1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả và mức độ hài lòng của gây tê ngoài màng cứng trong phẫu thuật vùng bụng dưới tại Bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh

9 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 301,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá sự an toàn và hiệu quả giảm đau trong và sau mổ của phương pháp GTNMC với sự phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương cho phẫu thuật lớn vùng bụng dưới. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA GÂY TÊ

NGOÀI MÀNG CỨNG TRONG PHẪU THUẬT VÙNG BỤNG DƯỚI

TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN TP.HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Chừng*, Trần Đỗ Anh Vũ**, Nguyễn Thị Thanh Ngọc **, Nguyễn Văn Chinh*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) để giảm đau trong và sau mổ được áp dụng rộng rãi trên

thế giới từ nhiều thập niên qua Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu cho thấy phương pháp này làm giảm những biến chứng trong và sau mổ, giảm tỉ lệ tử vong sau mổ của các phẫu thuật nặng

Mục tiêu: Đánh giá sự an toàn và hiệu quả giảm đau trong và sau mổ của phương pháp GTNMC với sự

phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương cho phẫu thuật lớn vùng bụng dưới

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang, mô tả Từ tháng 10/2012 đến tháng 06/2013 tại Bệnh viện Bình Dân

TPHCM, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu 37 trường hợp ASA từ 1 đến 3, phẫu thuật lớn vùng bụng dưới với gây mê toàn diện kết hợp GTNMC để giảm đau trong và sau phẫu thuật

Kết quả: tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu: 56,1 ± 13,6 tuổi (25 – 85) Thời gian gây mê phẫu thuật

217,1 ± 107,7 (80 - 480) phút Hầu hết các trường hợp đều đáp ứng đủ nhu cầu thao tác ngoại khoa trong mổ, rất

ít sử dụng thêm opioids tĩnh mạch ngoại trừ liều khởi mê, chỉ có 5 trường hợp cần sử dụng thêm thuốc giảm đau opioids trong mổ Thuốc mê hô hấp duy trì trong mổ < 1 MAC Không có tai biến nặng liên quan catheter NMC

và tử vong chu phẫu trong nghiên cứu

Kết luận: Kết quả cho thấy phương pháp GTNMC phối hợp gây mê là kỹ thuật an toàn cho phẫu thuật vùng

bụng dưới, với hiệu quả vô cảm và giảm đau sau mổ tốt, không có những tai biến và biến chứng nặng

Từ khóa: gây tê ngoài màng cứng, phẫu thuật vùng bụng dưới

ABSTRACT

EVALUATE THE EFFICIENCY AND SATISFACTION OF EPIDURAL

IN LOWER ABDOMINAL SURGERY AT BINH DAN HOSPITAL

Nguyen Van Chung, Tran Do Anh Vu, Nguyen Thi Thanh Ngoc, Nguyen Van Chinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 4- 2014: 82 - 90

Background: Epidural for intra and postoperative pain relief has been widely used in the world for many

decades Previous studies have shown that this method may reduce complications, and decrease the mortality in severe cases.

Objectives: The present study investigates the safety and the efficacy of epidural combined local anaesthetics

and opioids in major lower abdominal surgery.

Methods: descriptive, cross-sectional study 37 ASA physical status 1 - 3 patients undergoing major surgery

of the lower abdomen with a combined general anaesthesia and epidural postoperative analgesia were studied at Binh Dan hospital from 2012 October to 2013 March

Results: Average ages: 56.1 ± 13.6 years (25 – 85) Duration of surgery: 217.1 ± 107.7 (80 - 480) minutes

In most cases, the patients had no negative responses to the stimulus provided during the surgical procedure Anesthesiologists rarely needed to administer intravenous opioids except a conductive dose There were only five

* Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh ** Bệnh viện Bình Dân Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

cases which more opioids were used during on operation Anesthesia was maintained with less than 1 MAC of inhalation anesthetics With regards to epidurals in this study, there were no severe complications or mortality.

Conclusions: The results illustrate that a combined general - epidural anesthesia technique is safe for lower

abdominal surgery with both efficient anesthesia and satisfactory pain relief There were no serious complications involved in this process.

Keyword: epidural, lower abdominal surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giảm đau luôn là vấn đề được bệnh nhân

(BN) và thầy thuốc quan tâm, đặc biệt trong lĩnh

vực ngoại khoa Đau tạo nên nỗi sợ hãi cho bệnh

nhân khi phải đi mổ làm ảnh hưởng đến kết quả

hồi phục sức khỏe và tâm lý của bệnh nhân Như

vậy, việc lựa chọn một phương pháp vô cảm

phù hợp và thực hiện tốt việc giảm đau trong và

sau mổ sẽ hỗ trợ rất nhiều cho bệnh nhân trong

cuộc mổ và phục hồi sức khỏe sau mổ Đồng

thời, giúp bệnh nhân vận động trở lại sớm, hạn

chế được nhiều biến chứng, góp phần vào sự

thành công của phẫu thuật và có thể rút ngắn

thời gian nằm viện

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu cho

thấy Phương pháp giảm đau bằng GTNMC làm

giảm những biến chứng trong và sau mổ, cải

thiện tình trạng phục hồi chức năng sau mổ và

giảm tỉ lệ tử vong sau mổ của các phẫu thuật

nặng Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa thuốc tê

và thuốc giảm đau trung ương dùng trong

GTNMC bằng cách dùng bơm tiêm điện cũng đã

cho thấy những ưu điểm, thuận lợi rõ rệt như cải

thiện chất lượng giảm đau do đó giảm bớt được

liều lượng sử dụng của cả hai nhóm thuốc, giảm

tai biến ngộ độc thuốc, duy trì nồng độ thuốc ổn

định, giảm tải công việc cho người làm công tác

hồi sức sau mổ, tránh được tác dụng ức chế giao

cảm ngắt quãng do chích từng liều.(1, 8, 9)

Đối với các phẫu thuật lớn vùng bụng dưới,

thời gian mổ kéo dài, trên các đối tượng có các

bệnh lý tim mạch, hô hấp kèm theo… với nhiều

nguy cơ trong và sau phẫu thuật, ngoài các vấn

đề về ngoại khoa, đau được ví như một dấu hiệu

sinh tồn cần phải được quan tâm đúng mức

Những trường hợp như vậy, việc đặt một ống

thông nhỏ (catheter) vào khoang ngoài màng

cứng (NMC) vừa là phương pháp vô cảm và giảm đau trong mổ, vừa giảm đau sau mổ liên tục rất tiện lợi

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá sự an toàn và hiệu quả giảm đau trong và sau mổ của phương pháp GTNMC với

sự phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương cho phẫu thuật lớn vùng bụng dưới Xác định tỷ lệ các tai biến, biến chứng và mức độ hài lòng của bệnh nhân của phương pháp giảm đau

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng

BN có chỉ định phẫu thuật lớn vùng bụng dưới tại Bệnh viện Bình Dân TP.HCM

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Bệnh nhân thuộc nhóm ASA I, II, III

Không có chống chỉ định GTNMC: Tiền sử

dị ứng thuốc tê hoặc thuốc họ opioids; Có dị dạng, bệnh lý cột sống; Rối loạn đông máu; Nhiễm trùng tại chỗ chọc kim; Có bệnh lý của hệ thần kinh trung ương, tăng áp lực nội sọ… Bệnh nhân đồng ý hợp tác với thầy thuốc để tiến hành gây tê khi mổ và giảm đau bằng catheter ngoài màng cứng

Tiêu chuẩn loại trừ

Các bệnh nhân không thuộc nhóm nghiên cứu bao gồm:

Bệnh nhân đang nhiễm trùng toàn thân, đang ở trong tình trạng sốc hay thiếu khối lượng tuần hoàn

Không thực hiện chọc dò NMC được Bệnh nhân không giao tiếp được

Trang 3

Thu thập thiếu số liệu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, tiền

cứu

Phương tiện theo dõi và hồi sức: Nguồn

dưỡng khí, ống nghe tim phổi; Máy đo HA động

mạch, nhiệt độ, kim luồn 20G, 18G…; Bộ dụng

cụ cấp cứu: ống nội khí quản, đèn soi thanh

quản, ambu bag…Dụng cụ theo dõi bệnh nhân:

máy monitor…

Dụng cụ tê NMC

Bộ GTNMC với kim Touhy số 18 có kèm

theo catheter và bộ nối

Hộp đựng dụng cụ gây tê đã vô khuẩn: gồm

ống chích thủy tinh 10ml, 20ml, ống chích nhựa

5ml, 10ml, 20ml, gòn gạc, khăn lỗ

Máy bơm tiêm điện liên tục

Găng tay vô trùng

Thuốc và dịch truyền

Thuốc tê: Lidocaine 2% 2ml; Bupivacain

(Marcain) 0,5%, 20ml

Thuốc khác: Fentanyl 100mcg (2ml),

Ephedrine 1ml, 30mg; Adrenaline 1ml, 1mg;

Atropine 1ml, 0,25mg…và dịch truyền

Phương thức tiến hành

Thăm khám, giải thích và chuẩn bị BN như

một cuộc gây mê bình thường: thăm khám

tiền mê, đặc biệt vùng lưng, cột sống, các chức

năng vận động…kiểm tra các xét nghiệm

thường qui, các yếu tố đông máu, X quang

phổi, điện tâm đồ…

Đánh giá, phân loại nguy cơ theo ASA, kiểm

tra những chỉ định và chống chỉ định của

GTNMC

Thực hiện phương pháp GTNMC

Đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại biên bằng

kim luồn 20G hay 18G, dung dịch NaCl 0,9% hay

Lactate Ringer

Kiểm tra mạch (M), huyết áp (HA), nhịp thở,

có thể gắn monitor theo dõi sinh hiệu, cho BN

thở oxy 2-3 lít/phút

Đặt bệnh nhân nằm nghiêng tư thế cong lưng tôm Mốc chọc dò là khoảng liên đốt sống L2-L3 hoặc L3-L4

Người thực hiện rửa tay, mang găng, sát trùng bằng Betadin, trải khăn lỗ

Tê tại chỗ TL 3-4 hoặc TL 2-3 với Lidocaine 2% 2ml Tê NMC TL 3-4 hoặc TL 2-3 với độ sâu khoang NMC tùy theo BN

Xác định khoang ngoài màng cứng bằng kỹ thuật « mất sức cản », luồn catheter vào khoang NMC với độ sâu 3 – 5 cm Bơm liều test bằng hỗn hợp 3ml Lidocain 1,5% và epinephrine 1/200.000

Sau khi xác định catheter đúng vào khoang NMC Tiến hành gây mê toàn diện có đặt ống nội khí quản (NKQ) cho bệnh nhân

Truyền liên tục trong mổ hỗn hợp: Bupivacaine 0,1% + Fantanyl 4 mcg/1ml với vận tốc 4-8ml/giờ

Sau mổ, vẫn tiếp tục truyền liên tục hỗn hợp Bupivacaine 0,1% + Fantanyl 4 mcg/1ml với vận tốc 4-8ml/giờ

Theo dõi dấu sinh tồn của BN trước, trong và sau khi thực hiện thủ thuật, xử lý những rối loạn khi cần, bao gồm :

Tại phòng mổ: sau khi gây tê, theo dõi: mạch,

HA, nhịp thở, tri giác

Trong mổ: theo dõi các chỉ số M, HA, các đáp ứng về độ mê với các kích thích phẫu thuật khác nhau

Sau mổ: tiếp tục duy trì giảm đau qua catheter NMC bằng bơm điện liên tục Ghi nhận và đánh giá các yếu tố cần nghiên cứu: mức tê, độ liệt… Khi bệnh nhân về trại, thăm khám BN vào những giờ nhất định trong ngày theo phác đồ nghiên cứu, và thăm khám ngay lập tức các vấn đề liên quan đến catheter NMC để đưa ra hướng xử tríc Ghi nhận cảm tưởng của BN và các biến chứng muộn như bí tiểu, đau lưng, đau đầu…

Trang 4

Đánh giá kết quả

Ghi nhận những khó khăn, thuận lợi của

phương pháp GTNMC giảm đau trong và sau

mổ

Đánh giá tỉ lệ % của các yếu tố cần khảo sát

theo mẫu nghiên cứu

Đánh giá tính hiệu quả, tính an toàn của

GTNMC trong và sau mổ

Đánh giá mức độ mất cảm giác, thang điểm

đau (VAS), hiệu quả trong cuộc mổ… theo phiếu

thu thập số liệu

Thang điểm đau (VAS = Visual Analog

Scale): từ 8 đến 10 điểm đau (đau nhiều nhất)

Đánh giá phong bế vận động: đánh giá theo

thang điểm Bromage

Độ IV: cử động các khớp háng, gối và bàn

chân bình thường

Độ III: không thể nhấc cẳng chân lên, cử

động được khớp gối và bàn chân

Độ II: không gấp được khớp gối, chỉ cử động

được bàn chân

Độ I: không thể cử động được các khớp

háng, gối và bàn chân

Phát hiện và cử trí những rối loạn khi cần

Ghi nhận các tác dụng ngoại ý, các tai biến

Về hô hấp:

Thở bình thường, tấn số thở > 10 lần/phút

Thở ngáy, tần số thở > 10 lần/phút

Thở không đều, nông, tắc nghẽn, co kéo hoặc

tần số thở < 10 lần/phút

Thở ngắt quãng hoặc ngừng thở

Các TH 3 và 4 hoặc tần số thở <10 lần/phút:

ngừng thuốc, thở oxy, theo dõi sát

Về tuần hoàn: theo dõi M, HA, tụt HA nếu

HA tối đa <90mmHg hoặc giảm 20-30% trị số

HA ban đầu (loại trừ tụt HA do các nguyên

nhân khác)

Nôn và buồn nôn: Không nôn hoặc buồn

nôn; Nôn và buồn nôn xuất hiện thoáng qua,

không cần điều trị; Nôn và buồn nôn cần phải

điều trị nhưng đáp ứng với điều trị; Nôn và buồn nôn không đáp ứng điều trị

Rối loạn bàng quang: Tiểu bình thường; Phải chườm nóng mới tiểu được; Phải đặt thông tiểu Các tác dụng ngoại ý khác: Dị ứng: ngứa, nổi mẩn; Đau đầu, đau lưng: thời gian xuất hiện, kéo dài, kết thúc; Lạnh run…

Thu thập và xử lý số liệu

Thu thập số liệu: Các BN có đủ tiêu chuẩn, được chọn vào mẫu nghiên cứu đều được ghi nhận các dự kiện theo một mẫu nghiên cứu khoa học thống nhất

Phương pháp xử lý các số liệu: Căn cứ vào các dữ liệu, các chi tiết thu thập được từ phiếu nghiên cứu Xử lý các dữ liệu: phần mềm thống

kê SPSS 13.0 for Windows

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 10/2012 đến tháng 06/2013 tại Bệnh Viện Bình Dân TPHCM, chúng tôi đã tiến hành thực hiện và theo dõi 37 trường hợp phẫu thuật lớn vùng bụng dưới với gây mê toàn diện kết hợp GTNMC để giảm đau trong và sau phẫu thuật Kết quả thu thập và phân tích như sau:

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân

Tuổi 56,1 ± 13,6 25 85 Chiều cao (cm) 161,6 ± 9,4 150 180 Cân nặng (kg) 55,9 ± 10,1 36 77

ASA: Có 4 trường hợp (8,5%) loại 1, 28

(59,6%) loại 2, và 5 (10,6%) loại 3

Bảng 2: Loại phẫu thuật

Bàng quang thần kinh 1

Thời gian phẫu thuật: 217,1 ± 107,7 (80 -

480) phút

Trang 5

Bệnh kèm theo

Hầu hết các bệnh nhân đều có ít nhất một

bệnh lý nội khoa kèm theo, nổi bật là tình trạng

tăng huyết áp, với 10 trường hợp, chiếm 27%

bệnh nhân Có 6 trường hợp bệnh tim thiếu máu

cục bộ, 2 trường hợp hen phế quản

Thay đổi M, HA của bệnh nhân trong các

thời điểm

Bảng 3: Thay đổi sinh hiệu của bệnh nhân

Trước gây tê (tỉnh táo) 82,7 ± 9,6 105,3 ± 9,4

Trước rạch da 65,2 ± 11,4 * 69,7 ± 6,2 *

Trong mổ 71,9 ± 9,3 * 75,3 ± 8,7 *

Sau mổ (vừa hồi tỉnh) 89,7 ± 10,8 110,4± 8,5

(*): khác biệt có ý nghĩa thống kê, P < 0,05

Chúng tôi lấy các thông số về M và HA trước

khi gây tê làm mức cơ bản của BN

Thời điểm trước rạch da và trong phẫu

thuật, sự thay đổi M và HA có ý nghĩa về mặt

thống kê, nhưng về phương diện lâm sàng thì

BN chấp nhận được mức đáp ứng thay đổi

huyết động này

Đặc điểm về kỹ thuật – tai biến biến chứng

Đặc điểm về kỹ thuật

Bảng 4: Các thông số về đặc điểm kỹ thuật

Đặc điểm về kỹ thuật Số trường

hợp

Tỷ lệ (%)

Thời gian làm thủ

thuật (phút)

Đường chọc Đường giữa Đường bên 29 8 21,6 78,4

Khoảng cách

từ da đến

khoang NMC

> 5cm 17 45,9

Tai biến - Biến chứng

Không có tai biến nặng ghi nhận trong

nghiên cứu này

Trong nghiên cứu này chúng tôi không ghi

nhận trường hợp nào bị tụt HA trầm trọng cần

phải xử lý, cũng không có trường hợp nào bị suy

hô hấp phải điều trị ở giai đoạn sau mổ

Bảng 5: Các tai biến, biến chứng khác

Đánh giá hiệu quả giảm đau trong và sau phẫu thuật

Giảm đau trong mổ

Hầu hết các trường hợp đều đáp ứng đủ nhu cầu thao tác ngoại khoa trong mổ, không sử dụng thêm opioids tĩnh mạch ngoại trừ liều khởi

mê, có 5 trường hợp cần sử dụng thêm thuốc giảm đau opioids trong mổ Thuốc mê hô hấp

duy trì trong mổ < 1 MAC

Giảm đau sau mổ

Thang điểm đau (VAS)

Bảng 6: Thang điểm đau VAS

(tỉnhtáo)

Giờ 4

Giờ 8

Giờ 16

Giờ 24

Giờ

36 - 72

Có 5 trường hợp rút catheter sớm sau 1 ngày

vì lý do bệnh nhân sốt cao (2 trường hợp), và do catheter bị sút (1 trường hợp), tắc nghẽn (2 trường hợp)

Phong bế vận động: đánh giá theo thang điểm Bromage:

Chỉ có 1 trường hợp bị liệt hoàn toàn 2 chi dưới (Bromage I) vào giờ thứ 4, sau khi giảm liều thì phục hồi vận động 5 trường hợp yếu nhẹ ở 1 hoặc 2 chi dưới (Bromage III) Các trường hợp còn lại đa số chỉ có cảm giác dị cảm nhẹ

Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân

Bảng 7: Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Tỷ lệ % 62,2 21,6 16,2 0

Trang 6

NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN

Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu

nghiên cứu 56,1 ± 13,6 tuổi, thấp nhất là 25 tuổi,

cao nhất là 85 tuổi Tuổi trong dân số mẫu

nghiêng về phía người cao tuổi, phù hợp với

phân bố dịch tể của loại bệnh cần phẫu thuật,

gồm 12 trường hợp (32,4%) bướu bàng quang và

19 trường hợp (51,4%) K trực tràng Điều này

cũng góp phần gây khó khăn cho nghiên cứu vì

ở độ tuổi càng cao, việc chuyển hóa và đào thải

thuốc ít nhiều bị ảnh hưởng, dễ dẫn đến tình

trạng tích lũy thuốc và gây ngộ độc(1)

Bệnh kèm theo

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh

nhân đều có bệnh lý nội khoa kèm theo, đặc biệt

là tình trạng tăng huyết áp với 10trường hợp

(27%) Tất cả các trường hợp có bệnh kèm theo,

chúng tôi đều mời hội chẩn và điều trị theo

chuyên khoa ổn định trước khi lên lịch mổ

chương trình

Bệnh nhân tăng huyết áp cần kiểm tra chức

năng tâm thất trái, tình trạng mạch vành, chức

năng thận và soi đáy mắt trước mổ Gây tê tủy

sống hoặc GTNMC trên bệnh nhân tăng huyết

áp, dễ có nguy cơ tụt huyết áp do khả năng vận

mạch bị giảm sút Tuy nhiên, gây tê tủy sống

hoặc GTNMC trong mổ cũng như GTNMC để

giảm đau hậu phẫu lại cho thấy giảm tỷ lệ tử

vong, giảm nguy cơ tai biến tim mạch sau mổ

Các thuốc điều trị tăng huyết áp đường uống

vẫn tiếp tục được dùng cho đến ngày mổ vì sợ

tai biến cơn tăng huyết áp khi ngưng thuốc; trừ

nhóm ức chế men chuyển và nhóm ức chế thụ

thể angiotensin II, cần ngưng trước mổ 24 giờ

Thiếu máu cơ tim là một tổn thương phổ

biến và nguy hiểm trong phẫu thuật, thường liên

quan với bệnh nhân tăng huyết áp Tai biến sau

mổ về suy tim, suy thận và bệnh lý mạch máu

não cũng liên quan với tăng huyết áp Chứng cớ

thấp về mối liên quan giữa huyết áp trước mổ

< 180/110 mmHg với nguy cơ tim mạch trong

giai đoạn chu phẫu Do đó việc kiểm soát huyết

áp dưới mức < 180 mmHg trước mổ là điều kiện cần thiết cho cuộc mổ chương trình.(4)

Vai trò gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong mổ

Phương pháp gây mê cân bằng được xem là một cách thức lý tưởng cho một cuộc phẫu thuật lớn, gây nhiều thay đổi về mặt sinh lý cho bệnh nhân Trong gây mê cân bằng, người bệnh sẽ được thực hiện đầy đủ và đồng thời việc ngủ, giảm đau và dãn cơ

Theo Robert J ( 2003), gây tê NMC phối hợp gây mê và giảm đau hậu phẫu làm giảm biến cố tim mạch chu phẫu 30%, giảm nhiễm trùng phổi 40%, tắc mạch phổi 50%, suy thận cấp 30% so với gây mê toàn thân và giảm đau truyền thống.(10)

Trong nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, vai trò của phối hợp GTNMC hoàn toàn có thể thay thế nhóm opioids giảm đau trong mổ, lượng sufentanil hoặc fentanyl trong hầu hết các trường hợp chỉ dùng lúc khởi mê để đặt NKQ Tránh được việc sử dụng opioids liều cao trong phẫu thuật rất có lợi, đặc biệt ở người già và những bệnh nhân có tình trạng thể chất kém (ASA 3), giúp sớm tỉnh mê và tránh những biến

cố do dùng opioids quá nhiều được cộng dồn vào khi cho giảm đau sau mổ Điều này được chứng minh khi thời gian rút NKQ sớm, bệnh nhân tỉnh táo sớm Để tránh tình trạng tụt HA, một tác dụng thường đi kèm với phối hợp gây tê vùng và gây mê toàn diện, trong nghiên cứu, chúng tôi chỉ thực hiện liều bolus khi M và HA

đã ổn định sau khởi mê, điều này giúp chúng tôi phòng ngừa được tác dụng tụt HA khi phối hợp giữa gây tê NMC và gây mê toàn diện

Các thuốc sử dụng trong mổ như thuốc mê bốc hơi cũng có xu hướng giảm, chúng tôi sử dụng gây mê với nồng độ thuốc mê < 1 MAC, và không có trường hợp nào bệnh nhân bị thức tỉnh trong mổ

Khó khăn về thực hiện thủ thuật

Chọc dò cột sống thắt lưng thường thực hiện qua đường giữa hoặc đường bên Trong nghiên cứu, chúng tôi thực hiện 8 TH đường giữa chiếm

Trang 7

21,6% Sau khi gây tê tại chỗ, kim được đưa vào

qua các lớp cấu trúc: da, tổ chức dưới da, dây

chằng trên gai, dây chằng liên gai, dây chằng

vàng và màng cứng Chọc dò cột sống thắt lưng

cũng có thể theo đường bên khi gây tê tủy sống

hoặc GTNMC, chúng tôi có 29 trường hợp

(78,4%) theo đường bên Phương thức này hữu

dụng đáng kể trong trường hợp bệnh nhân có

khó khăn khi cúi gập cột sống hoặc trong trường

hợp dây chằng trên gai và dây chằng liên gai bị

vôi hóa làm kim chọc dò đi qua khó khăn Người

ta khuyên nên đi vào theo đường giữa vì ở đấy

khoảng cách khoang ngoài màng cứng rộng

nhất; giảm nguy cơ chọc nhầm vào tĩnh mạch

màng cứng, động mạch cột sống, rễ thần kinh vì

các thành phần này chủ yếu nằm ở phần bên của

khoang ngoài màng cứng Một nghiên cứu của

các nhà gây mê sản khoa tại Anh năm 1993 cho

thấy, 85% bác sĩ gây mê thích chọn đường giữa

trong GTNMC, trong khi chỉ có 2% chọn đường

bên(1, 11) Lý do mà nhiều người tránh đi vào bằng

đường bên, vì làm bệnh nhân đau nhiều hơn

Tuy nhiên tại Bệnh viện Bình Dân, các bác sĩ gây

mê đã có thói quen tiếp cận khe liên đốt theo

đường bên, vì vậy trong thời gian đầu triển khai

chúng tôi chọn thực hiện theo đường bên Thời

gian hoàn thành thủ thuật < 20 phút chiếm 30/37

trường hợp Điều này có thể chấp nhận được

trong hoàn cảnh mới triển khai thủ thuật

Đánh giá mức độ an toàn của giảm đau hậu

phẫu qua catheter NMC với các tai biến,

biến chứng trong nghiên cứu

Tác dụng phụ của những thuốc giảm đau chích

vào trục thần kinh

Nhiều tác dụng phụ liên quan đến thuốc

(opioids và thuốc tê vùng) có thể xảy ra với

việc dùng giảm đau NMC ở hậu phẫu, nhưng

trước khi quy nguyên nhân do chế độ trị liệu

giảm đau NMC, điều quan trọng đầu tiên là

phải xem xét những nguyên nhân khác, như

giảm thể tích, chảy máu, cung lượng tim thấp

dẫn đến tụt huyết áp, tai biến mạch máu não,

phù phổi; và nhiễm trùng huyết diễn tiến dẫn

đến suy hô hấp.(1, 6) Trong mẫu nghiên cứu này, chúng tôi không gặp phải các tai biến nặng liên quan đến catheter như tử vong hoặc các tai biến liên quan với tổn thương thần kinh trung ương không hồi phục

Một số tác dụng phụ khác được chúng tôi ghi nhận như sau

Tụt huyết áp

Thuốc tê vùng dùng trong chế độ trị liệu giảm đau NMC có thể phong bế những sợi giao cảm và góp phần gây tụt huyết áp sau mổ Tỷ lệ tụt huyết áp hậu phẫu với giảm đau NMC sau

mổ có thể cao xấp xỉ 7%, trung bình gần 0,7 - 3% Những chiến lược điều trị tụt huyết áp không nguy hiểm gây ra bởi giảm đau NMC bao gồm việc giảm tổng liều thuốc tê vùng sử dụng (bằng việc giảm tốc độ hay nồng độ), chỉ truyền opioid vào khoang NMC và điều trị những nguyên nhân căn bản của tụt huyết áp.(2, 3, 6)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các trường hợp tụt HA có ý nghĩa đều xảy ra trong lúc phẫu thuật Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do tình trạng giảm thể tích do mất máu Trong giai đoạn hậu phẫu, chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào tụt HA liên quan đến việc truyền thuốc tê và opioid qua catheter khoang ngoài màng cứng

Phong bế vận động

Sử dụng thuốc tê vùng cho tác dụng giảm đau NMC ở hậu phẫu cũng góp phần phong

bế vận động chi dưới xấp xỉ 2 - 3% BN Nồng

độ thấp hơn của thuốc gây tê vùng và catheter

- đường rạch da - vị trí phù hợp của catheter NMC cho quá trình phẫu thuật bụng hay ngực

có thể làm giảm tỷ lệ phong bế vận động Mặc

dù trong phần lớn các trường hợp sự phong

bế vận động được giải quyết sau khi ngưng truyền vào khoang NMC trong vòng gần 2 giờ, nếu sự phong bế vận động tiếp tục tồn tại hay tăng lên cần phải được đánh giá nhanh, các nguyên nhân như khối máu tụ ở tủy sống, áp-xe tủy sống, sự di dời của catheter vào trong tủy sống, phải được quan tâm xem xét như một phần của chẩn đoán phân biệt.(6,7)

Trang 8

Một trong những vấn đề của truyền thuốc tê

vào khoang NMC liên tục là tích lũy thuốc và

gây ngộ độc Vì vậy để đảm bảo an toàn,

chúng tôi luôn tuân thủ những quy tắc truyền

thuốc: liều thấp nhất cung cấp giảm đau đầy

đủ (≤ 12 ml/giờ); trong khoảng thời gian 4 giờ

bất kỳ: Bupivacaine không sử dụng quá

2mg/kg; tổng liều Bupivacaine không vượt

quá 400 mg trong 24 giờ; không truyền liên tục

Bupivacaine qua catheter ngoài màng cứng

quá 72 giờ

Trong nghiên cứu này, chỉ có 1 trường hợp bị

liệt đột ngột sau khoảng 5 giờ truyền thuốc tê

Chúng tôi xử trí bằng cách ngưng truyền thuốc

và theo dõi, vận động của bệnh nhân hồi phục

trong khoảng 2 giờ sau đó Tiếp theo chúng tôi

cho thực hiện lại việc truyền thuốc nhưng giảm

tốc độ, và bệnh nhân không còn hiện tượng liệt 2

chi dưới Vì vậy với nghiên cứu này, chúng tôi

nhận thấy nồng độ thuốc tê, opioids và tốc độ

truyền như vậy là phù hợp để giảm đau đủ và ít

phong bế vận động nhất

Buồn nôn và nôn

Buồn nôn và nôn kết hợp với việc chích

một liều đơn opioids vào trục thần kinh xảy ra

xấp xỉ 20 - 50% BN, và tỷ lệ tích lũy ở những

BN nhận sự điều trị truyền opioids liên tục có

thể cao từ 45 - 80% Những dữ liệu lâm sàng

và thử nghiệm cho thấy rằng tỷ lệ buồn nôn

và nôn liên quan đến opioid chích vào trục

thần kinh thì tùy thuộc vào liều Buồn nôn và

nôn từ việc chích opioid vào trục thần kinh có

thể liên quan đến sự di chuyển về phía đầu

của opioid Dùng fentanyl một mình hay kết

hợp với một thuốc tê vùng trong truyền vào

khoang NMC thì tỷ lệ buồn nôn và nôn thấp

hơn việc truyền với morphine Một số thuốc

được sử dụng thành công để điều trị chứng

buồn nôn và nôn do việc chích opioids vào

trục thần kinh bao gồm naloxone, droperidol,

metoclopramide, dexamethasone,

ondansetron, và scopolamine qua da.(5,6)

Nghiên cứu của chúng tôi có 9 trường hợp

(24,3%) bệnh nhân bị buồn nôn và nôn, cũng phù hợp với tỷ lệ chung

Suy hô hấp

Opioids chích vào trục thần kinh được dùng với những liều thích hợp thì không gây ra suy hô hấp cao hơn việc dùng opioids toàn thân Tỷ lệ suy hô hấp với opioids chích vào trục thần kinh thì tùy thuộc vào liều và khoảng từ 0,1 - 0,9% Tỷ

lệ suy hô hấp với việc truyền liên tục opioids vào khoang NMC hình như không nhiều hơn những

gì đã thấy sau khi dùng opioid toàn thân Mặc

dù một số cơ sở đòi hỏi những BN được truyền liên tục opioids ưa nước vào khoang NMC phải được theo dõi trong phòng săn sóc đặc biệt, nhưng nhiều thử nghiệm với quy mô lớn đã chứng minh tính an toàn tương đối (tỷ lệ suy hô hấp < 0,9%) của kỹ thuật này tại các khoa ngoại Những opioids ưa mỡ chích vào trục thần kinh đã được nghĩ là nguyên nhân làm suy hô hấp nhanh hơn những opioid ưa nước, mặc dù việc dùng những opioid ưa mỡ có thể kết hợp với sự suy hô hấp nhanh và đáng chú ý hơn Suy

hô hấp chậm đầu tiên kết hợp với sự lan truyền

về phía đầu của opioids ưa nước, điều này thường xảy ra trong vòng 12 giờ sau khi chích morphine Những yếu tố nguy cơ của suy hô hấp với opioids chích vào trục thần kinh bao gồm tăng liều, tuổi cao, dùng đồng thời với opioids toàn thân hay thuốc an thần và có thể do phẫu thuật mở rộng hay kéo dài, và phẫu thuật lồng ngực.(1, 5, 6) Trong nghiên cứu này, chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào bị suy hô hấp cần phải can thiệp Có thể trong giai đoạn đầu, việc theo dõi và chỉnh liều cho BN được quan tâm chặt chẽ

Bí tiểu

Bí tiểu liên quan với việc chích opioids vào trục thần kinh là kết quả của sự tương tác với những thụ thể opioids trong tủy sống, làm giảm sức co bóp của những cơ tống xuất Tỷ lệ bí tiểu với việc dùng opioids trục thần kinh hình như cao hơn khi dùng opioids toàn thân Tuy nhiên,

tỷ lệ chính xác của sự bí tiểu được thấy trên lâm

Trang 9

sàng có thể khó quyết định được bởi vì những

bn trải qua những quá trình phẫu thuật lớn

thường phải đặt sonde tiểu Bí tiểu hình như

không phụ thuộc vào liều opioids và có thể được

điều trị với việc dùng naloxone liều thấp, mặc dù

nguy cơ đảo ngược tác dụng giảm đau Dùng

thuốc tê vùng chích vào khoang NMC cũng gây

ra bí tiểu, với một tỷ lệ được báo cáo là xấp xỉ

10-30% Tốc độ truyền thuốc tê vùng vào khoang

NMC cao hơn (với tác dụng phong bế cảm giác

kéo dài hơn và tỷ lệ phong bế vận động cao hơn)

có thể kết hợp với một tỷ lệ bí tiểu cao hơn(1, 6)

Trong nghiên cứu này, do các bệnh nhân

được phẫu thuật đều được đặt thông tiểu, hoặc

đưa 2 niệu quản ra da do tính chất phẫu thuật,

nên chúng tôi rất khó đánh giá được tình trạng

rối loạn bàng quang của bệnh nhân

Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Nhận xét của BN khi đánh giá về phương

pháp nghiên cứu rất quan trọng, điều này cho

chúng ta biết được mức độ thành công của

phương pháp, thái độ, cung cách phục vụ,… và

nhiều những yếu tố khác Để có được kết quả hài

lòng từ đối tượng nghiên cứu không phải là

chuyện dễ dàng, hơn nữa đây là phương pháp

còn rất mới lạ đối với bệnh nhân và cả nhân viên

y tế tại BV Bình Dân Trong nghiên cứu này,

phần lớn các bệnh nhân hài lòng với tỉ lệ đánh

giá hài lòng mức độ tốt là 62,2%, đánh giá khá là

21,6%, đánh giá trung bình là 16,2%, không có

TH nào đánh giá kém Như vậy, tỉ lệ được xem

là đạt yêu cầu chiếm 83,8%, đây là con số rất có ý

nghĩa với một phương pháp giảm đau cho

những phẫu thuật lớn Vì vậy đây là một kỹ

thuật nên được đưa vào phục vụ rộng rãi hơn

KẾT LUẬN

Kết quả cho thấy phương pháp GTNMC

phối hợp gây mê là kỹ thuật an toàn, hiệu quả và

không có những tai biến biến chứng quan trọng

Với phác đồ sử dụng trong nghiên cứu, đặt

catheter NMC đoạn TL 2 - 3 hoặc TL 3 - 4, truyền

liên tục hỗn hợp Bupivacaine 0,1% và Fentanyl 4

mcg/mL trong và sau mổ, tốc độ 4 – 8 mL/giờ

Phác đồ này đã đáp ứng được nhu cầu giảm đau trong và sau phẫu thuật với tính hiệu quả và an toàn cao cho các trường hợp phẫu thuật lớn vùng bụng dưới

Do đó, đề tài có thể được ứng dụng rộng rãi hơn cho các phẫu thuật lớn vùng bụng trên và vùng ngực Tuy nhiên, với những nguy cơ của thủ thuật và thuốc sử dụng, chúng tôi khuyến cáo khi áp dụng phương pháp này cần phải chuẩn bị đầy đủ nhân lực, trang thiết bị, nhất là phải có quy trình và phác đồ thống nhất với các

bộ phận liên quan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Brown DL (2009) “Spinal, Epidural, and Caudal Anesthesia”

In: Miller’s Anesthesia, 7th edition, Churchill Livingstone, pp

1611 – 1636

2 Doi K, Yamanaka M, Shono A, Fukuda N, Saito Y (2007) Preoperative epidural fentanyl reduces postoperative pain after upper abdominal surgery Br J Anaesth, 98(3): 380-4

3 Duncan F (2011) Prospective observational study of postoperative epidural analgesia for major abdominal surgery

J Clin Nurs, 20(13-14):1870 – 1879

4 Finucane BT, Tsui BCH (2008) “Managing Adverse Outcomes

during Regional Anesthesia” In: Anesthesiology, Medical

Books, McGraw – Hill, Volume 1, pp 1053 – 1080

5 Gudaityte J, Germaniene O, Juknyte A, Ubartiene G (2010) The quality of postoperative epidural analgesia after upper and lower abdominal surgery: A survey of postoperative records: 14AP11-3 EUR J ANAESTH , Volume 27 - Issue 47 - p

220

6 Hurley RW and Wu CL (2009) “Acute Postoperative Pain”

In: Miller’s Anesthesia, 7th edition, Churchill Livingstone, pp

2757 – 2776

7 Lê Văn Chung, Nguyễn Văn Chừng (2008), “Gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống phối hợp trong phẫu thuật chỉnh hình

chi dưới” Y học TP Hồ Chí Minh, tập 12 (1), tr 78 - 83

8 Nguyễn Thị Thanh (2003), “Hiệu quả và tính an toàn của giảm

đau sau mổ bằng gây tê ngoài màng cứng” Sinh hoạt khoa học chuyên đề áp dụng GTNMC để giảm đau trong và sau mổ,

TP HCM, tr 3 – 7

9 Nguyễn Văn Chừng (2002), “GMHS trong phẫu thuật vùng

hậu môn trực tràng” Trong: Lê Quang Nghĩa: Bệnh trĩ, NXB Y

Học TP.HCM, tr.167-192

10 Robert J et al (2003), “The role of Epidural Anesthesia and

Analgesia in surgical practice”, Annals Surgery, 238(5): 663-673

11 Võ Thị Nhật Khuyên, Nguyễn Thị Ngọc Đào, Phan Tôn Ngọc

Vũ, Nguyễn Văn Chừng (2010) “Máu tụ ngoài màng cứng

sau gây tê ngoài màng cứng” Y học TP Hồ Chí Minh, tập 14

(1), tr 278 - 282

Ngày nhận bài báo: 30/04/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/05/2014 Ngày bài báo được đăng: 30/6/2014

Ngày đăng: 21/01/2020, 01:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w