Nội dung bài viết mô tả về kết quả của chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone nhằm can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trên nhóm NCMT tại Thành phố Hà Nội. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.
Trang 147
KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT
DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC THAY THẾ METHADONE
NHẰM CAN THIỆP DỰ PHÒNG HIV TRÊN NHÓM
NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI 2 QUẬN/HUYỆN HÀ NỘI
Bùi Thị Nga*; Nguyễn Anh Quang*; Nguyễn Thanh Long**
TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 người nghiện chích ma tuý (NCMT) được điều trị
methadone tại 02 cơ sở TP.Hà Nội Kết quả cho thấy: liều khởi đầu trung bình của bệnh nhân
(BN) tham gia nghiên cứu là 18,8 mg/ngày, liều duy trì trung bình 43,5 mg/ngày Tần suất sử
dụng heroin hàng ngày của BN giảm rõ rệt: trước điều trị 1,24 lần/ngày; giai đoạn dò liều 1,07
lần/ngày sau 7 ngày, 0,33 lần/ngày sau 30 ngày và sau 3 tháng điều trị: 0,08 lần/ngày
Tỷ lệ BN được chuyển gửi đến các dịch vụ y tế khác: điều trị ARV: 44,5%, điều trị nhiễm trùng
cơ hội: 30,8%, cung cấp bơm kim tiêm (BKT) sạch: 21,3%, tư vấn xét nghiệm tự nguyện:
8,3% Các phương pháp can thiệp dự phòng này nhằm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm
người NCMT
* Từ khóa: HIV/AIDS; Methadone; Nghiện chích ma tuý
results of addiction treatment opiate substitution
therapy with methadone program in order for HIV
prevention interventions on injection drug
addiction in two counties/districts of HaNoi
Summary
The cross-sectional descriptive study was done on 400 injection drug users (IDUs) who were
treated with methadone at 02 centers, Hanoi City The results showed that: average initial dose
for patients participating in the study was 18.8 mg/day; average maintenance dose was 43.5
mg/day The frequency of daily heroin use of patients considerably reduced: pretreatment
frequency was 1.24 times/day, dose-finding trial frequency after 7 days was 1.07 times/day,
after 30 days: 0.33 times/day, after 3 months: 0.08 times/day The rate of patients being
transferred to other health services: antiretroviral therapy was 44.%; opportunistic infection
treatment: 30.8%, clean needle provision: 21.3%; voluntary counseling test: 8.3% Preventive
interventions aimed to reduce HIV prevalence among injection drug users
* Key words: HIV/AIDS; Methadone; Injection drug users
* Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
** Bộ Y tế
Người phản hồi (Corresponding): Bùi Thị Nga (hoangnga_hatay@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 24/01/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 8/02/2014
Ngày bài báo được đăng: 25/02/2014
Trang 250
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiờm chớch ma tuý (TCMT) đó trở
thành một vấn nạn toàn cầu, khụng loại
trừ một quốc gia hay một vựng lónh thổ
nào, khụng chỉ ảnh hưởng tới sức khoẻ
cộng đồng mà cũn ảnh hưởng tới phỏt
triển kinh tế và an ninh chớnh trị của mỗi
quốc gia Trờn thế giới, chương trỡnh điều
trị nghiện cỏc chất dạng thuốc phiện thay
thế bằng methadone đó được triển khai
tại cỏc quốc gia như: Úc, Mỹ, Hà Lan,
Ấn Độ, Thỏi Lan, Trung Quốc Tại những
nước này, chương trỡnh được triển khai
can thiệp trong nhúm NCMT gúp phần
giảm hành vi tội phạm và lõy truyền HIV
cộng đồng [5, 6]
Tại Việt Nam, lõy truyền HIV chủ yếu
qua con đường TCMT với > 50% tổng số
ca nhiễm trờn toàn quốc Việt Nam mới
chỉ ỏp dụng một số mụ hỡnh dự phũng
lõy nhiễm cho người NCMT như phõn
phỏt BKT sạch, bao cao su (BCS), thay
đổi hành vi, tư vấn thụng qua bạn đồng
đẳng, hoạt động của cỏc cõu lạc bộ phũng
chống ma tuý [1, 3]
Hiện nay, TP Hà Nội cú nhiều mụ hỡnh
can thiệp dự phũng lõy nhiễm HIV cho
nhúm NCMT đang sử dụng là chiến lược
giảm thiểu tỏc hại như chương trỡnh điều
trị nghiện cỏc chất dạng thuốc phiện thay
thế bằng methadone Tuy nhiờn, tại TP
Hà Nội chưa cú đỏnh giỏ để tổng kết và
lựa chọn mụ hỡnh hiệu quả trong phũng
chống lõy truyền HIV Nghiờn cứu này
nhằm: Mụ tả kết quả của chương trỡnh
điều trị nghiện cỏc chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc methadone nhằm can thiệp
dự phũng lõy nhiễm HIV trờn nhúm NCMT
tại Thành phố Hà Nội
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIấN CỨU
1 Đối tượng nghiờn cứu
Người NCMT sử dụng cỏc loại ma tỳy bằng BKT theo tĩnh mạch
trị methadone: huyện Từ Liờm và Quận
Hà Đụng, TP Hà Nội
- Thời gian nghiờn cứu: từ 1 - 2012 đến 12 - 2012
2 Phương phỏp nghiờn cứu
- Nghiờn cứu mụ tả cắt ngang
- Cỡ mẫu được tớnh theo cụng thức:
n = Z (21/2) p.(1-p)/d2
Trong đú: n: cỡ mẫu tối thiểu
Z: hệ số tin cậy, với ngưỡng xỏc suất
= 5%, Z(1/2)= 1,96
P = 40% là tỷ lệ nhiễm HIV trong nhúm
đối tượng NCMT năm 2009 (theo điều tra
d ≈ 5% sai số cho phộp, thay số tớnh
n = 370 người Thực tế đó điều tra 400 đối tượng
- Xử lý và phõn tớch số liệu: sử dụng phần mềm EPI-Data; Stata 8.0 để xử lý
số liệu, trỡnh bày trờn biểu đồ theo tần suất và tỷ lệ %
KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Biểu đồ 1: Tỷ lệ BN trong giai đoạn dũ
liều và điều trị duy trỡ
Giai đoạn liều ổn định Giai đoạn dò liều
Trang 350
Trong 400 BN đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại Quận Hà Đông và huyện Từ Liêm; 12,5% BN trong giai đoạn dò liều và 87,5% giai đoạn liều ổn định
Liều khởi đầu trung bình của BN tham gia nghiên cứu là 18,8 mg/ngày Liều duy trì trung bình 43,5 mg/ngày Bên cạnh việc điều trị thay thế bằng thuốc methadone, một trong những yếu tố liên quan đến BN hạn chế sử dụng heroin khi đã đạt tới liều duy trì là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ Liều điều trị methadone cũng có vai trò quan trọng trong dự phòng lây nhiễm HIV Kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy: BN được điều trị với liều > 80 mg/ngày có tỷ lệ lây nhiễm HIV thấp hơn so với BN dùng liều thấp hơn [4, 5]
Số lần trung bình sử dụng heroin hàng ngày của BN giảm rõ rệt: trước điều trị trung bình 1,24 lần/ngày; giai đoạn dò liều 1,07 lần/ngày sau 7 ngày, 0,33 lần/ngày sau 30 ngày và sau 3 tháng là 0,08 lần/ngày Như vậy, tình trạng tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình điều trị methadone của nhóm đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong thời gian
dò liều Một số nghiên cứu cho thấy điều trị metahdone làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp [4]
Trước khi điều trị 7 ngày điều trị đầu tiên (giai
đoạn dò liều)
30 ngày sau điều trị (giai đoạn dò liều)
Sau 3 tháng điều trị
LiÒu methadone Khëi ®Çu
Biểu đồ 3: Tần suất sử dụng heroin khi điều trị methadone trong 3 tháng
LiÒu methadone Duy tr×
LiÒu methadone hiÖn t¹i
Biểu đồ 2: Liều methadone điều trị cho BN
Trang 451
Biểu đồ 4: Tỷ lệ BN bị tác dụng phụ khi điều trị bằng methadone
Trong các tác dụng phụ, táo bón là triệu
chứng phổ biến nhất (71,3%) Một số tác
dụng không mong muốn khác như suy giảm
tình dục (22,8%), nôn, mất ngủ và ngứa…
(8,8 - 14,3%) Kết quả này tương tự với
nghiên cứu của Bộ Y tế: triệu chứng táo
bón hay gặp nhất chiếm 60,8% BN điều
trị, một số BN gặp tác dụng không mong
muốn khác như suy giảm tình dục, nôn, mất ngủ, ngứa… (10 - 11%) Đa số BN báo cáo biểu hiện táo bón giảm dần theo thời gian điều trị là do BN đã thay đổi chế
độ ăn uống, thể dục và thích nghi dần với trạng thái táo bón sau khi điều trị một thời gian dài [2]
Biểu đồ 5: BN đánh giá về quy trình tiếp nhận và làm xét nghiệm
Để đánh giá chất lượng về quy trình
đón tiếp BN, thái độ của nhân viên y tế…,
chúng tôi đã sử dụng bộ câu hỏi với các
tiêu chí hợp lý, không hợp lý, qua nhận
xét của BN tham gia điều trị, cho thấy việc
BN đánh giá về thái độ của nhân viên y tế
cũng như quy trình điều trị và hỗ trợ điều
trị bằng methadone góp phần đáng kể
cho điều trị thành công nghiện các chất
dạng thuốc phiện thay thế bằng methadone
BN thường xuyên được tư vấn về vấn đề sức khỏe, tinh thần, các vấn đề xã hội ảnh hưởng đến việc điều trị trợ giúp BN tuân thủ điều trị, đặc biệt hỗ trợ điều trị cho BN khắc phục tác dụng phụ, nguy cơ quá liều của thuốc Quy trình xét nghiệm, thời gian nộp đơn và quy trình đón tiếp
BN chiếm tỷ lệ ≈ 100% đạt tiêu chí hợp lý Tuy nhiên 2,4% BN cho rằng quy trình xét nghiệm chưa hợp lý, cßn kéo dài
bn
Trang 552
Biểu đồ 6: Tỷ lệ hài lòng của BN với thái độ của nhân viên y tế
Hầu hết BN (99 - 100%) được điều trị
đều rất hài lòng và hài lòng với quy trình
đón tiếp, thái độ làm việc của bác sỹ, thái
độ nhân viên tư vấn… cũng như hài lòng
với thái độ của nhân viên công tác tại cơ
sở điều trị (95,0 - 98,0%) Nghiên cứu của
Bộ Y tế cũng cho thấy đa số BN hiện
đang được điều trị tại các cơ sở đều hài
lòng với dịch vụ nhận được cũng như với
thái độ của nhân viên công tác tại cơ sở điều trị Tuy vậy, vẫn có hơn 1% BN cho rằng thời gian tiếp đón cần linh hoạt hơn,
do họ có thể bận đi làm nên không đến uống thuốc kịp giờ mở cửa của cơ sở điều trị Khoảng 14% BN cho rằng thời gian dò liều chưa thích hợp, kéo dài, nên
BN tiếp tục có biểu hiện của hội chứng cai [2]
Biểu đồ 7: Tỷ lệ BN được hưởng các dịch vụ y tế và hỗ trợ khác
Tỷ lệ BN được giới thiệu tới các dịch
vụ chăm sóc hỗ trợ khác như: điều trị
ARV 44,5%; điều trị nhiễm trùng cơ hội
30,8%; nơi cung cấp BKT sạch 21,3%; tư
vấn xét nghiệm HIV tự nguyện 8,3% Tuy
nhiên, tỷ lệ BN được giới thiệu tới các dịch
vụ còn thấp, đặc biệt hỗ trợ về việc làm
hoặc hỗ trợ xã hội khác dành cho người
sau cai nghiện Kết quả nghiên cứu định
tính và định lượng trên thế giới cho thấy, bên
cạnh điều trị thay thế bằng thuốc methadone,
một trong nh÷ng yếu tố liên quan đến BN hạn chế sử dụng heroin khi đã đạt tới liều duy trì là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ [5]
Một nghiên cứu tại Hồng Kông cho
thấy người NCMT khi được điều trị bằng methadone có ít bạn t×nh và hành vi t×nh dục ít nguy cơ hơn Ngoài tác dụng giúp người nghiện ngừng hoặc giảm tần suất
sử dụng ma túy, methadone cũng là một yếu tố góp phần làm giảm hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích trong nhóm này [4]
Trang 68
Biểu đồ 8: Tỷ lệ BN biết thông tin về chương trình methadone
Tỷ lệ BN được giới thiệu và nhận các dịch vụ hỗ trợ xã hội qua nguồn cung cấp thông tin về phương pháp điều trị methadone là: báo chí, phương tiện thông tin đại chúng (41,7%), cán bộ xã/phường (36,3%), nhân viên hỗ trợ người hồi gia (21,5%), BN cơ sở điều trị methadone (16,7%)
KẾT LUẬN
Hiệu quả của điều trị thay thế bằng thuốc
HIV trong nhóm TCMT rất khả quan Tỷ lệ
liều khởi đầu trung bình của BN 18,8
mg/ngày, liều duy trì trung bình 43,5
mg/ngày Tần suất sử dụng heroin hàng
ngày của BN giảm rõ rệt: trước điều trị 1,24
lần/ngày; giai đoạn dò liều 1,07 lần/ngày
sau 7 ngày, 0,33 lần/ngày sau 30 ngày và
sau 3 tháng điều trị là 0,08 lần/ngày Tỷ lệ
BN được chuyển gửi đến các dịch vụ y tế
khác như: điều trị ARV 44,5%; điều trị
nhiễm trùng cơ hội 30,8%; cung cấp BKT
sạch 21,3%; tư vấn xét nghiệm HIV tự
nguyện 8,3% Đa số BN đang được điều trị
tại các cơ sở đều cho biết họ rất hài lòng,
hài lòng với các dịch vụ đón tiếp BN, thái độ
làm việc của bác sỹ, thái độ nhân viên tư
vấn cũng như hài lòng với thái độ của nhân
viên công tác tại cơ sở điều trị methadone
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế Báo cáo kết quả hoạt động phòng
chống HIV/AIDS 6 tháng đầu và phương hướng
nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013 2013
2 Bộ Y tế Báo cáo kết quả triển khai thí
điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại TP Hải Phòng và TP
Hồ Chí Minh năm 2008 2009, tr.1-9
3 Thủ tướng Chính phủ Chiến lược quốc
gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm
2020 và tầm nhìn 2030 2012
4 Shui Shan Lee Kinh nghiệm của Hồng Kông trong điều trị thay thế bằng methadone nhằm dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT Trung tâm Dự phòng các bệnh lây truyền Trường Đại học Trung Quốc tại Hồng Kông
5 Lynn Sullivan Lợi ích của điều trị duy trì bằng methadone làm tăng hiệu quả của điều trị bằng ARV cho người nghiện ma tuý nhiễm HIV Trường Đại học Yale, Hoa Kỳ
6 UNAIDS Tuyên ngôn UNGASS (Phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc) Báo cáo Hội nghị cấp cao về HIV/AIDS tại New York 6/2011 2011