1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm điện tâm đồ của cơn nhịp nhanh thất nguyên phát tại buồng thoát tâm thất

6 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 499,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điện tâm đồ trong cơn nhịp nhanh thất nguyên phát có những đặc điểm riêng có thể giúp dự đoán chính xác vị trí xuất phát của ổ nhịp nhanh, bài viết với mục tiêu phân tích một số đặc điểm trên điện tâm đồ bề mặt của cơn nhịp nhanh thất nguyên phát ở những bệnh nhân đã được điều trị thành công bằng phương pháp triệt phá điện sinh lý qua catheter bằng năng lượng sóng radio.

Trang 1

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN TÂM ĐỒ CỦA CƠN NHỊP NHANH THẤT

NGUYÊN PHÁT TẠI BUỒNG THOÁT TÂM THẤT

Nguyễn Đức Công*, Nguyễn Ngọc Tước**, Trương Quang Khanh, Trần Văn Kiệt*, Lê Hà Trung*,

Nguyễn Công Vân*

TÓM TẮT

Cơ sở nghiên cứu: Điện tâm đồ trong cơn nhịp nhanh thất nguyên phát có những đặc điểm riêng có thể

giúp dự đoán chính xác vị trí xuất phát của ổ nhịp nhanh

Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích một số đặc điểm trên điện tâm đồ bề mặt của cơn nhịp nhanh thất nguyên

phát ở những bệnh nhân đã được điều trị thành công bằng phương pháp triệt phá điện sinh lý qua catheter bằng năng lượng sóng radio

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả

Kết quả: Trong số 23 bệnh nhân nhịp nhanh thất tại buồng thoát thất được triệt phá thành công có: 6 bệnh

nhân (26%) từ thành tự do buồng thoát thất phải với hình ảnh trong cơn nhịp nhanh có thời gian phức bộ QRS lớn hơn 140ms và hình ảnh RR’ hay R’R tại chuyển đạo DII, DIII … phân biệt với nhóm bệnh nhân có ổ loạn nhịp xuất phát từ vùng vách của buồng thoát thất phải là 15 bệnh nhân (65,2%) Vùng chuyển tiếp trước ngực của R/S ở đa số vị trí là V3,V4,V5 tuy nhiên nếu chuyển tiếp V1,V2 có khả năng ổ loạn nhịp nằm tại buồng thoát thất trái với 2 bệnh nhân (8,7%)

Kết luận: Một số đặc điểm trên điện tâm đồ cơn nhịp nhanh thất vô căn có thể giúp dự đoán vị trí xuất phát

ổ loạn nhịp tại buồng thoát tâm thất

Từ khóa: Điện tâm đồ, nhanh thất nguyên phát

SUMMARY

THE ELECTROCARDIOGRAPHIC CHARACTERISTICS OF IDIOPATHIC VENTRICULAR

TACHYCARDIA ORIGINATING IN VENTRICULAR OUTFLOW TRACT

Nguyen Đuc Cong, Nguyen Ngoc Tuoc, Truong Quang Khanh, Tran Van Kiet, Le Ha Trung,

Nguyen Cong Van * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 293 - 298

Background: Idiopathic ventricular tachycardia can originate from different areas in the outflow tract,

electrocardiographic criteria may be helpful in predicting the area of origin

Objectives: The aim of this study was to analyze some surface electrocardiographic characteristics of

different anatomic mapping sites for successful ablation at Outflow tract ventricular tachycardia

Methods: Descriptive, retrospective and prospective study.

Results: We studied surface electrocardiograms during tachycardia of 23 successfully ablated patients with

idiopathic ventricular outflow tract: 6 patients (26%) from the free wall of RVOT have QRS duration time > 140

ms, RR’ or R’R waveform at DII, DIII leads and contrary to electrocardiogram features of 15 patients (65.2%) from septal RVOT 2 patients (8.7%) ablated in the left outflow tract have R/S transition in lead V1,V2 contrary

to another sites with R/S transition V3,V4,V5

* Bệnh viện Thống Nhất TPHCM, ** Bệnh viện Bạch Mai

Tác giả liên lạc: ThsBs Trương Quang Khanh, ĐT: 0913778838, Email: bstruongkhanh@yahoo.com

Trang 2

Conclusions: We found some distinctive ECG ventricular tachycardia characteristics of different sites at

outflow tract

Keywords: Electrocardiogram, idiopathic ventricular tachycardia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, với việc áp dụng kỹ thuật cắt đốt

triệt bỏ các ổ loạn nhịp trong buồng tim bằng

năng lượng sóng điện radio đã giúp chúng ta

điều trị được các loại loạn nhịp tim từ đơn giản

đến phức tạp Triệt phá qua catheter đã trở

thành là lựa chọn điều trị tối ưu cho các loạn

nhịp nhanh kịch phát trên thất: nhịp nhanh do

vòng vào lại nút nhĩ thất, do đường phụ, nhịp

nhanh nhĩ… với tỉ lệ thành công cao > 90% và tỉ

lệ biến chứng thấp Điều trị bằng sóng radio

loạn nhịp nhanh thất nguyên phát ở bệnh nhân

không có bệnh tim thực thể cho hiệu quả điều trị

cao > 85% với tỉ lệ tái phát thấp(4,9)

Tuy nhiên, tỉ lệ thành công của phương

pháp triệt phá tùy thuộc rất nhiều vào vị trí của

ổ loạn nhịp Đối với nhịp nhanh thất nguyên

phát tại buồng thoát tâm thất, vị trí thường gặp

tại buồng thoát tâm thất phải, vùng vách khả

năng thành công cao hơn tại thành tự do, cao

hơn tại các vị trí khác như: buồng thoát tâm thất

trái, vùng xoang động mạch chủ

Nhiều nghiên cứu trước đây đưa ra các chỉ

số về điện tâm đồ 12 chuyển đạo ngoại biên

trong cơn nhịp nhanh trên thất, giúp dự đoán

được cơn nhịp nhanh bộ nối hay do đường phụ,

nhất là khả năng xác định vị trí của đường phụ

hiện với mức độ chính xác 80-90% Tuy nhiên,

đối với nhịp nhanh thất nguyên phát thì các chỉ

số trên điện tim này vẫn chưa được rõ ràng

Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

nhằm mục tiêu

1 Tìm mối tương quan giữa các chỉ số trên

điện tâm đồ với vị trí ổ loạn nhịp, dựa vào so

sánh kết quả các trường hợp triệt phá thành

công ổ loạn nhịp nhanh thất nguyên phát tại

buồng thoát tâm thất với các chỉ số, hình dạng

trên ECG 12 chuyển đạo bề mặt trong cơn nhịp

nhanh thất

2 Dự báo khả năng thành công cũng như đưa ra cách thức tiếp cận trong quá trình khảo sát và triệt phá cơn nhịp nhanh thất nguyên phát này

TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chẩn đoán nhịp nhanh thất

Là rối lọan nhịp do ổ phát nhịp từ thất với tần số lớn hơn 100 l/ phút, phức bộ QRS giãn rộng có thể đơn dạng hay đa dạng

Nguyên nhân thường gặp là do thiếu máu

cơ tim, với cơ chế vòng vào lại từ vùng sẹo do thiếu máu cơ tim hay nhịp nhanh thất nguyên phát xảy ra trên bệnh nhân không có bệnh tim thực thể

Nhịp nhanh thất nguyên phát tại buồng thoát tâm thất

Nhịp nhanh thất xuất phát từ vị trí buồng thoát của tâm thất, 90% ở vị trí thất phải (ROVT) Khoảng 10% ổ nhịp nhanh nằm ở đường thoát của tâm thất trái (LOVT-nằm ở vách liên thất) Trong cơn nhịp nhanh ECG biểu hiện hình dạng phức bộ QRS dãn rộng của block nhánh trái, trục phải đặc trưng (+90 ˚— +180 ˚) hay đôi khi trục trung gian Cơ chế hậu khử cực lẩy cò bởi catecholamine là cơ chế nền(2)

Ổ loạn nhịp thất nguyên phát tại buồng thoát tâm thất có thể xuất phát từ nhiều vị trí khác nhau do kích thước, hình dạng của buồng thoát tâm thất, mối liên hệ kề cận các cấu trúc bên cạnh, cũng như cấu trúc nội tâm mạc tương đối mỏng Các nghiên cứu gần đây đưa ra một

số vị trí sau: thường gặp là buồng thoát thất phải (vùng vách, thành tự do ), buồng thoát thất trái, vùng trên van động mạch phổi, vùng xoang Valsava động mạch chủ, vùng xoang vành, vùng thượng mạc gần buồng thoát tâm thất

Trang 3

Hình 1: Đặc điểm điện tâm đồ trong cơn nhịp nhanh

thất tại một số vị trí: RVOT, LVOT, xoang vành

(CS), trên van động mạch chủ (AO), động mạch phổi

(PA), thượng tâm mạc (EPI)

ĐỐI TƯỢNG = PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân có cơn nhịp nhanh thất đã được

xác định và thông qua hội chẩn khảo sát và cắt

đốt điện sinh lý tại bệnh viện Thống Nhất

Nhóm nghiên cứu chỉ gồm những bệnh nhân đã

được cắt đốt thành công và xác định được ổ

loạn nhịp thất dựa trên màn hình tăng sáng

Bệnh nhân không có bệnh tim thực thể:

Thăm khám tim bình thường (Điện tâm đồ lúc

nghỉ, X-Quang tim phổi, siêu âm tim bình, các

xét nghiệm về sinh hoá, ion đồ bình thường)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có bệnh cơ tim thiếu máu, bệnh

lý van tim, cơ tim dãn nở, phì đại, tim bẩm sinh,

hội chứng QT dài, hội chứng Brugada, rối loạn

điện giải…

Trang thiết bị

Hệ thống máy thăm dò điện sinh lý trong

buồng tim EPCOR (Siemens) Máy kích thích

tim theo chương trình model 5328 (Medtronic)

Máy triệt phá bằng năng lượng sóng tần số

radio ATARK (Medtronic) Hệ thống máy

X-Quang kỹ thuật số tăng sáng Siemens Các

catheter thăm dò loại 4 cực Cournand đặt mỏm

thất phải, loại Josephson đặt ở nhĩ phải cao và

bó His Catheter đốt dùng loại RF-Perform SC hay RF-Marinr (Medtronic), Webster cardiorhythm (Cordis)

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả, hồi cứu Ghi nhận các đặc điểm của bệnh nhân: tuổi, giới, tiền căn cơn nhịp nhanh, triệu chứng liên quan cơn nhịp nhanh, ghi điện tâm đồ lúc bình thường và khi có cơn nhịp nhanh, ghi nhận các thông số điện tim trong cơn nhịp nhanh: thời gian phức bộ QRS, hình dạng sóng R ở DII, DIII, khoảng chuyển tiếp R/S vùng trước tim

Đặt các catheter: theo dõi huyết động trực tiếp động mạch đùi bên trái, catheter nhĩ phải, thất phải, bó His

Khởi phát cơn nhịp nhanh theo protocol VT study

Khi xuất hiện cơn nhịp nhanh, đo đạc các thông số cơn nhịp nhanh, lập bản đồ nội mạc xác định vị trí có hoạt động khử cực thất sớm nhất Nếu cơn không kéo dài có thể tìm vị trí bằng phương pháp mapping kích thích (pace mapping) Vị trí tìm: ưu tiên tại buồng thoát thất phải, buồng thoát thất trái, xoang vành, trên van động mạch phổi …

Triệt phá ổ nhịp nhanh bằng năng lượng sóng radio qua catheter, với nhiệt độ đốt được cài đặt 60 C và power từ 20 -40 W, thời gian mỗi lần đốt được cài đặt là 2 phút

Tiêu chuẩn đánh giá thành công: Sau khi triệt phá, không xuất hiện cơn nhịp nhanh thất

tự phát hay ngoại tâm thu thất với hình dạng giống cơn nhịp nhanh thất trước đó

Xử lý các số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS11.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi và giới tính

Nghiên cứu thực hiện trên 23 bệnh nhân

Trang 4

trong đó bệnh nhân nam là 7 (chiếm tỉ lệ 30%),

nữ là 16 bệnh nhân (tỉ lệ 70%) Độ tuổi trung

bình là 40,7 ± 12,30 tuổi, bệnh nhân nhỏ tuổi

nhất là 28, lớn tuổi nhất là 65 tuổi

Bệnh lý khác kèm theo

Có 4 trường hợp ghi nhận có huyết áp cao

giai đoạn I-II, 5 trường hợp rối loạn chuyển hoá

Lipid, hai trường hợp Basedow khi điều trị bằng

thuốc Cordarone Có 2 bệnh nhân kèm cơn nhịp

nhanh kịch phát trên thất do vòng vào lại tại nút

nhĩ thất

Siêu âm tim bình thường với EF trung bình

là: 66,55%±5,17

Thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc bệnh là 6,2 năm±3,6 (ít nhất là

0,5 năm, nhiều nhất là 15 năm)

Triệu chứng lâm sàng

Bệnh nhân trong cơn đều biểu hiện mệt

(100%), tụt huyết áp, choáng váng có 3 bệnh

nhân (13%) và một bệnh nhân ngất khi cơn nhịp

nhanh kéo dài

Đặc điểm điện tâm đồ 12 chuyển đạo của

cơn nhịp nhanh

Hình dạng cơn nhịp nhanh

Bệnh nhân nhịp nhanh buồng thoát tâm thất

đều có dạng blốc nhánh trái, trục hướng xuống,

phức bộ QRS dãn rộng trung bình: 145,7 ms ±

37,2

Thời gian và hình dạng phức bộ QRS

Có 6 bệnh nhân (26%)có phức bộ QRS >

140ms và hiện diện sóng RR’, R’R ở DII, DIII

tương ứng vị trí ổ loạn nhịp tại thành tự do

buồng thoát thất phải (6/6 bn)

Tương tự có 17 bệnh nhân (74%) có phức bộ

QRS ≤ 140ms và sóng R ở DII, DIII tương ứng

với vị trí vùng vách buồng thoát thất phải

(15/17bn), và buồng thoát thất trái (2/17bn)

Hình ảnh vùng chuyển tiếp R/S chuyển đạo

trước tim

Vùng chuyển tiếp R/S >1 được ghi nhận tại

chuyển đạo V1,V2 là 2 bệnh nhân (8,7%), vùng

V3 là 10 bn (43,5%), vùng V4,V5 là 11 bn (47,8%)

Đặc điểm về điện sinh lý ổ nhịp nhanh thất

Vị trí ổ nhịp nhanh Bảng 1: Phân bố vị trí của nhịp nhanh buồng thoát

thất

Vị trí Thành tự do

RVOT

Vách RVOT Thất trái LOVT

Bảng 2: Phân bố vị trí cơn nhịp nhanh so với vùng

chuyển tiếp R/S

Có 10 bệnh nhân ghi nhận vùng chuyển tiếp tại V3 thì 9 bệnh nhân có ổ loạn nhịp tại vùng thoát thất phải, và 1 bn tại vùng thoát thất trái

Do đó độ đặc hiệu của chuyển tiếp tại V3 cho vị trí vùng thoát thất phải là 50% và độ nhạy là 42,9% Còn nếu vùng chuyển tiếp tại V4,V6 có

độ đặc hiệu cao 100% tuy nhiên độ nhạy là 52,4%, tại vị trí V1,V2 có độ đặc hiệu 50%, độ nhạy thấp 5%

Các thông số triệt phá

Thời gian đốt trung bình: 560s±220, số lượng triệt phá là 21±5 lần, nhiệt độ đốt là: 55,7± 1,70 C

Thời gian thủ thuật và chiếu tia Bảng 3: Thời gian thủ thuật và chiếu tia:

Thời gian Thủ thuật (phút) Chiếu tia(phút)

Bảng 4: Thời gian thủ thuật và chiếu tia tại các vị trí

Vị trí Thành tự do Vùng vách LVOT

Thời gian thủ thuật (phút)

170±12(90-190)

120±25(90-160)

175±20(100-180) Thời gian

chiếu tia (phút)

50±6(40-50) 30±9(20-55) 70±10(50-90)

Số lần triệt phá

BÀN LUẬN Đặc điểm vị trí cơn nhịp nhanh thất nguyên phát buồng thoát tâm thất

Về vị trí ổ loạn nhịp tại buồng thoát tâm

Trang 5

thất, trong số 23 bệnh nhân ghi nhận có biểu

hiện điện tâm đồ đặc trưng cơn nhịp nhanh thất

tại buồng thoát tâm thất, xác định vị trí tại

buồng thoát thất phải là 21 bệnh nhân, vùng

vách chiếm đa số so với vùng thành tự do

Ngoài vị trí thường gặp là buồng thoát thất

phải, tác giả Hildegard trong quá trình triệt phá

ổ loạn nhịp cho 33 bệnh nhân còn thấy vị trí tại

buồng thoát thất trái 5 bn (15%), xoang vành 3

bn (9%), xoang Valsava 2 bn (6%), thượng mạc 2

bn (6%), thân động mạch phổi 1 bn (3%) Trong

nghiên cứu chúng tôi, vị trí khác chúng tôi gặp

là 2 bn (8,7%) tại buồng thoát thất trái(7,8)

Số lần triệt phá cũng như thời gian triệt phá,

thời gian chiếu tia tại vị trí vùng vách thường

ngắn hơn so với vùng thành tự do một cách có ý

nghĩa thống kê, lý do tại vùng vách dễ cố định

catheter đốt so với vùng thành tư do, điều này

nói lên được khả năng tiên lượng thành công

của vùng vách cao hơn Tương tự, tuy số lần

triệt phá tại buồng thoát tâm thất trái ngắn hơn

so bên buồng thoát thất phải nhưng thời gian

chiếu tia cũng như triệt phá kéo dài hơn do phải

mất thời gian cho định vị ổ loạn nhịp tại buồng

thoát thất phải trước

Mối tương quan giữa vị trí ổ nhịp nhanh

với một số chỉ số trên điện tâm đồ cơn nhịp

nhanh thất nguyên phát tại buồng thoát

tâm thất

Trong số 23 bệnh nhân của chúng tôi 6 bệnh

nhân có thời gian phức bộ QRS > 140ms và hình

dạng sóng RR’,R’R tại chuyển đạo DII, DIII

tương ứng hoàn toàn với vị trí tìm ra ổ loạn

nhịp tại thành tự do của buồng thoát thất phải

Điều này cho thấy chỉ số điện tâm đồ bề mặt

này khá đặc trưng cho vị trí trên, sẽ giúp ích rất

nhiều trong quá trình khảo sát và cắt đốt, giảm

bớt thời gian chiếu tia và phẫu thuật Các tác giả

cho rằng thời gian dẫn truyền tại thành tự do kéo dài hơn tại vùng vách liên thất Nghiên cứu của Kamakura cũng cho kết quả tương tự(7,8) Mối tương quan hoạt động điện học của sóng R và S vùng trước tim sẽ phản ánh vị trí hoạt động ổ loạn nhịp sẽ lệch qua thất phải hay thất trái Vùng chuyển tiếp tại V1,V2,V3 nhiều khả năng ổ loạn nhịp xuất phát từ buồng thoát thất trái hơn Còn nếu vùng chuyển tiếp tại V4,V6 gần như chắc chắn vị trí ổ loạn nhịp tại

buồng thoát thất phải (độ đặc hiệu đến 100%)

Kết quả của chúng tôi, với độ đặc hiệu 100% cho vùng RVOT nếu chuyển tiếp tại V4,V6 tuy nhiên

độ nhạy chỉ khoảng 52,4%, đối với vùng chuyển tiếp tại V1,V2,V3 có độ nhạy và độ đặc hiệu cho vùng RVOT không cao Do đó cần lưu ý có khả năng ổ loạn nhịp từ buồng thoát thất trái, nếu trong quá trình mapping ổ loạn nhịp tại buồng thoát thất phải không thành công(10,11)

Chúng tôi tạm đề nghị một số cách thức tiếp cận triệt phá bệnh nhân nhịp nhanh thất nguyên phát tại buồng thoát thất:

Đánh giá và dự đoán khả năng thành công dựa vào một chỉ số trên điện tâm đồ ngoại biên của cơn nhịp nhanh thất: phức bộ QRS dãn rộng

>140ms và sóng RR’.R’R tại DII,DIII khả năng vị trí thành tự do buồng thoát thất phải, thời gian triệt phá sẽ lâu hơn

Dựa vào chuyển tiếp R/S các chuyển đạo trước ngực đánh giá khả năng vị trí ổ loạn nhịp Trong quá trình khảo sát và triệt phá nên ưu tiên thăm dò vị trí buồng thoát thất phải trước, nếu thất bại sẽ thăm dò lần lượt vị trí bên tim phải trước: trên van động mạch phổi, xoang vành, sau đó đến các vị trí tim trái: buồng thoát thất trái, xoang Valsava động mạch chủ(3)

Trang 6

Sơ đồ đánh giá vị trí

KẾT LUẬN

Vị trí xuất phát ổ nhịp nhanh thất nguyên

phát tại buồng thoát tâm thất thường tại buồng

thoát tâm thất phải, tuy nhiên cũng có thể gặp

tại nhiều vị trí khác Quy trình triệt phá điện

sinh lý nên tiến hành ưu tiên thăm dò vị trí

buồng thoát thất phải trước, nếu thất bại sẽ thăm

dò lần lượt vị trí tim phải, tim trái, thượng tâm

mạc

Thời gian phức bộ QRS> 140ms trong cơn

nhịp nhanh và hình dạng sóng RR’ ở DII, DIII

tương đối đặc hiệu cho phân biệt vị trí ổ loạn

nhịp tại vùng tự do buồng thoát thất phải

Vùng chuyển tiếp R/S trong cơn nhịp

nhanh ở V4,V6 có độ đặc hiệu cao cho vùng

thoát thất phải Nếu vùng chuyển tiếp tại

V1,V2,V3 gợi ý khả năng ổ loạn nhịp có thể

xuất phát buồng thoát thất trái

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Haissaguerre M, Shoda M, Jais P, Nogami A et al (2002),

Mapping and Ablation of Idiopathic ventricular Fibrillation,

Circulation, 106: 962

2 Klein LS, Shih HT, Hackett FK, Zipes DP, Miles WM (1992)

Radiofrequency catheter ablation of ventricular tachycardia in patients

without structural heart disease Circulation, 85: 1666

3 Krittayaphong R., Sriratanasathavorn C., Dumavibhat C.,

Pumprueg S., Pooranawattanakul S., Phrudprisan S., and

Kangkagate C (2006) Electrocardiographic predictors of long-term

outcomes after radiofrequency ablation in patients with right-ventricular outflow tract tachycardia Europace, 8(8), 601 – 606

4 Leman BB, Stein KM et al (2000): Ventricular tachycardia in

patients with structurally normal hearts Cardiac Electrophysiology

from cell to beside Third edition Chap 70; p 640: 656

5 Lerman BB, Stein KM, Markowitz SM (1997) Mechanisms of

idiopathic left ventricular tachycardia J Cardiovasc Electrophysiol,

8: 571-583

6 Nakagawa H, Beckman KJ, et al(1993), Radiofrequency catheter

ablation of idiopathic left ventricular tachycardia guided by a Purkinje potential Circulation, 88: 2607-2617

7 Okumura K, Matsuyama K, Miyagi H, Tsuchiya T, Yasue H

(1988), Entrainment of idiopathic ventricular tachycardia of left

ventricular origin with evidence for reentry with an area of slow conduction and effect of verapamil Am J Cardiol, 62, 727-732

8 Okumura K, Yamabe H, Tsuchiya T, Tabuchi T, Iwasa A, Yasue

H (1996) Characteristics of slow conduction zone demonstrated

during entrainment of idiopathic ventricular tachycardia of left ventricular origin Am J Cardiol, 77, 379-383

9 Ouyang F, Cappato R, Ernst S, et al (2002) Electroanatomic

Substrate of Idiopathic Left Ventricular Tachycardia: Unidirectional Block and Macroreentry Within the Purkinje Network Circulation,

29, 105(4): 462 - 469

10 Stevenson W, Khan H, Sager P, et al (1993), Identification of

reentry circuit sites during catheter mapping and radiofrequency ablation of VT late after myocardial infarction Circulation,

88,1647-1670

11 Wen MS, Yeh SJ, , et al.(1997), Successful radiofrequency ablation of

idiopathic left ventricular tachycardia at a site away from the tachycardia exit J Am Coll Cardiol, 30, 1024-1031

Chuyển tiếp R/S chuyển đạo trước ngực

Vùng thoát thất phải

Vùng vách liên thất

Vùng thoát thất trái

hay trái

Ngày đăng: 21/01/2020, 01:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w