1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình phẫu thuật lồng ngực tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 2 năm (2005-2006)

6 139 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 179,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm bước đầu đánh giá những kinh nghiệm và khả năng phẫu thuật tại khoa ngoại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, nghiên cứu thực hiện trên tất cả những bệnh nhân được điều trị phẫu thuật tại khoa Ngoại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 2 năm (2005-2006).

Trang 1

TÌNH HÌNH PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH TRONG 2 NĂM (2005 – 2006)

Lê Tiến Dũng*

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Bước đầu đánh giá những kinh nghiệm và khả năng phẫu thuật tại khoa Ngoại

Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu Bao gồm tất cả những bệnh nhân được

điều trị phẫu thuật tại khoa Ngoại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 2 năm (2005-2006)

Kết quả: Trong thời gian 2 năm từ 01/2005 đến 12/2006, đã có 724 bệnh nhân được phẫu thuật tại

khoa Ngoại Lồng ngực, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Các bệnh lý thường gặp: ung thư phế quản phổi gồm

247 trường hợp, tràn khí màng phổi 128 trường hợp, ổ cặn màng phổi 64 trường hợp, u nấm Aspergillus 73 trường hợp, u trung thất 44 trường hợp, các bệnh lý khác 168 trường hợp Phẫu thuật chủ yếu là cắt thùy

phổi và cắt phổi gồm 244 trường hợp (33,7%), bóc vỏ màng phổi 53 trường hợp (9.7%), phẫu thuật lấy u trung thất 27 trường hợp (3,7%), Plombage 18 trường hợp (2,4%), 3 trường hợp phẫu thuật cắt nối phế quản (0,5%) Phẫu thuật nội soi gồm 176 trường hợp trong đó có: 122 trường hợp điều trị tràn khí màng phổi, 10 trường hợp nội soi trung thất và 5 trường hợp lấy u trung thất Kết quả phẫu thuật: 97% bệnh nhân có kết quả tốt Biến chứng phải mổ lại là: chảy máu sau mổ 18 trường hợp (2,5%), dò phế quản 2 trường hợp Có 2 bệnh nhân tử vong chiếm tỷ lệ 0,4%

Kết luận: Phẫu thuật điều trị các bệnh lý hô hấp ngày càng gia tăng, trong đó gặp nhiều nhất là phẫu

thuật điều trị ung thư phổi, kế đến là phẫu thuật điều trị các bệnh lý liên quan đến lao Việc thực hiện các kỹ thuật mới trong phẫu thuật như phẫu thuật Plombage, cắt nối khí phế quản đã đem lại những kết quả khả quan trong điều trị

ABSTRACT

THORACIC SURGICAL OPERATION AT PHAM NGOC THACH HOSPITAL

DURING TWO YEARS (2005-2006)

Le Tien Dung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 46 - 49

Objective: To review our experience of surgical treatment at Pham Ngoc Thach hospital

Material and Method: retrospective study The patients were treated by surgery in Thoracic Surgery

Department at Pham Ngoc Thach hospital during 2 years from 01/2005 to 12/2006

Results: 724 patients were treated by surgery in Thoracic Surgery Department at Pham Ngoc Thach

hospital during 2 years from 01/2005 to 12/2006 The common indications: lung cancer 247 cases, pneumothorax 128 cases, pulmonary aspergilloma 73 cases, chronic pleural empyema 64 cases, mediastinal tumors 44, other indications 168 cases The major operative procedures were performed include pneumonectomy and lobectomy 244 cases (33.7%), decortication 53 cases (9.7%), resection of the mediastinal tumors 27 cases (3.7%), cavernostomy followed by muscle flap Plombage 18 cases (2.4%), tracheobronchial resections and reconstruction: 3 cases (0.5%) Thoracoscopic surgery was applied in 176 cases: 122 cases for the treatment of pneumothorax, 10 cases of mediastinoscopy and 5 cases for the resection

of mediastinal tumors The results of the operative treatment: 97% patients had good results Complications

* Khoa Ngoại Lồng ngực – Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

requiring re-operation: 18 cases of postoperative bleeding (2.5%), bronchopleral fistula 2 cases There were 2 cases death (0.4%)

Conclusions: The surgical treatment of respiratory diseases increase more and more The common

indications are surgical treatment for lung cancer and surgical treatment for tuberculous diseases To perform the new operative procedures such as: Plombage, tracheobronchial resections and reconstruction proved to have good results

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là bệnh viện

đầu ngành về lao và bệnh phổi tại khu vực phía

Nam Hàng năm có hàng chục ngàn lượt bệnh

nhân đã được chẩn đoán và điều trị tại bệnh

viện Trong số đó nhiều bệnh nhân có chỉ định

điều trị phẫu thuật như ung thư phổi, tràn khí

màng phổi, các bệnh lý nhiễm trùng

khác…Khoa Ngoại Lồng ngực được thành lập

vào năm 2004 và đi vào hoạt động từ tháng

1-2005 với nhiệm vụ điều trị và phẫu thuật cho

những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật, góp

phần nâng cao chất lượng điều trị

Báo cáo này chỉ nêu lên một vài số liệu

chính về hoạt động phẫu thuật và một số tiến bộ

trong điều trị tại khoa Ngoại Lồng ngực trong 2

năm đầu thành lập (2005 – 2006) nhằm bước đầu

đánh giá những kinh nghiệm và khả năng phẫu

thuật tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hồi cứu các bệnh nhân phẫu

thuật tại khoa Ngoại Lồng ngực Bệnh viện Phạm

Ngọc Thạch trong thời gian 2 năm từ tháng

1/2005 đến tháng 12/2006

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Trong thời gian 2 năm từ 2005 đến 2006 đã

có 724 bệnh nhân được phẫu thuật tại khoa

Ngoại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong đó các

bệnh lý hay gặp là: ung thư phế quản phổi, các

bệnh lý của lao, tràn khí màng phổi, u trung thất,

bệnh lý nhiễm trùng ngoài lao

Các bệnh lý phẫu thuật

B ệ nh lý ph ẫ u thu ậ t n %

Ung th ư ph ế qu ả n ph ổ i 247 34.1

Tràn khí màng ph ổ i 128 17.7

U n ấ m ph ổ i 73 10

Ổ c ặ n màng ph ổ i 64 8.8

B ệ nh lý ph ẫ u thu ậ t n %

Áp xe, giãn ph ế qu ả n 30 4.1 Kén khí ph ế qu ả n 28 3.9 Các b ệ nh lý khác 62 8.6

Trong các bệnh lý hô hấp chỉ định phẫu thuật hàng đầu là ung thư phổi chiếm 34.8% Hiện nay ung thư phổi là ung thư đứng hàng đầu ở nam giới Tại Việt nam theo Nguyễn Việt

Cồ (1996)(2) ung thư phổi chiếm khoảng 22,3% ở nam và 8,5% ở nữ so với tổng số các loại ung thư Về tỷ lệ ung thư phổi giữa nam và nữ, Văn Tần (2003)(3) đưa ra tỷ lệ nam gấp 3 lần nữ Chúng tôi gặp tỷ lệ nam gấp 2,2 lần nữ

Đứng hàng thứ hai về bệnh lý phẫu thuật

là các bệnh lý liên quan đến lao như: u lao, u nấm phổi và ổ cặn màng phổi chiếm 24,9% Tỷ

lệ này cao hơn so với báo cáo của Nguyễn Việt

Cồ (1999)(2) tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương là 14,6% Sự khác biệt này có thể

do Việt nam hiện đứng thứ 3 tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương về tỷ lệ mắc lao, mặt khác chỉ định phẫu thuật trong điều trị lao ngày càng rộng rãi hơn

Trong 2 năm 2005-2006 chúng tôi đã phẫu thuật cho 128 bệnh nhân tràn khí màng phổi (17,7%) trong đó phẫu thuật nội soi 122 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 95,3% Các chỉ định phẫu thuật chủ yếu trong điều trị tràn khí màng phổi là tràn khí màng phổi tự phát và tràn khí màng phổi có

rò khí kéo dài

Về bệnh lý trung thất chúng tôi gặp 44 trường hợp u trung thất (6%) và 10 trường hợp hạch trung thất Bệnh lý trung thất gặp nhiều nhất là u thần kinh gồm 19 trường hợp (43,2%), sau đó là u tuyến ức 8 trường hợp (18,2%) Tỷ lệ

Trang 3

giữa nam và nữ là 33 nam và 11 nữ Văn Tần

(2003)(3) cũng đưa ra tỷ lệ tương tự

Đối với bệnh lý nhiễm trùng ngoài lao như

áp xe phổi, giãn phế quản chỉ định phẫu thuật

được đặt ra khi điều trị nội khoa thất bại hay giải

quyết hậu quả của bệnh như ho ra máu Trong 2

năm chúng tôi chỉ gặp 30 trường hợp (4,1%) Tại

bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương trong 5

năm 1994-1998 tỷ lệ này là 9,76% (Nguyễn Việt

Cồ 1999)(2) Sự khác biệt này có thể do những tiến

bộ của chẩn đoán và điều trị, của việc sử dụng

kháng sinh hợp lý

Phương pháp phẫu thuật

Bảng 1: Phẫu thuật mở ngực trong điều trị bệnh lý

phổi - màng phổi

Ph ươ ng pháp ph ẫ u thu ậ t n %

C ắ t ph ổ i không đ i ể n hình 45 10,5

C ắ t phân thùy ph ổ i 4 0,9

C ắ t thùy ph ổ i 226 52,8

C ắ t ph ổ i 18 4,2

Bóc v ỏ màng ph ổ i 53 12,4

M ở c ử a s ổ màng ph ổ i 13 3

C ắ t kén khí ph ế qu ả n 6 1,4

M ở ng ự c ch ẩ n đ oán 45 10,5

Ph ẫ u thu ậ t Plombage 18 4,2

T ng s ố 428 100

Phẫu thuật chủ yếu trong điều trị bệnh lý

phổi là cắt thùy gồm 226 trường hợp (52,8%)

Đối với bệnh nhân ung thư phổi, tỷ lệ cắt thùy

phổi là 65,2% Nguyễn Việt Cồ(1999)(2), Đồng

Lưu Ba (2003)(1) đưa ra tỷ lệ cắt thùy ở bệnh nhân

ung thư phổi là 78%

Trong những năm gần đây, việc áp dụng

nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán ung thư

phổi như nội soi phế quản, CT scanner … đã cho

phép chẩn đoán nhanh, chính xác các bệnh lý

phổi Điều này đã làm giảm tỷ lệ mổ thăm dò

Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc chẩn

đoán chính xác giai đoạn phẫu thuật, loại tế bào

ung thư vẫn gặp khó khăn Trong 2 năm

2005-2006, tỷ lệ mở ngực chẩn đoán của chúng tôi

chiếm 10,5%

Từ tháng 11-2005 đến 12-2006, chúng tôi đã

áp dụng phẫu thuật đánh xẹp thành ngực theo

phương pháp Plombage trong điều trị u nấm

phổi, ổ cặn màng phổi cho 18 bệnh nhân có thể trạng quá yếu hay tổn thương quá phức tạp Bước đầu kỹ thuật này đã đem lại những kết quả khả quan trong điều trị ho ra máu ở bệnh nhân u nấm phổi

Bảng 2: Phẫu thuật u trung thất

Ph ươ ng pháp ph ẫ u thu ậ t n %

M ở ng ự c l ấ y tr ọ n u 24 72,7

M ở x ươ ng ứ c l ấ y u 3 9,1

M ở ng ự c thám sát 6 18,2

Trong số 33 trường hợp u trung thất, chúng tôi đã phẫu thuật lấy trọn u cho 27 bệnh nhân (81,8%) Đối với 6 trường hợp phải mở ngực thám sát do khối u ác tính xâm lấn xung quanh nên không thể cắt bỏ u được

Bảng 3: Phẫu thuật nội soi lồng ngực

Ph ẫ u thu ậ t n ộ i soi n %

Soi trung th ấ 10 5,7

C ắ t khâu bóng khí, kén khí 127 72,2

C ắ t u trung th ấ 5 2,8

C ắ t ph ổ i không đ i ể n hình 6 3,4

Ch ẩ n đ oán 28 15,9

T ng s ố 176 100

Trong 2 năm 2005-2006 chúng tôi đã thực hiện 176 ca phẫu thuật nội soi chiếm 24,3% số ca phẫu thuật Trong đó phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi là 122 trường hợp (69,3%)

Có 10 trường hợp nội soi trung thất để chẩn đoán hạch trung thất chưa rõ bản chất, 5 trường hợp nội soi lấy u trung thất

Bảng 4: Các phẫu thuật khác

Ph ươ ng pháp ph ẫ u thu ậ t n

C ắ t n ố i khí qu ả n 3

L y h ạ ch ngo ạ i vi 23 Khâu ph ụ c h ồ i c ơ hoành 1

M ở màng tim 2

Chúng tôi đã phẫu thuật cắt nối khí quản cho 3 bệnh nhân bị di chứng hẹp khí quản sau lao Qua các phẫu thuật này chúng tôi cũng đã rút ra được những kinh nghiệm nhất định trong điều trị hẹp khí phế quản

Biến chứng phẫu thuật

Tỷ lệ biến chứng phẫu thuật trong 2 năm là 3% (22 bệnh nhân) Có 20 bệnh nhân phải phẫu

Trang 4

thuật lại trong đó 18 bệnh nhân do chảy máu sau

mổ (2,5%), có 2 bệnh nhân rò phế quản

Có 2 bệnh nhân tử vong (0,3%) trong đó 1 bệnh nhân tử vong 24 giờ đầu do nhồi máu cơ tim, 1 bệnh nhân bị suy hô hấp ở ngày thứ 10

KẾT LUẬN

Phẫu thuật điều trị các bệnh lý hô hấp ngày càng gia tăng, trong đó gặp nhiều nhất là phẫu thuật điều trị ung thư phổi, kế đến là phẫu thuật điều trị các bệnh lý liên quan đến lao

Việc thực hiện các kỹ thuật mới trong phẫu thuật như phẫu thuật Plombage, cắt nối khí phế quản đã đem lại những kết quả khả quan trong điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bệnh viện Chợ Rẫy 2003: Kỹ yếu Hội thảo Pháp – Việt lần

3 về bệnh phổi & phẫu thuật lồng ngực; tr 122-126

Đình Minh, Nguyễn Thế Vũ, Vũ Đỗ, Phạm Huy Minh: Tình hình phẫu thuật phổi tại khoa Ngoại Viện Lao và Bệnh phổi trong 5 năm (1994-1998) Toàn văn báo cáo khoa học Đại hội Ngoại khoa toàn quốc 1999; tr 183-186

về bệnh phổi & phẫu thuật lồng ngực; tr 116-120

Ngày đăng: 21/01/2020, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w