Nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá tính hiệu quả, an toàn của phẫu thuật longo, nghiên cứu 162 bệnh nhân trĩ được điều trị bằng phẫu thuật Longo và được thiết kế theo nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng áp dụng kỹ thuật mới.
Trang 1KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ TRĨ BẰNG PHẪU THUẬT LONGO
Nguyễn Phúc Minh*, Dương Văn Hải*, Nguyễn Mạnh Dũng ** , Lê Quang Nghĩa**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Trĩ là bệnh phổ biến, các phẫu thuật cắt trĩ đều gây đau sau mổ Phẫu thuật Longo là
phương pháp mới dùng dụng cụ cắt và khâu niêm mạc trực tràng bằng máy và ít gây đau sau mổ Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá tính hiệu quả, an toàn của phẫu thuật Longo
Phương pháp: Nghiên cứu 162 bệnh nhân trĩ được điều trị bằng phẫu thuật Longo Nghiên cứu được
thiết kế theo nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng áp dụng kỹ thuật mới
Kết quả: Từ 01/2007 đến 09/2007, phẫu thuật được 162 ca, nam:nữ 95:67, tuổi trung bình 46,08 Trĩ
độ II đến độ IV, nhiều nhất là độ III (68,5%), thời gian mổ trung bình 43 phút, nằm viện 3,8 ngày Biến chứng sau mổ: đau ít (71,6 %), chảy máu (3,7%), biến chứng muộn (3,1%) không có hẹp hậu môn sau mổ
Kết luận: Phẫu thuật Longo là một phương pháp điều trị trĩ an toàn, hiệu quả nếu có sự chọn lọc bệnh
nhân kỹ
ABSTRACT
INITIAL RESULTS OF LONGO TECHNIQUE FOR TREATMENT OF HEMORROIDS
Nguyen Phuc Minh, Duong Van Hai, Nguyen Manh Dung,Le Quang Nghia *
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 41 - 45
Introduction: Piles is a very common disease, all of conventional hemorrhoidectomies are painful
Longo’s procedure is new technique in which the rectal mucosa was cut and stapled with a device, as a result, it caused less post-operative pain The aim of this study was to dertermine the efficacy and safety of Longo’s procedure
Methods: This study included 162 patients with internal hemorrhoid who underwent Longo’s
procedure.The study design was clinical trial applying new technique
Results: From January 2007 to September 2007, 162 patients (95 males: 67 females) with average age of
46.08 and from second-degree to fourth-degree hemorrhoids, 68.5% in third-degree Mean operation time was 43 minutes Mean hospital stay was 3.8 days The complications after procedure: mild pain (71.6%), bleeding (3.7%), no cases of anal stenosis
Conclusions: Out short-term result show that Longo’s procedure is safe and effective for select patient
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trĩ là một bệnh rất phổ biến, có nhiều
phương pháp mổ trĩ chứng tỏ chưa có một
phương pháp nào thật sự hoàn hảo Dù áp dụng
phương pháp phẫu thuật nào hay bằng phương
tiện nào thì vấn đề thời sự vẫn là đau vết mổ,
chảy máu, chít hẹp hậu môn sau mổ Phẫu thuật
Longo là phương pháp mổ trĩ mới, gần đây đã
được nhiều bệnh viện áp dụng Phẫu thuật Longo dùng dụng cụ cắt và khâu niêm mạc trực tràng bằng máy nhằm triệt mạch trĩ ở lớp dưới niêm mà không can thiệp vào vùng da hậu môn,
do đó có nhiều ưu điểm như thời gian mổ nhanh, ít đau, hồi phục sớm, và ít gây hẹp hậu môn, tuy nhiên phương pháp này vẫn có các biến chứng tương tự các phẫu thuật kinh điển
Trang 2Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
nhằm đánh giá kết quả điều trị trĩ bằng phẫu
thuật Longo
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá kết quả điều trị trĩ bằng phẫu thuật
Longo
Mục tiêu chuyên biệt
- Khảo sát các đặc điểm lâm sàng
- Nhận xét kết quả điều trị bệnh: tính an
toàn, hiệu quả, các ưu nhược điểm
ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiền cứu thử nghiêm lâm sàng
áp dụng kỹ thuật mới trong thời gian từ tháng
01/2007 đến tháng 09/2007 tại khoa Ngoại 4,
Bệnh viện Bình Dân
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân có trĩ búi (độ II,III,IV) hay trĩ
vòng đơn thuần hay phối hợp với thương tổn
khác như sa niêm trực tràng, trĩ ngoại, da thừa
hậu môn, nứt hậu môn, dò hậu môn…
Chúng tôi loại trừ các trường hợp có thai, xơ
gan, suy tim, ung thư trực tràng hay vùng chậu
gây trĩ triệu chứng
Phương pháp
Nguyên tắc của kỹ thuật là cắt bỏ một
khoanh niêm mạc hậu môn trực tràng trên
đường lược rồi nối lại bằng máy, vừa triệt mạch
máu đến đám rối trĩ trong vừa sửa chữa phần sa
trượt niêm mạc các búi trĩ
Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ giống như các
bệnh nhân mổ cắt trĩ và thêm dụng cụ bấm cắt
nối của Ethicon (PPH 33)
Các thì chính
- Chuẩn bị tư thế bệnh nhân, gây tê tủy sống
- Đặt dụng cụ nong hậu môn 33mm
- Khâu vòng niêm mạc: dùng chỉ prolene 2-0 khâu vòng lấy lớp niêm mạc trên đường lược từ
2 đếm 4 cm
- Đặt stapler bấm cắt, nối niêm mạc trực tràng
- Kiểm tra cầm máu tăng cường
- Xử lý thương tổn kèm theo nếu có
Săn sóc sau mổ
- Đánh giá mức độ đau theo Goligher
- Độ A: không đau Với độ A chúng tôi không cần dùng thuốc giảm đau
- Độ B: đau ít
- Độ C: đau vừa Độ B, C: chỉ cần dùng thuốc giảm đau uống
- Độ D: đau nhiều Độ D: cần dùng thuốc giảm đau chích (Paracetamol, Diclofenac)
- Độ E: đau dữ dội Độ E: cần dùng thuốc giảm đau nhóm á phiện
Hẹn tái khám sau 1 tuần, 2 tuần Khám lại bằng tay và nội soi trực tràng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 01/2007 đến tháng 09/2007 chúng tôi có 162 bệnh nhân được phẫu thuật
Gi ớ i
Tu ổ i trung bình 46,08 (t ừ 15 đế n 86 tu ổ i)
N ơ i ở
T ỉ nh 51 31,5%
Lí do nhập viện điều trị: sa búi trĩ (153 TH, 94,4%)
đi cầu có máu (111TH, 68,4%)
Phân loại thương tổn
Tr ĩ búi Tr ĩ vòng
133 TH (82,1%) 29 TH (17,9%)
* Đại học Y Dược TPHCM
** Bệnh viện Bình Dân Tp.HCM
Trang 3Độ trĩ
Tr ĩ độ II Tr ĩ độ III Tr ĩ độ IV
22 (13,6%) 111 (68,5%) 29 (17,9%)
Thương tổn kèm theo
Trĩ ngoại: 24 TH
Búi trĩ tắc mạch: 1 TH
Sa niêm 15 TH
Polyp HM-TT 6 TH
Dò hậu môn 2 TH
Phẫu thuật Longo đơn thuần: 89 TH
(54,94%)
Phẫu thuật Longo + xử lý thêm thương tổn
khác: 73 TH (45,06%)
Thời gian mổ trung bình: 43 phút
Mất máu trong khi mổ: rất ít
Khâu cầm máu tăng cường trong mổ: 143
TH (88,3%)
Đau sau mổ
Đau ít: 116 TH (71,6%)
Đau vừa: 28 TH (17,3%)
Đau nhiều: 18 TH (11,1%)
Không có TH nào không đau hay đau dữ dội
sau mổ
Bí tiểu sau mổ
21 TH (13%) có bí tiểu sau mổ phải đặt thông
tiểu
Chảy máu sau mổ
6 TH (3,7%)
- 1 TH chảy máu ở ngày hậu phẫu 1, vị trí
1giờ, soi trực tràng chích cầm máu
- 5 TH chảy máu sau khi xuất viện: 2 TH mổ
lại khâu cầm máu, 3 TH chảy máu còn lại tự cầm
sau khi nhét gạc
Thời gian nằm viện: ngắn nhất là 2 ngày,
nhiều nhất 20 ngày (bệnh nhân này có tiền căn
tiểu đường, hậu phẫu đường huyết khó kiểm
soát phải nằm viện kéo dài),
Dưới 4 ngày: 135 TH (83,3%)
Trên 4 ngày: 27 TH (16,7%)
Thời gian nằm viện trung bình là 3,8 ngày
Các biến chứng muộn
Thời gian theo dõi sau mổ sau 2 tuần đến 6 tháng
2 TH còn 1 búi trĩ sa độ 3, 1 TH mổ lại cắt búi trĩ sa
3 TH còn búi trĩ ngoại, da thừa Nhiều TH còn cảm giác đi cầu vướng sau 1 tuần và hết sau tuần thứ 2
Không có trường hợp nào hẹp hậu môn, nhiễm trùng, tiêu không tự chủ
BÀN LUẬN
Trong khoảng thời gian 9 tháng, chúng tôi
đã thực hiện được 162 ca phẫu thuật Longo với kết quả như trên, từ đó chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Các kết quả về dịch tễ học trong nhóm bệnh nghiên cứu cũng tương tự các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước như: tỷ suất mắc bệnh tương tự nhau giữa hai giới, tập trung trong độ tuổi lao động(2,4,8,11)
Về chỉ định phẫu thuật
Chúng tôi chọn lựa các bệnh nhân có trĩ nội từng búi hay cả vòng từ độ II đến độ IV, trong
đó nhiều nhất vẫn là trĩ độ III (68,5%), trên 3 búi trĩ và nhất là những bệnh nhân có tình trạng sa niêm mạc kèm theo, tưong tự các tác giả khác(8,11)
Có tác giả chỉ áp dụng cho trĩ độ III, IV(2) hay trĩ nội độ II dạng vòng và trĩ độ III(5)
Mensah(9), trong nghiên cứu của mình đưa ra chỉ định lý tưởng cho phẫu thuật Longo là trĩ nội
độ III lớn hay trĩ nội độ II thành vòng, còn các trĩ nhỏ thì chưa cần áp dụng phẫu thuật này Nguyên tắc của phẫu thuật Longo là triệt mạch máu đến các đám rối trĩ trong làm thu nhỏ các búi trĩ nội đồng thời treo phần niêm mạc sa dãn của các búi trĩ nội trở lại vị trí bình thường Các trường hợp búi trĩ quá to, độ IV sẽ khó thu nhỏ xẹp lại bằng triệt mạch Trong lô nghiên cứu chúng tôi có 2 TH này nhưng chỉ 1 bệnh nhân đồng ý mổ lại cắt đi búi trĩ
Trang 4Có các thương tổn tại chỗ đi kèm như trĩ
ngoại, rò hậu môn, da thừa, polyp hậu môn-trực
tràng, nhú gai phì đại… không phải là chống chỉ
định mặc dù phẫu thuật Longo không giải quyết
được các thương tổn này Việc giải quyết các
thương tổn đi kèm sẽ làm giảm đi ưu điểm ít
đau sau mổ của phẫu thuật Longo(9)
Theo y văn(10), chống chỉ định áp dụng
phương pháp Longo cho các trường hợp trĩ có
biến chứng sa nghẹt, tắc mạch, hoại tử nhiễm
trùng, xơ chai Chúng tôi cũng tôn trọng nguyên
tắc này, nhưng trong quá trình phẫu thuật có
gặp 1TH búi trĩ nội tắc mạch và phải cắt búi trĩ
này, sau đó tiếp tục áp dụng kỹ thuật Longo
Trên thế giới cũng đã có báo cáo áp dụng kỹ
thuật Longo cho các trường hợp trĩ thuyên tắc
nhưng số liệu chưa nhiều(1)
Về kỹ thuật
Thời gian mổ trung bình của chúng tôi là 43
phút Do mới bước đầu áp dụng kỹ thuật này và
phải khâu cầm máu tăng cường, xử lý thêm tổn
thương kèm theo nên có thể thời gian có kéo dài
hơn so với các nghiên cứu khác trung bình chỉ là
20-30 phút (2,6,8,11)
Do dụng cụ stapler vừa cắt bỏ và khâu nối
ngay một khoanh niêm mạc trực tràng trên
đường lược nên kỹ thuật may về chiều cao và độ
sâu của khoanh niêm mạc phải được kiểm soát
chặt chẽ, tránh làm tổn thương cấu trúc thành
trực tràng, âm đạo
Đường khâu niêm mạc theo kỹ thuật Longo
là cách trên đường lược 4-5cm, khoanh niêm
mạc được cắt ra có chiều cao 2cm và đường kim
bấm nối niêm mạc nằm trên đường lược từ 2cm
trở lên R.William(13) trong nghiên cứu của mình,
khi áp dụng đường kim bấm nối trên đường
lược từ 5mm đến 50mm tác giả nhận thấy rằng:
các đường bấm nối nằm cách đường lược dưới
2cm sẽ gây đau sau mổ nhiều hơn, còn đường
bấm cách đường lược trên 4cm sẽ dễ gây tái phát
triệu chứng trĩ sa hay chảy máu Do đó đường
bấm cắt nên nằm trên đường lược trong khoảng
2 đến 4cm
88,3% các trường hợp chúng tôi phải khâu cầm máu tăng cường đường kim bấm, có thể
vì vậy mà thời gian mổ kéo dài Phân tích biến chứng chảy máu sau mổ với việc khâu tăng cường:
Chảy máu trên đường cắt nối là một bất lợi trong phẫu thuật và là yếu tố góp phần tăng nguy cơ chảy máu sau mổ Koh (5) trong nghiên cứu của mình nhận thấy 44% có chảy máu trên đường cắt nhưng chỉ 31% cần khâu tăng cường, tuy nhiên biến chứng chảy máu sau mổ vẫn xuất hiện ở nhóm đã khâu tăng cường
Kết quả sau mổ
Đau sau mổ
Đau là cảm giác chủ quan của bệnh nhân nên khó đánh giá chính xác Các tác giả nước ngoài thường sử dụng thang điểm VAS để đánh giá đau sau mổ trĩ (6,8), còn chúng tôi dựa theo phân độ đau của Goligher
88,9% bệnh nhân trong lô nghiên cứu này có đau sau mổ nhưng chỉ cần dùng thuốc đường uống, còn lại phải dùng thêm thuốc chích trong ngày hậu phẫu 1, 2 sau mổ Chúng tôi có nhiều bệnh nhân đau từ vừa đến nhiều có thể do phải
xử lý các thương tổn kèm theo
Lomanto(8) trong một nghiên cứu khác nhận thấy rằng mức độ đau trong những ngày hậu phẫu đầu tiên thường dưới 3 điểm VAS (đau ít).Theo y văn, ưu điểm của phẫu thuật Longo là
ít đau sau mổ, tuy nhiên chúng tôi chưa có nhóm đối chứng để so sánh ưu điểm này Một nghiên cứu của Lau(6) nhận thấy mức độ đau sau mổ cắt trĩ và phẫu thuật Longo là không có sự khác biệt
Trang 5Rối loạn đi tiểu
Bí tiểu là một vấn đề hay gặp sau mổ trĩ hay
các phẫu thuật vùng hậu mơn trực tràng
Nguyên nhân gây bí tiểu cĩ nhiều yếu tố gĩp
phần như đau sau mổ, phương pháp vơ cảm tê
tủy sống, khâu nhiều mũi chỉ… Tỉ lệ bí tiểu sau
mổ Longo là 7,8% cĩ ít hơn sau cắt trĩ là 15,2%(3),
trong nhĩm nghiên cứu của chúng tơi tỉ lệ này là
13% Các nghiên cứu khác thường dưới 10%(2,8,12).
Nằm viện
Thời gian nằm viện trung bình khoảng 3,8
ngày tính luơn ngày chờ mổ, thực tế chúng tơi
cĩ nhiều bệnh nhân chỉ cần nằm viện 2 ngày
nếu được mổ trong ngày Chính ưu điểm ít
đau, khơng cần săn sĩc vết mổ nên bệnh nhân
cĩ thể xuất viện về sớm Các nghiên cứu khác
cũng cĩ kết quả tương tự hay về sớm hơn
trong vịng 36 giờ(6,8)
Các biến chứng khác
Cĩ 5 TH (3,1%) cịn trĩ, da thừa gây khĩ chịu
sau mổ, 1 TH mổ lại để cắt búi trĩ sa
Tỉ lệ biến chứng muộn sau phẫu thuật Longo
trong khoảng 1,3%(2) đến 16%(8), thường gặp nhất
là: cịn trĩ sa, đau kéo dài, chảy máu, hẹp hậu
mơn, thuyên tắc trĩ, da thừa Trong nghiên cứu
này, chúng tơi khơng gặp trường hợp nào hẹp
hậu mơn sau mổ, đây cũng là một ưu điểm của
phẫu thuật Longo Trong một nghiên cứu khác,
Lau(6) nhân thấy rằng phẫu thuật Longo chỉ cải
thiện được triệu chứng trĩ sa trong 62% TH, ít
hơn so với phương pháp cắt trĩ
KẾT LUẬN
Đây là nghiên cứu đầu tiên với số lượng
bệnh nhân chưa nhiều, thời gian theo dõi cịn
ngắn nên chúng tơi chỉ đưa ra một số nhận xét
ban đầu về kỹ thuật Longo:
- Phẫu thuật Longo là một phương pháp mổ
trĩ an tồn, áp dụng được cho cả người lớn tuổi
- Chỉ định tốt cho các trường hợp trĩ nội (búi,
vịng) độ II, III, IV nhất là cĩ sa niêm trực tràng
kèm theo
- Kỹ thuật thực hiện khơng quá khĩ nhưng cần nắm vững nguyên tắc
- Ít đau sau mổ, thời gian hồi phục sớm, đỡ săn sĩc vết mổ và khơng cĩ biến chứng hẹp hậu mơn
- Tuy nhiên phương pháp này vẫn cĩ một số nhược điểm như: biến chứng chảy máu sau mổ, cịn sĩt trĩ phải cắt lại trong khi chi phí điều trị bằng máy cịn đắt tiền
TÀI LIỆU THAM KHẢO
prospective randomized comparison with conventional haemorrhoidectomy Colorectal Dis 3(3):175-8
2 Carlos W Sobrado (2006) Initial experience with stapled hemorrhoidopexy for treatment of hemorrhoids Arq Gastroenterol v 43 (3) 238-242
haemorrhoidectomy Asian Journal Of Surgery Vol 29(4),233-237
thắt trĩ bằng vịng cao su Hội thảo chuyên đề bệnh Hậu mơn-Trực tràng,57-60
Staple Line Bleeding Asian Journal Of Surgery 28(3) 193-197
patients: a prospective randomised control study Hong Kong Med J;10:373-377
trĩ nội độ 3-4 bằng phẫu thuật Longo cải tiến Hội thảo chuyên đề bệnh Hậu mơn-Trực tràng,39-45
Experience Asian Journal Of Surgery 30(1), 29-33
American Journal of Surgery 190:127–130
điều trị bệnh trĩ Hội thảo chuyên đề bệnh Hậu mơn-Trực tràng, 1-6
haemorrhoidectomy: long-term results about 140 patients and review of the literature Annales de chirurgie 129, 571–577
résultats à long terme après chirurgie hémorrọdaire par anopexie Annales de chirurgie 131, 262–267
outcome indicator The American Journal of Surgery 193, 336–340
Trang 6TÌNH HÌNH PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH TRONG 2 NĂM (2005 – 2006)
Lê Tiến Dũng*
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Bước đầu đánh giá những kinh nghiệm và khả năng phẫu thuật tại khoa Ngoại
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu Bao gồm tất cả những bệnh nhân được
điều trị phẫu thuật tại khoa Ngoại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 2 năm (2005-2006)
Kết quả: Trong thời gian 2 năm từ 01/2005 đến 12/2006, đã có 724 bệnh nhân được phẫu thuật tại
khoa Ngoại Lồng ngực, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Các bệnh lý thường gặp: ung thư phế quản phổi gồm
247 trường hợp, tràn khí màng phổi 128 trường hợp, ổ cặn màng phổi 64 trường hợp, u nấm Aspergillus 73 trường hợp, u trung thất 44 trường hợp, các bệnh lý khác 168 trường hợp Phẫu thuật chủ yếu là cắt thùy
phổi và cắt phổi gồm 244 trường hợp (33,7%), bóc vỏ màng phổi 53 trường hợp (9.7%), phẫu thuật lấy u trung thất 27 trường hợp (3,7%), Plombage 18 trường hợp (2,4%), 3 trường hợp phẫu thuật cắt nối phế quản (0,5%) Phẫu thuật nội soi gồm 176 trường hợp trong đó có: 122 trường hợp điều trị tràn khí màng phổi, 10 trường hợp nội soi trung thất và 5 trường hợp lấy u trung thất Kết quả phẫu thuật: 97% bệnh nhân có kết quả tốt Biến chứng phải mổ lại là: chảy máu sau mổ 18 trường hợp (2,5%), dò phế quản 2 trường hợp Có 2 bệnh nhân tử vong chiếm tỷ lệ 0,4%
Kết luận: Phẫu thuật điều trị các bệnh lý hô hấp ngày càng gia tăng, trong đó gặp nhiều nhất là phẫu
thuật điều trị ung thư phổi, kế đến là phẫu thuật điều trị các bệnh lý liên quan đến lao Việc thực hiện các kỹ thuật mới trong phẫu thuật như phẫu thuật Plombage, cắt nối khí phế quản đã đem lại những kết quả khả quan trong điều trị
ABSTRACT
THORACIC SURGICAL OPERATION AT PHAM NGOC THACH HOSPITAL
DURING TWO YEARS (2005-2006)
Le Tien Dung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 46 - 49
Objective: To review our experience of surgical treatment at Pham Ngoc Thach hospital
Material and Method: retrospective study The patients were treated by surgery in Thoracic Surgery
Department at Pham Ngoc Thach hospital during 2 years from 01/2005 to 12/2006
Results: 724 patients were treated by surgery in Thoracic Surgery Department at Pham Ngoc Thach
hospital during 2 years from 01/2005 to 12/2006 The common indications: lung cancer 247 cases, pneumothorax 128 cases, pulmonary aspergilloma 73 cases, chronic pleural empyema 64 cases, mediastinal tumors 44, other indications 168 cases The major operative procedures were performed include pneumonectomy and lobectomy 244 cases (33.7%), decortication 53 cases (9.7%), resection of the mediastinal tumors 27 cases (3.7%), cavernostomy followed by muscle flap Plombage 18 cases (2.4%), tracheobronchial resections and reconstruction: 3 cases (0.5%) Thoracoscopic surgery was applied in 176 cases: 122 cases for the treatment of pneumothorax, 10 cases of mediastinoscopy and 5 cases for the resection
of mediastinal tumors The results of the operative treatment: 97% patients had good results Complications
Trang 7requiring re-operation: 18 cases of postoperative bleeding (2.5%), bronchopleral fistula 2 cases There were 2 cases death (0.4%)
Conclusions: The surgical treatment of respiratory diseases increase more and more The common
indications are surgical treatment for lung cancer and surgical treatment for tuberculous diseases To perform the new operative procedures such as: Plombage, tracheobronchial resections and reconstruction proved to have good results
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là bệnh viện
đầu ngành về lao và bệnh phổi tại khu vực phía
Nam Hàng năm có hàng chục ngàn lượt bệnh
nhân đã được chẩn đoán và điều trị tại bệnh
viện Trong số đó nhiều bệnh nhân có chỉ định
điều trị phẫu thuật như ung thư phổi, tràn khí
màng phổi, các bệnh lý nhiễm trùng
khác…Khoa Ngoại Lồng ngực được thành lập
vào năm 2004 và đi vào hoạt động từ tháng
1-2005 với nhiệm vụ điều trị và phẫu thuật cho
những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật, góp
phần nâng cao chất lượng điều trị
Báo cáo này chỉ nêu lên một vài số liệu
chính về hoạt động phẫu thuật và một số tiến bộ
trong điều trị tại khoa Ngoại Lồng ngực trong 2
năm đầu thành lập (2005 – 2006) nhằm bước đầu
đánh giá những kinh nghiệm và khả năng phẫu
thuật tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hồi cứu các bệnh nhân phẫu
thuật tại khoa Ngoại Lồng ngực Bệnh viện Phạm
Ngọc Thạch trong thời gian 2 năm từ tháng
1/2005 đến tháng 12/2006
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Trong thời gian 2 năm từ 2005 đến 2006 đã
có 724 bệnh nhân được phẫu thuật tại khoa
Ngoại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong đó các
bệnh lý hay gặp là: ung thư phế quản phổi, các
bệnh lý của lao, tràn khí màng phổi, u trung thất,
bệnh lý nhiễm trùng ngoài lao
Các bệnh lý phẫu thuật
B ệ nh lý ph ẫ u thu ậ n %
Ung th ư ph ế qu ả n ph ổ i 247 34.1
Tràn khí màng ph ổ i 128 17.7
U n ấ m ph ổ i 73 10
Ổ c ặ n màng ph ổ i 64 8.8
B ệ nh lý ph ẫ u thu ậ n %
Áp xe, giãn ph ế qu ả n 30 4.1 Kén khí ph ế qu ả n 28 3.9 Các b ệ nh lý khác 62 8.6
Trong các bệnh lý hô hấp chỉ định phẫu thuật hàng đầu là ung thư phổi chiếm 34.8% Hiện nay ung thư phổi là ung thư đứng hàng đầu ở nam giới Tại Việt nam theo Nguyễn Việt
Cồ (1996)(2) ung thư phổi chiếm khoảng 22,3% ở nam và 8,5% ở nữ so với tổng số các loại ung thư Về tỷ lệ ung thư phổi giữa nam và nữ, Văn Tần (2003)(3) đưa ra tỷ lệ nam gấp 3 lần nữ Chúng tôi gặp tỷ lệ nam gấp 2,2 lần nữ
Đứng hàng thứ hai về bệnh lý phẫu thuật
là các bệnh lý liên quan đến lao như: u lao, u nấm phổi và ổ cặn màng phổi chiếm 24,9% Tỷ
lệ này cao hơn so với báo cáo của Nguyễn Việt
Cồ (1999)(2) tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương là 14,6% Sự khác biệt này có thể
do Việt nam hiện đứng thứ 3 tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương về tỷ lệ mắc lao, mặt khác chỉ định phẫu thuật trong điều trị lao ngày càng rộng rãi hơn
Trong 2 năm 2005-2006 chúng tôi đã phẫu thuật cho 128 bệnh nhân tràn khí màng phổi (17,7%) trong đó phẫu thuật nội soi 122 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 95,3% Các chỉ định phẫu thuật chủ yếu trong điều trị tràn khí màng phổi là tràn khí màng phổi tự phát và tràn khí màng phổi có
rò khí kéo dài
Về bệnh lý trung thất chúng tôi gặp 44 trường hợp u trung thất (6%) và 10 trường hợp hạch trung thất Bệnh lý trung thất gặp nhiều nhất là u thần kinh gồm 19 trường hợp (43,2%), sau đó là u tuyến ức 8 trường hợp (18,2%) Tỷ lệ
Trang 8giữa nam và nữ là 33 nam và 11 nữ Văn Tần
(2003)(3) cũng đưa ra tỷ lệ tương tự
Đối với bệnh lý nhiễm trùng ngoài lao như
áp xe phổi, giãn phế quản chỉ định phẫu thuật
được đặt ra khi điều trị nội khoa thất bại hay giải
quyết hậu quả của bệnh như ho ra máu Trong 2
năm chúng tôi chỉ gặp 30 trường hợp (4,1%) Tại
bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương trong 5
năm 1994-1998 tỷ lệ này là 9,76% (Nguyễn Việt
Cồ 1999)(2) Sự khác biệt này có thể do những tiến
bộ của chẩn đoán và điều trị, của việc sử dụng
kháng sinh hợp lý
Phương pháp phẫu thuật
Bảng 1: Phẫu thuật mở ngực trong điều trị bệnh lý
phổi - màng phổi
Ph ươ ng pháp ph ẫ u thu ậ n %
C ắ t ph ổ i không đ i ể n hình 45 10,5
C ắ t phân thùy ph ổ i 4 0,9
C ắ t thùy ph ổ i 226 52,8
C ắ t ph ổ i 18 4,2
Bóc v ỏ màng ph ổ i 53 12,4
M ở c ử a s ổ màng ph ổ i 13 3
C ắ t kén khí ph ế qu ả n 6 1,4
M ở ng ự c ch ẩ n đ oán 45 10,5
Ph ẫ u thu ậ t Plombage 18 4,2
Phẫu thuật chủ yếu trong điều trị bệnh lý
phổi là cắt thùy gồm 226 trường hợp (52,8%)
Đối với bệnh nhân ung thư phổi, tỷ lệ cắt thùy
phổi là 65,2% Nguyễn Việt Cồ(1999)(2), Đồng
Lưu Ba (2003)(1) đưa ra tỷ lệ cắt thùy ở bệnh nhân
ung thư phổi là 78%
Trong những năm gần đây, việc áp dụng
nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán ung thư
phổi như nội soi phế quản, CT scanner … đã cho
phép chẩn đoán nhanh, chính xác các bệnh lý
phổi Điều này đã làm giảm tỷ lệ mổ thăm dò
Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc chẩn
đoán chính xác giai đoạn phẫu thuật, loại tế bào
ung thư vẫn gặp khó khăn Trong 2 năm
2005-2006, tỷ lệ mở ngực chẩn đoán của chúng tôi
chiếm 10,5%
Từ tháng 11-2005 đến 12-2006, chúng tôi đã
áp dụng phẫu thuật đánh xẹp thành ngực theo
phương pháp Plombage trong điều trị u nấm
phổi, ổ cặn màng phổi cho 18 bệnh nhân có thể trạng quá yếu hay tổn thương quá phức tạp Bước đầu kỹ thuật này đã đem lại những kết quả khả quan trong điều trị ho ra máu ở bệnh nhân u nấm phổi
Bảng 2: Phẫu thuật u trung thất
Ph ươ ng pháp ph ẫ u thu ậ n %
M ở ng ự c l ấ y tr ọ n u 24 72,7
M ở x ươ ng ứ c l ấ y u 3 9,1
M ở ng ự c thám sát 6 18,2
Trong số 33 trường hợp u trung thất, chúng tôi đã phẫu thuật lấy trọn u cho 27 bệnh nhân (81,8%) Đối với 6 trường hợp phải mở ngực thám sát do khối u ác tính xâm lấn xung quanh nên không thể cắt bỏ u được
Bảng 3: Phẫu thuật nội soi lồng ngực
Ph ẫ u thu ậ t n ộ i soi n %
Soi trung th ấ 10 5,7
C ắ t khâu bóng khí, kén khí 127 72,2
C ắ t u trung th ấ 5 2,8
C ắ t ph ổ i không đ i ể n hình 6 3,4
Ch ẩ n đ oán 28 15,9
T ng s ố 176 100 Trong 2 năm 2005-2006 chúng tôi đã thực hiện 176 ca phẫu thuật nội soi chiếm 24,3% số ca phẫu thuật Trong đó phẫu thuật nội soi điều trị tràn khí màng phổi là 122 trường hợp (69,3%)
Có 10 trường hợp nội soi trung thất để chẩn đoán hạch trung thất chưa rõ bản chất, 5 trường hợp nội soi lấy u trung thất
Bảng 4: Các phẫu thuật khác
Ph ươ ng pháp ph ẫ u thu ậ n
C ắ t n ố i khí qu ả n 3
L y h ạ ch ngo ạ i vi 23 Khâu ph ụ c h ồ i c ơ hoành 1
M ở màng tim 2 Chúng tôi đã phẫu thuật cắt nối khí quản cho 3 bệnh nhân bị di chứng hẹp khí quản sau lao Qua các phẫu thuật này chúng tôi cũng đã rút ra được những kinh nghiệm nhất định trong điều trị hẹp khí phế quản
Biến chứng phẫu thuật
Tỷ lệ biến chứng phẫu thuật trong 2 năm là 3% (22 bệnh nhân) Có 20 bệnh nhân phải phẫu
Trang 9thuật lại trong đó 18 bệnh nhân do chảy máu sau
mổ (2,5%), có 2 bệnh nhân rò phế quản
Có 2 bệnh nhân tử vong (0,3%) trong đó 1
bệnh nhân tử vong 24 giờ đầu do nhồi máu cơ
tim, 1 bệnh nhân bị suy hô hấp ở ngày thứ 10
KẾT LUẬN
Phẫu thuật điều trị các bệnh lý hô hấp ngày
càng gia tăng, trong đó gặp nhiều nhất là phẫu
thuật điều trị ung thư phổi, kế đến là phẫu thuật
điều trị các bệnh lý liên quan đến lao
Việc thực hiện các kỹ thuật mới trong phẫu
thuật như phẫu thuật Plombage, cắt nối khí phế
quản đã đem lại những kết quả khả quan trong
điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bệnh viện Chợ Rẫy 2003: Kỹ yếu Hội thảo Pháp – Việt lần
3 về bệnh phổi & phẫu thuật lồng ngực; tr 122-126
Đình Minh, Nguyễn Thế Vũ, Vũ Đỗ, Phạm Huy Minh:
Tình hình phẫu thuật phổi tại khoa Ngoại Viện Lao và
Bệnh phổi trong 5 năm (1994-1998) Toàn văn báo cáo
khoa học Đại hội Ngoại khoa toàn quốc 1999; tr 183-186
về bệnh phổi & phẫu thuật lồng ngực; tr 116-120