1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng an toàn phóng xạ của các phòng X-quang các bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và tuyến tỉnh tại một số tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

7 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 378,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định và đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các phòng X‐quang ở một số bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN TRUNG ƯƠNG  

VÀ TUYẾN TỈNH TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  

Trịnh Hồng Lân* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: An toàn phóng xạ luôn là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với các bệnh viện các 

tuyến trong cả nước. An toàn phóng xạ được đặt ra không chỉ cho những người bệnh được chỉ định các kỹ thuật  chiếu – chụp X‐quang để chẩn đoán và điều trị bệnh, mà nó còn được quan tâm tới mức độ an toàn cho các cán bộ 

y tế trực tiếp và gián tiếp vận hành sử dụng các thiết bị X‐quang trong chẩn đoán và điều trị cho người bệnh  trong các cơ sở y tế. Thậm chí an toàn phóng xạ còn phải được quan tâm tới cả những người nhà bệnh nhân,  những người sống và làm việc gần các phòng chụp X‐quang. Xuất phát từ những yêu cầu đó, Viện Y tế công  cộng Tp. Hồ Chí Minh đã được Bộ Y tế giao cho nhiệm vụ quan trắc môi trường hàng năm các cơ sở y tế ở khu  vực các tỉnh thành phía Nam. Trong đó, chỉ tiêu phóng xạ là một trong những chỉ tiêu bắt buộc phải quan trắc  hang năm tại các cơ sở y tế. Do vậy, khảo sát đánh giá an toàn phóng xạ của các phòng X‐quang là rất cần thiết  cho tất cả các bệnh viện hiện nay. 

Mục tiêu đề tài: Xác định và đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các phòng X‐quang ở một số bệnh viện 

tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013. 

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang . 

Kết quả: Kết quả khảo sát về quản lý an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện cho thấy mặc dù tất cả các bệnh viện 

đều có xây dựng kế hoạch/qui trình ứng phó sự cố phóng xạ nhưng tất cả 6/6 bệnh viện đều chưa bao giờ tiến  hành diễn tập ứng phó sự cố để đánh giá sự phù hợp trên thực tế của bệnh viện, nhiều phòng chụp/chiếu X‐ quang không có đèn cảnh báo hoặc đèn báo không hoạt động khi thiết bị phát tia phóng xạ (4/6 bệnh viện), không 

có biển cảnh báo nguy hại phóng xạ, bảng nội qui an toàn phóng xạ (3/6 bệnh viện). Đáng lưu ý là có 2/6 bệnh  viện còn thiếu giấy phép hoạt động cho các thiết bị X‐quang, chưa kiểm định định kỳ thiết bị theo đúng qui định  hiện hành, 3/6 bệnh viện chưa có đánh giá an toàn phóng xạ phòng đặt thiết bị, 1/6 bệnh viện chưa đo kiểm định 

kỳ suất liều phóng xạ theo qui định của Bộ Khoa học và Công nghệ, 4/6 bệnh viện còn có nhiều nhân viên vận  hành máy X‐quang chưa có giấy chứng chỉ An toàn bức xạ hợp lệ hoặc giấy đã hết hạn mà chưa được tập huấn 

và cấp lại. Kết quả khảo sát cường độ phóng xạ cho thấy nhìn chung các phòng máy tương đối đảm bảo an toàn  phóng xạ cho các cán bộ y tế làm việc trực tiếp với các thiết bị, tuy nhiên tại khu vực phóng máy CT‐ Scanner vẫn 

có 3/48 mẫu (chiếm 6,3%), khu vực các máy X‐quang thông thường và kỹ thuật số có 1/60 mẫu chưa bảo đảm an  toàn vệ sinh cho những cán bộ y tế gián tiếp tiếp xúc và cho cả những bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Tất cả  các mẫu đo chưa bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép đều thuộc các bệnh viện tuyến tỉnh. 

Kiến nghị: Hoàn chỉnh bổ sung các hồ sơ an toàn phóng xạ còn thiếu, cho tất cả những cán bộ chưa học hoặc 

đã học quá lâu được học An toàn bức xạ theo đúng qui định hiện hành. Các bệnh viện nên có kế hoạch tổ chức  diễn tập các qui trình ứng phó sự cố phóng xạ trong các tình huống khẩn cấp. Cho sửa chữa, gia cố khắc phục tất 

cả các vị trí bị lọt tia (những vị trí mép cửa chưa kín tạo ra cường độ phóng xạ cao vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho  phép).  

Từ khóa: Các yếu tố nguy cơ, tác hại nghề nghiệp, an toàn phóng xạ, X‐quang  

* Viện Y tế công cộng Tp.HCM 

Tác giả liên lạc: Ts. Trịnh Hồng Lân  ĐT: 0903736894  Email: trinhhonglan07@gmail.com 

Trang 2

SITUATION OF RADIOACTIVE SAFETY ON X RAY ROOMS IN SOME PROVINCIAL 

 AND CENTRAL HOSPITALS AT MEKONG DELTA REGION 

Trinh Hong Lan and et al. * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 723 ‐ 729 

Background:  Radioactive safety is always a significantly important issue and necessary in hospitals at all 

levels from central to local level. Radioactive safety is set out not only for patients who are indicated to test to  indicating X ray to diagnose and treat, but also for health staff in terms of both directly and indirectly operating  X‐ray  devices  in  the  diagnosis  and  treatment    Moreover,  radioactive  safety  must  even  be  paid  attention  to  relatives of patients, the people who live or work near the X‐ray rooms. The institute of public health HCM city  has been assigned the duty of annual environmental monitoring of health facilities in the southern provinces. The  radioactive indicators are forced to annual monitor at health facilities. Therefore, the survey on radioactive safety 

at X‐ray rooms is essential for all hospitals. 

Objectives:  Identify  and  evaluate  the  level  of  radioactive  safety  on  X‐ray  rooms  in  some  provincial  and 

central hospitals in Mekong Delta region in 2013. 

Method: cross‐sectional study 

Results: Survey results on radioactive safety management in six hospitals showed that although all hospitals 

had  had  plans  or  radioactive  incident  response  process  but  all  6/6  hospital  did  not  conduct  incident  response  rehearsal to assess the suitability of X‐ray rooms. Many rooms had no warning lights or warning lights were not  working  when  radioactive  devices  had  been  emitting  (4/6  hospitals),  no  warning  notes  of  hazardous  radiation  safety, no tables of radioactive safety rules (3/6 hospitals). Notably, there was 2/6 hospitals, that have lacked of  operation licenses for the x‐ray equipment and not tested equipment in accordance with current regulations. 3/6  hospitals  had  no  radioactive  safety  assessment  for  equipment  rooms,  1/6  hospitals  have  no  periodic  radioactive  dose tests, prescribed by Ministry of Science and Technology, 4/6 hospitals also had many staff to operate x‐ray  machine  without  certificates  of  radioactive  safety  or  had  expired  certificates.  Survey  results  revealed  that  the  intensity of radioactive was relatively safety for health staff, whose work directly with the device. However, CT‐ Scanner areas still had 3/48 samples over safety standard (accounting for 6.3%). The X‐ray machines and digital  areas had 1/60 samples which were not guarantee for indirect exposure healthcare worker, both the patients and  relatives of patients. All the samples in provincial hospitals had exceeded hygiene safety standards. 

Conclusion: Completing and supplement the radioactive safety profile. Training and re‐training for officials, 

who haven’t been learned or have learned so many years ago, the knowledge of the radioactive safety conforming 

to  the  current  regulations.  Hospitals  should  have  plans  to  hold  the  rehearsal  for  response  process  of  incident  radioactive in emergency situations. All the leaked beam positions should have repaired and reinforced recovery.  (The position at the leaked door generates high radioactive intensity over safety standards). 

Keywords: risk factors, occupational hazards, X‐ray, radioactive safety. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Trong  các  hoạt  động  chuyên  môn  của  các 

bệnh  viện  phục  vụ  cho  sự  nghiệp  chăm  sóc  và 

bảo  vệ  sức  khỏe  nhân  dân,  hoạt  động  chiếu, 

chụp X‐quang phục vụ cho mục tiêu chẩn đoán 

và điều trị cho người bệnh là hết sức cần thiết và 

không  thể  thiếu  đối  với  bất  cứ  bệnh  viện  nào. 

Trong  những  năm  gần  đây,  cùng  với  sự  phát  triển  nhanh  chóng  của  khoa  học  và  công  nghệ,  hàng  loạt  các  loại  thiết  bị  sử  dụng  tia  X‐quang  hiện đại tiên tiến đã được phát minh và đưa vào 

sử dụng (như thiết bị X‐quang kỹ thuật số, thiết 

bị chụp cắt lớp điện tử (CT –Scaner) với nhiều lát  cắt khác nhau, nhiều độ phân giải khác nhau…). 

Trang 3

Những  thiết  bị  hiện  đại  này  đã  đem  lại  những 

lợi ích vô cùng to lớn cho công tác chẩn đoán và 

điều  trị  bệnh.  Ở  Việt  Nam,  hầu  hết  tất  cả  các 

bệnh  viện  tuyến  tỉnh,  nhất  là  các  bệnh  viện 

tuyến Trung ương đã không ngừng được đầu tư 

nâng  cấp,  được  trang  bị  các  loại  thiết  bị  X  – 

quang tiên tiến để phục vụ cho người bệnh. Bên 

cạnh  những  lợi  ích  to  lớn  đó,  thiết  bị  X‐quang 

cũng  lại  là  một  trong  những  thiết  bị  rất  nguy 

hiểm  cho  sức  khỏe  con  người  nếu  không  được 

quản lý và sử dụng đúng cách. Kết quả điều tra, 

khảo sát của nhiều nghiên cứu trong nước trong 

những  năm  trước  đây  đã  cho  thấy,  rất  nhiều 

phòng  X‐quang  của  nhiều  bệnh  viện  đã  không 

được kiểm soát chặt chẽ, cường độ phóng xạ tại 

rất  nhiều  vị  trí  vượt  TCVSCP  tạo  ra  nguy  cơ 

nhiễm  xạ  rất  cao  cho  bản  thân  các  cán  bộ  vận 

hành  các  thiết  bị  X–quang  và  cho  cả  những 

người xung quanh(1,2,3,4,5). Tia X do các loại thiết bị 

X‐quang phát ra chính là yếu tố vật lý có tác hại 

nghề nghiệp nguy hiểm nhất cho con người, tạo 

ra  nguy  cơ  nhiễm  xạ  rất  cao  cho  chính  những 

cán bộ y tế sử vận hành và sử dụng các thiết bị 

này nếu chúng không được kiểm soát chặt chẽ. 

Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp ở những cán bộ y tế 

có tiếp xúc trực tiếp với các tia X‐quang chính là 

một trong 29 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm 

hiện nay ở nước ta.  

Do  vậy,  việc  khảo  sát  đánh  giá  an  toàn 

phóng xạ ở các bệnh viện là hết sức quan trọng 

và cần thiết nhằm kiểm soát, phòng chống các 

tác  hại  của  tia  X‐quang,  phòng  chống  bệnh 

nhiễm xạ nghề nghiệp cho các cán bộ y tế làm 

việc  ở  các  phòng  Xquang  tại  các  tỉnh  thành 

phía Nam.  

Đề tài nghiên cứu khoa học này được thực 

hiện  với  mục  tiêu  tổng  quát:  “Xác  định  và 

đánh  giá  mức  độ  an  toàn  phóng  xạ  của  các 

phòng  X‐quang  ở  một  số  bệnh  viện  tuyến 

Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng 

Sông  Cửu  Long  năm  2013.”  Nhằm  giải  quyết 

các mục tiêu cụ thể sau: 

Đánh giá thực trạng công tác quản lý an toàn  phóng  xạ tại  6  bệnh  viện  tuyến  Trung  ương  và  tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.  Xác  định  cường  độ  phóng  xạ  tại  các  phòng  máy X‐quang kỹ thuật cao CT – Scaner. 

Xác  định  cường  độ  phóng  xạ  tại  các  phòng  máy chụp X‐quang cố định (máy thông thường 

vá máy kỹ thuật số) .  Đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các  phòng máy chụp X‐quang các loại. 

ÐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Ðối tượng nghiên cứu 

Các phòng máy chụp CT – Scanner. 

Các phòng máy chụp X‐quang cố định (máy  thông thường và máy kỹ thuật số). 

Nhân viên vận hành các thiết bị X‐quang. 

Hồ  sơ  quản  lý  an  toàn  phóng  xạ  của  các  bệnh viện. 

Ðịa điểm và thời gian nghiên cứu:  

Các  bệnh  viện  tuyến  Trung  ương  và  tuyến  tỉnh trên địa bàn khu vực Đồng bằng Sông Cửu  Long  gồm: Cần  Thơ,  Trà  Vinh,  Hậu  Giang,  Sóc  Trăng, Vĩnh Long và Cà Mau trong khoảng thời  gian 2013.  

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả cắt ngang. 

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 

Số đơn vị được khảo sát: 6 bệnh viện tuyến  Trung ương và tuyến tỉnh.  

Cỡ  mẫu  :  Tất  cả  các  phòng  máy  chụp  X‐ quang cùng các nhân viên vận hành các loại. 

Thiết bị đo   Máy  đo  hiện  số  Radiation  Alert  Inspector 

12513 – Mỹ. 

Tiêu chuẩn đánh giá An toàn phóng xạ 

TCVN 6561 – 1999 & TCVN 6866 : 2001

Suất liều tức thời cho phép tại các vị trí:

Các điểm bên ngoài phòng: Phòng làm việc

Trang 4

Đo  suất  liều  phóng  xạ  bằng  thiết  bị  chuyên 

dụng. 

Điều  tra,  phỏng  vấn  nhân  viên  và  quan  sát 

trực tiếp các phòng X‐quang. 

Kiểm tra Hồ sơ quản lý an toàn phòng xạ tại 

các bệnh viện. 

Xử lý số liệu 

Sử dụng phần mềm EXCEL để nhập và xử lý 

số liệu. 

Phương pháp phân tích 

Thống  kê  mô  tả:  Tần  số  và  tỷ  lệ  phần  trăm  các  mẫu  đo  cường  độ  phóng  xạ  đảm  bảo  và  không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh lao động.  

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Kết quả khảo sát về quản lý an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện 

Bảng 1. Các hoạt động bảo đảm an toàn phóng xạ của các phòng chụp X‐quang của 6 bệnh viện  

SỐ

Tổng số BV được khảo sát

Số BV không bảo đảm

Tỷ lệ BV không bảo đảm

Kết  quả  khảo sát  về  quản  lý an toàn  phóng 

xạ tại 6 bệnh viện cho thấy sai phạm nhiều nhất 

đó  là  mặc  dù  tất  cả  các  bệnh  viện  đều  có  xây 

dựng  kế  hoạch/qui  trình  ứng  phó  sự  cố  phóng 

xạ nhưng tất cả 6/6 bệnh viện đều chưa bao giờ 

tiến hành diễn tập ứng phó sự cố để đánh giá sự 

phù hợp trên thực tế của bệnh viện. Lỗi thường 

gặp  tiếp  theo  là  nhiều  phòng  chụp/chiếu  X. 

quang  không  có  đèn  cảnh  báo  hoặc  đèn  báo 

không hoạt động  khi thiết  bị  phát tia  phóng  xạ 

(4/6 bệnh viện), không có biển cảnh báo nguy hại 

phóng  xạ,  bảng  nội  qui  an  toàn  phóng  xạ  (3/6 

bệnh  viện). Đáng  lưu  ý là  có 2/6  bệnh  viện  còn  thiếu  giấy  phép  hoạt  động  cho  các  thiết  bị  X‐

quang,  chưa  kiểm  định  định  kỳ  thiết  bị  theo  đúng qui định hiện hành, 3/6 bệnh viện chưa có  đánh  giá  an  toàn  phóng  xạ  phòng  đặt  thiết  bị,  1/6  bệnh  viện  chưa  đo  kiểm  định  kỳ  suất  liều  phóng  xạ  theo  qui  định  của  Bộ  Khoa  học  và  Công  nghệ,  4/6  bệnh  viện  còn  có  nhiều  nhân  viên vận hành máy X‐quang chưa có giấy chứng  chỉ An toàn bức xạ hợp lệ hoặc giấy đã hết hạn 

mà chưa được tập huấn và cấp lại . 

Kết quả khảo sát về cường độ phóng xạ  

Bảng 2. Kết quả khảo sát cường độ phóng xạ các phòng máy CT – Scanner tại 6 bệnh viện 

TCVN 6561 – 1999 & TCVN 6866 : 2001

- Nhân viên bức xạ trực tiếp 10,00

Trang 5

Kết  quả  khảo  sát  bức  xạ  ion  hóa  các  phòng 

máy  chụp  kỹ  thuật  cao  CT  –  Scanner  ở  6  bệnh 

viện trong Bảng 2 cho thấy: Tất cả các chỉ số suất 

liều bức xạ tức thời kiểm tra tại các phòng CT – 

Scanner ở mức khá thấp, đảm bảo tiêu chuẩn Vệ 

sinh lao động cho phép (theo tiêu chuẩn TCVN 

6561 – 1999) cho các cán bộ y tế làm trực tiếp ở 

các phòng  chụp –  chiếu X‐quang.  Tuy  vậy,  vẫn 

còn một số vị trí đo ở mép cửa từ hành lang vào  phòng  chụp,  khu  vực  bệnh  nhân  và  người  nhà  bệnh  nhân  ngồi  chờ,  khu  vực  hành  lang  trước  phòng chụp còn có cường độ phóng xạ còn cao,  vượt TCVSCP từ 1,28 lần cho tới gần 10 lần (theo  TCVN 6561 – 1999) đối với người tiếp xúc gián  tiếp (của 1 bệnh viện tuyến tỉnh).  

Bảng 3. Kết quả khảo sát cường độ phóng xạ các phòng máy X‐quang thông thường và kỹ thuật số  

TCVN 6561 – 1999 & TCVN 6866 : 2001 Nhân viên bức xạ trực tiếp 10,00 Các điểm bên ngoài phòng: Phòng làm việc của nhân viên,

Kết  quả  khảo  sát  về  cường  độ  phóng  xạ  tại 

các phóng chiếu/chụp X – Quang thông thường 

và kỹ thuật số (Bảng 3) cho thấy : Tất cả các chỉ 

số  suất  liều  bức  xạ  tức  thời  kiểm  tra  tại  các 

phòng  máy  X‐quang  cố  định  thông  thường  và 

kỹ  thuất  số  đều  ở  mức  đảm  bảo  tiêu  chuẩn  Vệ 

sinh lao động cho phép (theo tiêu chuẩn TCVN 

6561 – 1999) cho các cán bộ y tế làm trực tiếp ở  các phòng  chụp –  chiếu X‐quang.  Tuy  vậy,  vẫn  còn  một  vị  trí  đo  ở  mép  cửa  từ  hành  lang  vào  phòng chụp còn bị lọt tia, có cường độ phóng xạ  còn cao, chưa đảm bảo theo TCVN 6561 – 1999  đối với người tiếp xúc gián tiếp (của 1 bệnh viện  tuyến tỉnh).  

Kết quả khảo sát về mực độ an toàn phóng xạ 

 Bảng 4. Số mẫu đo phóng xạ không đảm bảo an toàn của các phòng chụp CT – Scanner  

SỐ

Tổng số mẫu khảo sát

Tổng số mẫu không bảo đảm TCVS

% số mẫu không bảo đảm TCVS

Bảng 5. Số mẫu đo cường độ phóng xạ không đảm bảo an toàn của các phòng chụp X‐quang thông thường và kỹ 

thuật số cố định  

SỐ

TT VỊ TRÍ ĐO mẫu khảo sát Tổng số không bảo đảm TCVS Tổng số mẫu không bảo đảm TCVS % số mẫu

Trang 6

phóng  chụp  X‐quang  (Bảng  4,5)  cho  thấy  nhìn 

chung  các  phòng  máy  tương  đối  đảm  bảo  an 

toàn phóng xạ cho các cán bộ y tế làm việc trực 

tiếp với các thiết bị, tuy nhiên tại khu vực phóng 

máy CT‐ Scanner vẫn có 3/48 mẫu (chiếm 6,3%), 

khu  vực  các  máy  X‐quang  thông  thường  và  kỹ 

thuật số  có 1/60  mẫu  chưa  bảo đảm  an toàn  vệ 

sinh cho những cán bộ y tế gián tiếp tiếp xúc và 

cho  cả  những  bệnh  nhân  và  người  nhà  bệnh 

nhân.  Tất  cả  các  mẫu  đo  chưa  bảo  đảm  tiêu 

chuẩn vệ sinh lao động cho phép đều thuộc các 

bệnh  viện  tuyến  tỉnh.  Kết  quả  khảo  sát  6  bệnh 

viện  của  chúng  tôi  cho  thấy  mức  độ  an  toàn 

phóng xạ đối với những cán bộ trực tiếp có tiếp 

xúc  với  tia  X‐quang  tương  đương  với  kết  quả 

khảo sát của Nguyễn Xuân Hiên và CS (1998)(4), 

khi tiến hành khảo sát ở các bệnh viện khu vực 

phía Bắc. Tuy nhiên, mức an toàn phóng xạ đối 

với  những  cán  bộ  gián  tiếp,  với  bệnh  nhân  và 

người nhà bệnh nhân thì kết quả của chúng tôi 

cho  thấy  mức  độ  an  toàn  phóng  xạ  thấp  hơn. 

Tuy nhiên nếu so với kết quả khảo sát ở các bệnh 

viên tuyến huyện của Nguyễn Xuân Hiên và CS 

thì kết quả khảo sát về an toàn phóng xạ của 6 

bệnh  viện  mà  chúng  tôi  khảo  sát  tốt  hơn  rất 

nhiều  (kết  quả  khảo  sát  của  bệnh  viện  tuyến 

huyện có tới 6/18 mẫu không bảo đảm TCVSCP 

với cán bộ y tế trực tiếp tiếp xúc, 9/21 mẫu ở khu 

vực  những  người  tiếp  xúc  gián  tiếp).  Nếu  so 

sánh  với  kết  quả  khảo  sát  của  Nguyễn  Xuân 

Hiên (1994) khi khảo sát về an toàn phóng xạ tại 

7 bệnh viện tuyến Trung ương và 12 bệnh viện 

tỉnh  thì  kết  quả  khảo  sát  của  chúng  tôi  về  mức 

độ an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện tuyến Trung 

ương và tuyến tỉnh tốt hơn rất nhiều. Ở 7 bệnh 

viện  tuyến  Trung  ương  có  tới  19,7%  vị  trí  nơi 

nhân  viên  X‐quang  làm  việc,  20%  vị  trí  xung 

quanh phòng chụp Xquang có cường độ phóng 

xạ  vượt  TCVSCP;  với  12  bệnh  viện  tuyến  tỉnh 

cũng có 26,6% vị trí nhân viên X‐quang làm việc 

và 44,2% khu vực xung quanh vượt TCVSCP)(2). 

Kết quả khảo sát về an toàn phóng xạ của các 

phòng  X‐quang  ở  6  bệnh  viện  khu  vực  Đồng 

bằng  Sông  Cửu  Long  trong  năm  2013  cũng  tốt  hơn rất nhiều so với kết quả khảo sát năm 2007  tại 12 bệnh viện khu vực phía Nam của Viện Vệ  sinh  Y  tế  công  cộng  Tp.  Hồ  Chí  Minh.  Kết  quả  khảo sát năm 2007 cho thấy chỉ có 7/12 bệnh viện 

có  kết  quả  khảo  sát  cường  độ  phóng  xạ  các  phòng chụp X‐quang đảm bảo TCVSCP, 5 bệnh  viện  còn  lại  chỉ  có  từ  65,0%  ‐  94,44%  mẫu  đo  phóng xạ đạt TCVSCP(5) . 

KẾT LUẬN 

Qua  các  kết  quả  nghiên  cứu,  chúng  tôi  có  một số kết luận sau : 

Về công tác quản lý an toàn phóng xạ tại 6  bệnh viện  

Tất  cả  các  bệnh  viện  đều  có  xây  dựng  kế  hoạch/qui trình ứng phó sự cố phóng xạ nhưng  tất cả 6/6 bệnh viện đều chưa bao giờ tiến hành  diễn tập ứng phó sự cố . 

Nhiều phòng chụp/chiếu X. quang không có  đèn cảnh báo hoặc đèn báo không hoạt động khi  thiết bị phát tia phóng xạ (4/6 bệnh viện). 

3/6 bệnh viện không có biển cảnh báo nguy  hại phóng xạ, bảng nội qui an toàn phóng xạ, 2/6  bệnh viện còn thiếu giấy phép hoạt động cho các  thiết bị X‐quang, chưa kiểm định định kỳ thiết bị  theo  đúng  qui  định  hiện  hành,  3/6  bệnh  viện  chưa  có  đánh  giá  an  toàn  phóng  xạ  phòng  đặt  thiết bị. 

1/6 bệnh viện chưa đo kiểm định kỳ suất liều  phóng  xạ  theo  qui  định  của  Bộ  Khoa  học  và  Công nghệ. 

4/6  bệnh  viện  còn  có  nhiều  nhân  viên  vận  hành  máy  X‐quang  chưa  có  giấy  chứng  chỉ  An  toàn bức xạ hợp lệ hoặc giấy đã hết hạn mà chưa  được tập huấn và cấp lại . 

Về thực trạng an toàn phóng xạ tại 6 bệnh  viện 

Nhìn chung các phòng máy tương đối đảm  bảo  an  toàn  phóng  xạ  cho  các  cán  bộ  y  tế  làm  việc  trực  tiếp  với  các  thiết  bị,  tuy  nhiên tại  khu  vực  phóng  máy  CT‐  Scanner  vẫn  có  3/48  mẫu 

(chiếm 6,3%). 

Trang 7

kỹ  thuật  số  chỉ  có  1/60  mẫu  chưa  bảo  đảm  an 

toàn vệ sinh cho những cán bộ y tế gián tiếp tiếp 

xúc  và  cho  cả  những  bệnh  nhân  và  người  nhà 

bệnh nhân.  

Tất cả các mẫu đo chưa bảo đảm tiêu chuẩn 

Vệ  sinh  lao động  cho  phép  đều thuộc  các  bệnh 

viện tuyến tỉnh. 

KIẾN NGHỊ 

Để  cải  thiện  điều  kiện  làm  việc  và  phòng 

chống  nhiễm  xạ  nhề  nghiệp,  chúng  tôi  xin  có 

một số đề xuất kiến nghị các bệnh viện nên ưu 

tiên thực hiện một số giải pháp cải thiện sau : 

Nghiêm  chỉnh  chấp  hành  các  qui  định  hiện 

hành về bảo đảm an toàn bức xạ : Hoàn chỉnh bổ 

sung các hồ sơ an toàn phóng xạ còn thiếu, cho 

tất  cả  những  cán  bộ  chưa  học  hoặc  đã  học  quá 

lâu được học An toàn bức xạ theo đúng qui định 

hiện hành. 

Các bệnh viện nên có kế hoạch tổ chức diễn 

tập các qui trình ứng phó sự cố phóng xạ trong 

các tình huống khẩn cấp. 

Sửa chữa, gia cố khắc phục tất cả các vị trí bị  lọt  tia  (những  vị  trí  mép  cửa  chưa  kín  tạo  ra  cường độ phóng xạ cao vượt TCVSCP). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Nguyễn Bích Diệp. Nguyễn Thị Hồng Tú và CS (2010). Điều  kiện lao động đặc thù và Sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên Y tế  trong giai đoạn hiện nay. Nhà xuất bản Giao thông vận tải. Hà 

Nội. Tr. 41. 

2 Nguyễn Xuân Hiên và CS (1994). Sơ bộ đánh giá tình hình phòng 

hộ tại một số cơ sở X‐quang hiện nay và giải pháp. Viện YHLРvà 

VSMT. Tr.12. 

3 Nguyễn Xuân Hiên và CS (1996). An toàn vệ sinh bức xạ ion hóa 

ở các cơ sở X‐quang tư nhân hiện nay. Viện YHLРvà VSMT. Tr. 

28. 

4 Nguyễn Xuân Hiên và CS (1998). Bước đầu đánh giá ảnh hưởng  của bức xạ ion hóa tới sức khỏe nhân viên X‐quang và giải pháp.  Chuyên đề YHLРsố 12/1998. Viện YHLРvà VSMT. Tr.7. 

5 Viện Y tế công cộng Tp. HCM (2007). Báo cáo kết quả quan trắc  môi trường ngành y tế năm 2007.  Đề  tài/Dự  án NCKH  cấp  Bộ 

2007. Tr. 66‐87. 

 

Ngày nhận bài báo:       14/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   11/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 00:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w