản và ñảm bảo ñặt

ñúng vị trí

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Stefan Budac, Mario Moric and Kenneth J

Tuman (2003) "Proseal laryngeal mask airway

versus endotracheal tube: ease of insertion,

characteristics" Anesthesiology; 99 , A571

Physiological implication The Laryngeal

Mask Airway." W B Sauders Company

Limited, pp2-34

analysis of current knowledge and a complete

Company Limited, pp2-104

elastic bougie-guided insertion of the ProSeal laryngeal mask airway is superior to the digital

Anesthesiology; 100 (1), pp25-29

ñể mổ nội soi ổ bụng" Trong: Gây mê hồi sức,

Nhà xuất bản Y Học, tr 141-148

Trương Triều Phong (2009) "Đánh giá hiệu quả mặt nạ thanh quản Proseal trong phẫu thuật cấp cứu" Y học Thành Phố Hồ Chí Minh; 13 (1), tr 461-467

laryngeal mask airway: a review of the literature" Can J Anaesth; 52 (7), pp739-760

(2006) “Liên quan giữa cỡ ống nội khí quản với biến chứng ñau họng và khàn tiếng sau mổ” Kỹ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội nghị gây mê toàn quốc Hải Phòng 11/2006, tr.161

(1992) "Laparoscopic surgery with carbon

acidosis" Acta Chir Hung; 33 (1-2), pp93-100

(2008) "A case series of the use of the ProSeal laryngeal mask airway in emergency lower abdominal surgery" Anaesthesia; 63 (9), pp967-971

"Postoperative sore throat after ambulatory surgery" Br J Anaesth; 88 (4), pp582-584

laryngeal mask airway: three cases and a review of the literature" Br J Anaesth; 93 (4), pp579-582

Watanabe (2004) "A comparison of sex- and weight-based ProSeal laryngeal mask size selection criteria: a randomized study of healthy anesthetized, paralyzed adult patients" Anesthesiology; 101 (2), pp340-343

(2002) "The LMA-ProSeal is an effective

Anaesth; 49 (8), pp857-862

“Phẫu thuật nội soi ñiều trị viêm phúc mạc ruột thừa” Y học TP Hồ Chí Minh, 10(1),

tr.430-434

Trang 9

16 Oczenski (1999) "Hemodynamic and catecholamine stress responses to insertion of the combitube, laryngeal mask airway or tracheal intubation" Anesth Analg; 88, pp1389-1394

(2002) "Hemodynamic responses to tracheal intubation with laryngoscope versus lightwand intubating device (Trachlight) in adults with normal airway" Anesth Analg; 95 (2), pp

480-484

Ngày đăng: 21/01/2020, 01:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w