Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định và đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các phòng X‐quang ở một số bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.
Trang 1CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN TRUNG ƯƠNG
VÀ TUYẾN TỈNH TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trịnh Hồng Lân*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: An toàn phóng xạ luôn là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với các bệnh viện các
tuyến trong cả nước. An toàn phóng xạ được đặt ra không chỉ cho những người bệnh được chỉ định các kỹ thuật chiếu – chụp X‐quang để chẩn đoán và điều trị bệnh, mà nó còn được quan tâm tới mức độ an toàn cho các cán bộ
y tế trực tiếp và gián tiếp vận hành sử dụng các thiết bị X‐quang trong chẩn đoán và điều trị cho người bệnh trong các cơ sở y tế. Thậm chí an toàn phóng xạ còn phải được quan tâm tới cả những người nhà bệnh nhân, những người sống và làm việc gần các phòng chụp X‐quang. Xuất phát từ những yêu cầu đó, Viện Y tế công cộng Tp. Hồ Chí Minh đã được Bộ Y tế giao cho nhiệm vụ quan trắc môi trường hàng năm các cơ sở y tế ở khu vực các tỉnh thành phía Nam. Trong đó, chỉ tiêu phóng xạ là một trong những chỉ tiêu bắt buộc phải quan trắc hang năm tại các cơ sở y tế. Do vậy, khảo sát đánh giá an toàn phóng xạ của các phòng X‐quang là rất cần thiết cho tất cả các bệnh viện hiện nay.
Mục tiêu đề tài: Xác định và đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các phòng X‐quang ở một số bệnh viện
tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang .
Kết quả: Kết quả khảo sát về quản lý an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện cho thấy mặc dù tất cả các bệnh viện
đều có xây dựng kế hoạch/qui trình ứng phó sự cố phóng xạ nhưng tất cả 6/6 bệnh viện đều chưa bao giờ tiến hành diễn tập ứng phó sự cố để đánh giá sự phù hợp trên thực tế của bệnh viện, nhiều phòng chụp/chiếu X‐ quang không có đèn cảnh báo hoặc đèn báo không hoạt động khi thiết bị phát tia phóng xạ (4/6 bệnh viện), không
có biển cảnh báo nguy hại phóng xạ, bảng nội qui an toàn phóng xạ (3/6 bệnh viện). Đáng lưu ý là có 2/6 bệnh viện còn thiếu giấy phép hoạt động cho các thiết bị X‐quang, chưa kiểm định định kỳ thiết bị theo đúng qui định hiện hành, 3/6 bệnh viện chưa có đánh giá an toàn phóng xạ phòng đặt thiết bị, 1/6 bệnh viện chưa đo kiểm định
kỳ suất liều phóng xạ theo qui định của Bộ Khoa học và Công nghệ, 4/6 bệnh viện còn có nhiều nhân viên vận hành máy X‐quang chưa có giấy chứng chỉ An toàn bức xạ hợp lệ hoặc giấy đã hết hạn mà chưa được tập huấn
và cấp lại. Kết quả khảo sát cường độ phóng xạ cho thấy nhìn chung các phòng máy tương đối đảm bảo an toàn phóng xạ cho các cán bộ y tế làm việc trực tiếp với các thiết bị, tuy nhiên tại khu vực phóng máy CT‐ Scanner vẫn
có 3/48 mẫu (chiếm 6,3%), khu vực các máy X‐quang thông thường và kỹ thuật số có 1/60 mẫu chưa bảo đảm an toàn vệ sinh cho những cán bộ y tế gián tiếp tiếp xúc và cho cả những bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Tất cả các mẫu đo chưa bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép đều thuộc các bệnh viện tuyến tỉnh.
Kiến nghị: Hoàn chỉnh bổ sung các hồ sơ an toàn phóng xạ còn thiếu, cho tất cả những cán bộ chưa học hoặc
đã học quá lâu được học An toàn bức xạ theo đúng qui định hiện hành. Các bệnh viện nên có kế hoạch tổ chức diễn tập các qui trình ứng phó sự cố phóng xạ trong các tình huống khẩn cấp. Cho sửa chữa, gia cố khắc phục tất
cả các vị trí bị lọt tia (những vị trí mép cửa chưa kín tạo ra cường độ phóng xạ cao vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép).
Từ khóa: Các yếu tố nguy cơ, tác hại nghề nghiệp, an toàn phóng xạ, X‐quang
* Viện Y tế công cộng Tp.HCM
Tác giả liên lạc: Ts. Trịnh Hồng Lân ĐT: 0903736894 Email: trinhhonglan07@gmail.com
Trang 2SITUATION OF RADIOACTIVE SAFETY ON X RAY ROOMS IN SOME PROVINCIAL
AND CENTRAL HOSPITALS AT MEKONG DELTA REGION
Trinh Hong Lan and et al. * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 723 ‐ 729
Background: Radioactive safety is always a significantly important issue and necessary in hospitals at all
levels from central to local level. Radioactive safety is set out not only for patients who are indicated to test to indicating X ray to diagnose and treat, but also for health staff in terms of both directly and indirectly operating X‐ray devices in the diagnosis and treatment Moreover, radioactive safety must even be paid attention to relatives of patients, the people who live or work near the X‐ray rooms. The institute of public health HCM city has been assigned the duty of annual environmental monitoring of health facilities in the southern provinces. The radioactive indicators are forced to annual monitor at health facilities. Therefore, the survey on radioactive safety
at X‐ray rooms is essential for all hospitals.
Objectives: Identify and evaluate the level of radioactive safety on X‐ray rooms in some provincial and
central hospitals in Mekong Delta region in 2013.
Method: cross‐sectional study
Results: Survey results on radioactive safety management in six hospitals showed that although all hospitals
had had plans or radioactive incident response process but all 6/6 hospital did not conduct incident response rehearsal to assess the suitability of X‐ray rooms. Many rooms had no warning lights or warning lights were not working when radioactive devices had been emitting (4/6 hospitals), no warning notes of hazardous radiation safety, no tables of radioactive safety rules (3/6 hospitals). Notably, there was 2/6 hospitals, that have lacked of operation licenses for the x‐ray equipment and not tested equipment in accordance with current regulations. 3/6 hospitals had no radioactive safety assessment for equipment rooms, 1/6 hospitals have no periodic radioactive dose tests, prescribed by Ministry of Science and Technology, 4/6 hospitals also had many staff to operate x‐ray machine without certificates of radioactive safety or had expired certificates. Survey results revealed that the intensity of radioactive was relatively safety for health staff, whose work directly with the device. However, CT‐ Scanner areas still had 3/48 samples over safety standard (accounting for 6.3%). The X‐ray machines and digital areas had 1/60 samples which were not guarantee for indirect exposure healthcare worker, both the patients and relatives of patients. All the samples in provincial hospitals had exceeded hygiene safety standards.
Conclusion: Completing and supplement the radioactive safety profile. Training and re‐training for officials,
who haven’t been learned or have learned so many years ago, the knowledge of the radioactive safety conforming
to the current regulations. Hospitals should have plans to hold the rehearsal for response process of incident radioactive in emergency situations. All the leaked beam positions should have repaired and reinforced recovery. (The position at the leaked door generates high radioactive intensity over safety standards).
Keywords: risk factors, occupational hazards, X‐ray, radioactive safety.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các hoạt động chuyên môn của các
bệnh viện phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe nhân dân, hoạt động chiếu,
chụp X‐quang phục vụ cho mục tiêu chẩn đoán
và điều trị cho người bệnh là hết sức cần thiết và
không thể thiếu đối với bất cứ bệnh viện nào.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, hàng loạt các loại thiết bị sử dụng tia X‐quang hiện đại tiên tiến đã được phát minh và đưa vào
sử dụng (như thiết bị X‐quang kỹ thuật số, thiết
bị chụp cắt lớp điện tử (CT –Scaner) với nhiều lát cắt khác nhau, nhiều độ phân giải khác nhau…).
Trang 3Những thiết bị hiện đại này đã đem lại những
lợi ích vô cùng to lớn cho công tác chẩn đoán và
điều trị bệnh. Ở Việt Nam, hầu hết tất cả các
bệnh viện tuyến tỉnh, nhất là các bệnh viện
tuyến Trung ương đã không ngừng được đầu tư
nâng cấp, được trang bị các loại thiết bị X –
quang tiên tiến để phục vụ cho người bệnh. Bên
cạnh những lợi ích to lớn đó, thiết bị X‐quang
cũng lại là một trong những thiết bị rất nguy
hiểm cho sức khỏe con người nếu không được
quản lý và sử dụng đúng cách. Kết quả điều tra,
khảo sát của nhiều nghiên cứu trong nước trong
những năm trước đây đã cho thấy, rất nhiều
phòng X‐quang của nhiều bệnh viện đã không
được kiểm soát chặt chẽ, cường độ phóng xạ tại
rất nhiều vị trí vượt TCVSCP tạo ra nguy cơ
nhiễm xạ rất cao cho bản thân các cán bộ vận
hành các thiết bị X–quang và cho cả những
người xung quanh(1,2,3,4,5). Tia X do các loại thiết bị
X‐quang phát ra chính là yếu tố vật lý có tác hại
nghề nghiệp nguy hiểm nhất cho con người, tạo
ra nguy cơ nhiễm xạ rất cao cho chính những
cán bộ y tế sử vận hành và sử dụng các thiết bị
này nếu chúng không được kiểm soát chặt chẽ.
Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp ở những cán bộ y tế
có tiếp xúc trực tiếp với các tia X‐quang chính là
một trong 29 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm
hiện nay ở nước ta.
Do vậy, việc khảo sát đánh giá an toàn
phóng xạ ở các bệnh viện là hết sức quan trọng
và cần thiết nhằm kiểm soát, phòng chống các
tác hại của tia X‐quang, phòng chống bệnh
nhiễm xạ nghề nghiệp cho các cán bộ y tế làm
việc ở các phòng Xquang tại các tỉnh thành
phía Nam.
Đề tài nghiên cứu khoa học này được thực
hiện với mục tiêu tổng quát: “Xác định và
đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các
phòng X‐quang ở một số bệnh viện tuyến
Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng
Sông Cửu Long năm 2013.” Nhằm giải quyết
các mục tiêu cụ thể sau:
Đánh giá thực trạng công tác quản lý an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Xác định cường độ phóng xạ tại các phòng máy X‐quang kỹ thuật cao CT – Scaner.
Xác định cường độ phóng xạ tại các phòng máy chụp X‐quang cố định (máy thông thường
vá máy kỹ thuật số) . Đánh giá mức độ an toàn phóng xạ của các phòng máy chụp X‐quang các loại.
ÐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Ðối tượng nghiên cứu
Các phòng máy chụp CT – Scanner.
Các phòng máy chụp X‐quang cố định (máy thông thường và máy kỹ thuật số).
Nhân viên vận hành các thiết bị X‐quang.
Hồ sơ quản lý an toàn phóng xạ của các bệnh viện.
Ðịa điểm và thời gian nghiên cứu:
Các bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh trên địa bàn khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long gồm: Cần Thơ, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Cà Mau trong khoảng thời gian 2013.
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Số đơn vị được khảo sát: 6 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh.
Cỡ mẫu : Tất cả các phòng máy chụp X‐ quang cùng các nhân viên vận hành các loại.
Thiết bị đo Máy đo hiện số Radiation Alert Inspector
12513 – Mỹ.
Tiêu chuẩn đánh giá An toàn phóng xạ
TCVN 6561 – 1999 & TCVN 6866 : 2001
Suất liều tức thời cho phép tại các vị trí:
Các điểm bên ngoài phòng: Phòng làm việc
Trang 4Đo suất liều phóng xạ bằng thiết bị chuyên
dụng.
Điều tra, phỏng vấn nhân viên và quan sát
trực tiếp các phòng X‐quang.
Kiểm tra Hồ sơ quản lý an toàn phòng xạ tại
các bệnh viện.
Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm EXCEL để nhập và xử lý
số liệu.
Phương pháp phân tích
Thống kê mô tả: Tần số và tỷ lệ phần trăm các mẫu đo cường độ phóng xạ đảm bảo và không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh lao động.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Kết quả khảo sát về quản lý an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện
Bảng 1. Các hoạt động bảo đảm an toàn phóng xạ của các phòng chụp X‐quang của 6 bệnh viện
SỐ
Tổng số BV được khảo sát
Số BV không bảo đảm
Tỷ lệ BV không bảo đảm
Kết quả khảo sát về quản lý an toàn phóng
xạ tại 6 bệnh viện cho thấy sai phạm nhiều nhất
đó là mặc dù tất cả các bệnh viện đều có xây
dựng kế hoạch/qui trình ứng phó sự cố phóng
xạ nhưng tất cả 6/6 bệnh viện đều chưa bao giờ
tiến hành diễn tập ứng phó sự cố để đánh giá sự
phù hợp trên thực tế của bệnh viện. Lỗi thường
gặp tiếp theo là nhiều phòng chụp/chiếu X.
quang không có đèn cảnh báo hoặc đèn báo
không hoạt động khi thiết bị phát tia phóng xạ
(4/6 bệnh viện), không có biển cảnh báo nguy hại
phóng xạ, bảng nội qui an toàn phóng xạ (3/6
bệnh viện). Đáng lưu ý là có 2/6 bệnh viện còn thiếu giấy phép hoạt động cho các thiết bị X‐
quang, chưa kiểm định định kỳ thiết bị theo đúng qui định hiện hành, 3/6 bệnh viện chưa có đánh giá an toàn phóng xạ phòng đặt thiết bị, 1/6 bệnh viện chưa đo kiểm định kỳ suất liều phóng xạ theo qui định của Bộ Khoa học và Công nghệ, 4/6 bệnh viện còn có nhiều nhân viên vận hành máy X‐quang chưa có giấy chứng chỉ An toàn bức xạ hợp lệ hoặc giấy đã hết hạn
mà chưa được tập huấn và cấp lại .
Kết quả khảo sát về cường độ phóng xạ
Bảng 2. Kết quả khảo sát cường độ phóng xạ các phòng máy CT – Scanner tại 6 bệnh viện
TCVN 6561 – 1999 & TCVN 6866 : 2001
- Nhân viên bức xạ trực tiếp 10,00
Trang 5Kết quả khảo sát bức xạ ion hóa các phòng
máy chụp kỹ thuật cao CT – Scanner ở 6 bệnh
viện trong Bảng 2 cho thấy: Tất cả các chỉ số suất
liều bức xạ tức thời kiểm tra tại các phòng CT –
Scanner ở mức khá thấp, đảm bảo tiêu chuẩn Vệ
sinh lao động cho phép (theo tiêu chuẩn TCVN
6561 – 1999) cho các cán bộ y tế làm trực tiếp ở
các phòng chụp – chiếu X‐quang. Tuy vậy, vẫn
còn một số vị trí đo ở mép cửa từ hành lang vào phòng chụp, khu vực bệnh nhân và người nhà bệnh nhân ngồi chờ, khu vực hành lang trước phòng chụp còn có cường độ phóng xạ còn cao, vượt TCVSCP từ 1,28 lần cho tới gần 10 lần (theo TCVN 6561 – 1999) đối với người tiếp xúc gián tiếp (của 1 bệnh viện tuyến tỉnh).
Bảng 3. Kết quả khảo sát cường độ phóng xạ các phòng máy X‐quang thông thường và kỹ thuật số
TCVN 6561 – 1999 & TCVN 6866 : 2001 Nhân viên bức xạ trực tiếp 10,00 Các điểm bên ngoài phòng: Phòng làm việc của nhân viên,
Kết quả khảo sát về cường độ phóng xạ tại
các phóng chiếu/chụp X – Quang thông thường
và kỹ thuật số (Bảng 3) cho thấy : Tất cả các chỉ
số suất liều bức xạ tức thời kiểm tra tại các
phòng máy X‐quang cố định thông thường và
kỹ thuất số đều ở mức đảm bảo tiêu chuẩn Vệ
sinh lao động cho phép (theo tiêu chuẩn TCVN
6561 – 1999) cho các cán bộ y tế làm trực tiếp ở các phòng chụp – chiếu X‐quang. Tuy vậy, vẫn còn một vị trí đo ở mép cửa từ hành lang vào phòng chụp còn bị lọt tia, có cường độ phóng xạ còn cao, chưa đảm bảo theo TCVN 6561 – 1999 đối với người tiếp xúc gián tiếp (của 1 bệnh viện tuyến tỉnh).
Kết quả khảo sát về mực độ an toàn phóng xạ
Bảng 4. Số mẫu đo phóng xạ không đảm bảo an toàn của các phòng chụp CT – Scanner
SỐ
Tổng số mẫu khảo sát
Tổng số mẫu không bảo đảm TCVS
% số mẫu không bảo đảm TCVS
Bảng 5. Số mẫu đo cường độ phóng xạ không đảm bảo an toàn của các phòng chụp X‐quang thông thường và kỹ
thuật số cố định
SỐ
TT VỊ TRÍ ĐO mẫu khảo sát Tổng số không bảo đảm TCVS Tổng số mẫu không bảo đảm TCVS % số mẫu
Trang 6phóng chụp X‐quang (Bảng 4,5) cho thấy nhìn
chung các phòng máy tương đối đảm bảo an
toàn phóng xạ cho các cán bộ y tế làm việc trực
tiếp với các thiết bị, tuy nhiên tại khu vực phóng
máy CT‐ Scanner vẫn có 3/48 mẫu (chiếm 6,3%),
khu vực các máy X‐quang thông thường và kỹ
thuật số có 1/60 mẫu chưa bảo đảm an toàn vệ
sinh cho những cán bộ y tế gián tiếp tiếp xúc và
cho cả những bệnh nhân và người nhà bệnh
nhân. Tất cả các mẫu đo chưa bảo đảm tiêu
chuẩn vệ sinh lao động cho phép đều thuộc các
bệnh viện tuyến tỉnh. Kết quả khảo sát 6 bệnh
viện của chúng tôi cho thấy mức độ an toàn
phóng xạ đối với những cán bộ trực tiếp có tiếp
xúc với tia X‐quang tương đương với kết quả
khảo sát của Nguyễn Xuân Hiên và CS (1998)(4),
khi tiến hành khảo sát ở các bệnh viện khu vực
phía Bắc. Tuy nhiên, mức an toàn phóng xạ đối
với những cán bộ gián tiếp, với bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân thì kết quả của chúng tôi
cho thấy mức độ an toàn phóng xạ thấp hơn.
Tuy nhiên nếu so với kết quả khảo sát ở các bệnh
viên tuyến huyện của Nguyễn Xuân Hiên và CS
thì kết quả khảo sát về an toàn phóng xạ của 6
bệnh viện mà chúng tôi khảo sát tốt hơn rất
nhiều (kết quả khảo sát của bệnh viện tuyến
huyện có tới 6/18 mẫu không bảo đảm TCVSCP
với cán bộ y tế trực tiếp tiếp xúc, 9/21 mẫu ở khu
vực những người tiếp xúc gián tiếp). Nếu so
sánh với kết quả khảo sát của Nguyễn Xuân
Hiên (1994) khi khảo sát về an toàn phóng xạ tại
7 bệnh viện tuyến Trung ương và 12 bệnh viện
tỉnh thì kết quả khảo sát của chúng tôi về mức
độ an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện tuyến Trung
ương và tuyến tỉnh tốt hơn rất nhiều. Ở 7 bệnh
viện tuyến Trung ương có tới 19,7% vị trí nơi
nhân viên X‐quang làm việc, 20% vị trí xung
quanh phòng chụp Xquang có cường độ phóng
xạ vượt TCVSCP; với 12 bệnh viện tuyến tỉnh
cũng có 26,6% vị trí nhân viên X‐quang làm việc
và 44,2% khu vực xung quanh vượt TCVSCP)(2).
Kết quả khảo sát về an toàn phóng xạ của các
phòng X‐quang ở 6 bệnh viện khu vực Đồng
bằng Sông Cửu Long trong năm 2013 cũng tốt hơn rất nhiều so với kết quả khảo sát năm 2007 tại 12 bệnh viện khu vực phía Nam của Viện Vệ sinh Y tế công cộng Tp. Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát năm 2007 cho thấy chỉ có 7/12 bệnh viện
có kết quả khảo sát cường độ phóng xạ các phòng chụp X‐quang đảm bảo TCVSCP, 5 bệnh viện còn lại chỉ có từ 65,0% ‐ 94,44% mẫu đo phóng xạ đạt TCVSCP(5) .
KẾT LUẬN
Qua các kết quả nghiên cứu, chúng tôi có một số kết luận sau :
Về công tác quản lý an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện
Tất cả các bệnh viện đều có xây dựng kế hoạch/qui trình ứng phó sự cố phóng xạ nhưng tất cả 6/6 bệnh viện đều chưa bao giờ tiến hành diễn tập ứng phó sự cố .
Nhiều phòng chụp/chiếu X. quang không có đèn cảnh báo hoặc đèn báo không hoạt động khi thiết bị phát tia phóng xạ (4/6 bệnh viện).
3/6 bệnh viện không có biển cảnh báo nguy hại phóng xạ, bảng nội qui an toàn phóng xạ, 2/6 bệnh viện còn thiếu giấy phép hoạt động cho các thiết bị X‐quang, chưa kiểm định định kỳ thiết bị theo đúng qui định hiện hành, 3/6 bệnh viện chưa có đánh giá an toàn phóng xạ phòng đặt thiết bị.
1/6 bệnh viện chưa đo kiểm định kỳ suất liều phóng xạ theo qui định của Bộ Khoa học và Công nghệ.
4/6 bệnh viện còn có nhiều nhân viên vận hành máy X‐quang chưa có giấy chứng chỉ An toàn bức xạ hợp lệ hoặc giấy đã hết hạn mà chưa được tập huấn và cấp lại .
Về thực trạng an toàn phóng xạ tại 6 bệnh viện
Nhìn chung các phòng máy tương đối đảm bảo an toàn phóng xạ cho các cán bộ y tế làm việc trực tiếp với các thiết bị, tuy nhiên tại khu vực phóng máy CT‐ Scanner vẫn có 3/48 mẫu
(chiếm 6,3%).
Trang 7kỹ thuật số chỉ có 1/60 mẫu chưa bảo đảm an
toàn vệ sinh cho những cán bộ y tế gián tiếp tiếp
xúc và cho cả những bệnh nhân và người nhà
bệnh nhân.
Tất cả các mẫu đo chưa bảo đảm tiêu chuẩn
Vệ sinh lao động cho phép đều thuộc các bệnh
viện tuyến tỉnh.
KIẾN NGHỊ
Để cải thiện điều kiện làm việc và phòng
chống nhiễm xạ nhề nghiệp, chúng tôi xin có
một số đề xuất kiến nghị các bệnh viện nên ưu
tiên thực hiện một số giải pháp cải thiện sau :
Nghiêm chỉnh chấp hành các qui định hiện
hành về bảo đảm an toàn bức xạ : Hoàn chỉnh bổ
sung các hồ sơ an toàn phóng xạ còn thiếu, cho
tất cả những cán bộ chưa học hoặc đã học quá
lâu được học An toàn bức xạ theo đúng qui định
hiện hành.
Các bệnh viện nên có kế hoạch tổ chức diễn
tập các qui trình ứng phó sự cố phóng xạ trong
các tình huống khẩn cấp.
Sửa chữa, gia cố khắc phục tất cả các vị trí bị lọt tia (những vị trí mép cửa chưa kín tạo ra cường độ phóng xạ cao vượt TCVSCP).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Bích Diệp. Nguyễn Thị Hồng Tú và CS (2010). Điều kiện lao động đặc thù và Sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên Y tế trong giai đoạn hiện nay. Nhà xuất bản Giao thông vận tải. Hà
Nội. Tr. 41.
2 Nguyễn Xuân Hiên và CS (1994). Sơ bộ đánh giá tình hình phòng
hộ tại một số cơ sở X‐quang hiện nay và giải pháp. Viện YHLÐ và
VSMT. Tr.12.
3 Nguyễn Xuân Hiên và CS (1996). An toàn vệ sinh bức xạ ion hóa
ở các cơ sở X‐quang tư nhân hiện nay. Viện YHLÐ và VSMT. Tr.
28.
4 Nguyễn Xuân Hiên và CS (1998). Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của bức xạ ion hóa tới sức khỏe nhân viên X‐quang và giải pháp. Chuyên đề YHLÐ số 12/1998. Viện YHLÐ và VSMT. Tr.7.
5 Viện Y tế công cộng Tp. HCM (2007). Báo cáo kết quả quan trắc môi trường ngành y tế năm 2007. Đề tài/Dự án NCKH cấp Bộ
2007. Tr. 66‐87.
Ngày nhận bài báo: 14/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 11/6/2014 Ngày bài báo được đăng: 14/11/2014