1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm các trường hợp viêm phổi nặng có kèm trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ từ 2-12 tháng tuổi tại khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1

6 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 353,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, vi sinh, điều trị và kết quả điều trị của trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng bị viêm phổi nặng kèm trào ngược dạ dày thực quản. Nghiên cứu được thiết kế mô tả hàng loạt ca bệnh nhi từ 2 tháng đến 12 tháng bị viêm phổi kèm trào ngược dạ dày thực quản.

Trang 1

CÓ KÈM TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN Ở TRẺ TỪ 2 – 12 THÁNG 

TUỔI TẠI KHOA HÔ HẤP BỆNH VIỆNH NHI ĐỒNG 1 

Vũ Hữu Hùng*, Phan Hữu Nguyệt Diễm** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Health Organization) ước tính mỗi năm có khoảng 

150 triệu trẻ em được chẩn đoán viêm phổi. Viêm phổi nặng kèm trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ) làm  tăng nguy cơ viêm phổi tái phát, thời gian nằm viện kéo dài. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này để có biện pháp  điều trị thích hợp, hạn chế di chứng, giảm tỷ lệ tử vong và tiết kiệm chi phí điều trị trong bệnh lý này. 

Mục tiêu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, vi sinh, điều trị và kết quả điều trị của trẻ từ 2 tháng 

đến 12 tháng bị viêm phổi nặng kèm TNDDTQ. 

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả hàng loạt ca bệnh nhitừ 2 tháng đến 12 tháng bị viêm phổi kèm 

TNDDTQ. 

Kết  quả:  Trong 12 tháng, có 196 trẻ bị viêm phổi kèm TNDDTQ: Bệnh hay gặp ở nam, tỷ lệ nam/nữ là 

1,97/1, trẻ sinh non < 38 tuần chiếm 26,5%, có 33% trẻ đã có tiền căn viêm phổi trước đây, trẻ có suy dinh  dưỡng có tiền căn viêm phổi kèm TNDDTQ cao hơn trẻ bình thường. Trong đó có 92,9% siêu âm lần 1 phát  hiện TNDDTQ; có 7,1% siêu âm lần 2 mới phát hiện TNDDTQ. Tỷ lệ trẻ điều trị chống trào ngược muộn có  nguy cơ trở nặng và phải thở oxy cao hơn nhóm trẻ được điều trị chống trào ngược sớm. Điều trị chống trào  ngược sớm có tỷ lệ thất bại điều trị thấp. Thời gian nằm viện trung bình là 13,6 ngày. 

Kết luận: bệnh viêm phổi kèm TNDDTQ gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái. Trẻ sinh non và suy dinh dưỡng có 

nguy cơ bị bệnh cao. Trẻ điều trị chống trào ngược muộn có nguy cơ trở nặng và phải thở oxy cao hơn nhóm trẻ  được điều trị chống trào ngược sớm. 

Từ khóa: viêm phổi nặng, trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ) 

ABSTRACT 

CHARACTERISTICS OF CASES OF SEVERE PNEUMONIA ASSOCIATED 

 WITH GASTROESOPHAGEAL REFLUX IN 2 – 12 MONTH AGED INFANTS  

IN THE DEPARTMENT OF PULMONOLOGY, CHILDREN HOSPITAL 1 

Vu Huu Hung, Phan Huu Nguyet Diem  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 275 ‐ 280 

Background:  According  to  WHO  (World  Health  Organization),  there  are  about  150  million  of  children 

with  pneumonia.  Severe  pneumonia  associated  with  gastroesophageal  reflux  (GER)  have  a  higher  risk  of  recurring  pneumonia  and  prolonged  hospitalization.  This  study  was  conducted  to  develop  an  appropriate  management of the condition, to reduce its sequelae and its mortality rate, and to reduce the cost of treatment. 

Objectives: To describe its clinical, laboratory, microbiologic characteristics, the management and its results 

in children aged 2 months to 12 months who got severe pneumonia associated with gastroesophageal reflux. 

Methods: Cohort study of children aged 2 months to 12 months who got severe pneumonia associated with 

gastroesophageal relux. 

* Bệnh viện Quận Thủ Đức  ** Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

Results:  In  12  months,  there  were  196  cases  of  children  who  got  pneumonia  associated  with 

gastroesophageal  reflux.  Occuring  more  common  in  male  than  in  female,  the  ratio  of  male/female  is  1.97/1.  Prematured before 38 weeks: 26.5%. History of previous pneumonia: 33%. Malnutritioned children had a higher  incidence of getting pneumonia associated with GER. Diagnosed by the first ultrasound session: 92.9%, by the  second 7.1%. Late treatment of GER had a higher incidence of worsening and having to use oxygen supplement  than  early  treatment.  Early  treatment  of  GER  had  a  low  incidence  of  failure.  The  average  duration  of  hospitalization was 13.6 days. 

Conclusions:  Pneumonia  associated  with  GER  occurred  more  common  in  male  than  in  female  children. 

Prematured and malnutritioned children had a higher risk of getting the condition. Late treatment of GER had a  higher risk of getting worse and having to use oxygen supplement than early treatment. 

Key words: Pneumonia associated; Gastroesophageal reflux (GER) 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World 

Health  Organization)  ước  tính  mỗi  năm  có 

khoảng 150 triệu trẻ em được chẩn đoán viêm 

phổi, 95% trường hợp mới mắc thuộc các nước 

đang phát triển, Trong 15 nước có trẻ em viêm 

phổi  nhiều  nhất,  có  Việt  Nam  với  2  triệu 

trường hợp mỗi năm(14). 

Việc chẩn đoán và điều trị viêm phổi ở các 

thể  lâm  sàng  nặng  như  có  bệnh  cảnh  nền  đi 

kèm, viêm phổi kéo dài (VPKD), viêm phổi tái 

phát  (VPTP),  vẫn  được  xem  là  một  thử  thách 

đối  với  các  nhà  lâm  sàng.  Chính  vì  vậy  viêm 

phổi  nặng  kèm  trào  ngược  dạ  dày  thực  quản 

(TNDDTQ)  cần  được  chú  trọng  hơn  để  giúp 

giảm thiểu thời gian nằm viện, giảm thiểu chi 

phí điều trị, giảm di chứng và tỷ lệ tử vong do 

viêm phổi ở trẻ em. 

Viêm  phổi  nặng  kèm  TNDDTQ  làm  tăng 

nguy cơ VPTP, thời gian nằm viện kéo dài và 

bên  cạnh  viêm  phổi  do  vi  trùng  còn  có  thể 

viêm phổi do hít chất chứa từ dạ dày làm điều 

trị  khó  khăn  hơn.  Đó  chính  là  một  thách  thức 

cho các bác sỹ điều trị lâm sàng. 

Hiện  nay  trên  thế  giới  có  ít  công  trình 

nghiên cứu liên quan đến viêm phổi nặng kèm 

TNDDTQ  ở  trẻ  em.  Riêng  tại  các  bệnh  viện 

chuyên  ngành  Nhi  Việt  Nam,  điều  trị  viêm 

phổi  nặng  trên  bệnh  nhân  có  TNDDTQ  chủ 

yếu dựa vào kinh nghiệm lâm sàng và chưa có 

một  phác  đồ  thống  nhất  để  giúp  điều  trị  tốt 

bệnh lý này. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài 

này để có biện pháp điều trị thích hợp, hạn chế 

di  chứng,  giảm  tỷ  lệ  tử  vong  và  tiết  kiệm  chi  phí điều trị.  

Mục tiêu nghiên cứu 

1. Xác định tỷ lệ các đặc điểm lâm sàng của  bệnh viêm phổi nặng kèm TNDDTQ ở trẻ từ 2  tháng đến 12 tháng. 

2. Xác định tỷ lệ các đặc điểm cận lâm sàng 

và  vi  sinh  của  bệnh  viêm  phổi  nặng  kèm  TNDDTQ ở trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng. 

3.  Xác  định  tỷ  lệ  các  đặc  điểm  điều  trị  và  kết quả điều trị của bệnh viêm phổi nặng kèm  TNDDTQ ở trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng 

Bệnh nhi từ 2 tháng đến 12 tháng tuổi được  chẩn đoán viêm phổi nặng kèm TNDDTQ.  

Thời gian 

Từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013. 

Địa điểm 

Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1. 

Phương pháp 

Mô tả hàng loạt ca. 

Phân tích và xử lý số liệu 

Lưu  trữ  và  xử  lý  số  liệu  bằng  phần  mềm  SPSS, đánh giá những yếu tố tương quan với P 

<  0,05.  Kiểm  định  bằng  phép  kiểm  Chi  bình  phương, với độ tin cậy 95%.  

Trang 3

Đặc điểm chung 

Nhiều  nghiên  cứu  trên  thế  giới  cho  thấy 

TNDDTQ  gặp  ở  mọi  lứa  tuổi  Nhi  khoa,  tuy 

nhiên hay gặp nhất ở trẻ bú mẹ do cấu trúc giải 

phẫu của thực quản (TQ) dạ dày, đặc biệt là cơ 

thắt dưới thực quản (CTTQD) chưa hoàn chỉnh 

làm  cho  trào  ngược  (TN)  dễ  xuất  hiện.  Bệnh 

nặng thường tập trung nhiều ở lứa tuổi nhỏ do 

phổi  chưa  trưởng  thành,  nhất  là  trẻ  dưới  12 

tháng có tần suất mắc viêm phổi và bệnh nặng 

cao hơn trẻ lớn gấp 1,5 – 2,0 lần(8). Nguyên nhân 

là do lượng kháng thể IgG thụ động từ máu mẹ 

truyền  sang  bắt  đầu  giảm  trong  khi  khả  năng 

này  mới  hoàn  chỉnh.  Ngoài  ra  theo  giáo  sư  Tạ 

Thị  Ánh  Hoa,  trẻ  dưới  12  tháng  tuổi  tuy  chức 

năng phổi có khá hơn trẻ sơ sinh nhưng vẫn dễ 

có nguy cơ nhiễm trùng phổi lan tỏa, suy hô hấp 

và  kiệt  sức(4).  Tổng  số  bệnh  nhân  trong  nghiên 

cứu của chúng tôi là 196 trẻ, trong đó trẻ từ 2 – 5 

tháng tuổi chiếm 59,7 %; trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi 

chiếm 40,3%.Tỷ lệ nam/ nữ là 1,97/1. Đây là vấn 

đề cần nghiên cứu sâu để có sự lý giải thấu đáo. 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  tỷ  lệ  trẻ  suy 

dinh  dưỡng  là  29%.  Suy  dinh  dưỡng  là  biến 

chứng  của  bệnh  TNDDTQ.  Trẻ  bị  mất  thức  ăn 

khi nôn trớ hoặc đau làm trẻ chán ăn và lượng 

thức  ăn  được  ăn  vào  bị  giảm  đi  dẫn  đến  tình 

trạng  suy  dinh  dưỡng.  Trẻ  suy  dinh  dưỡng  dễ 

mắc các bệnh nhiễm trùng nói chung và nhiễm 

trùng hô hấp nói riêng. Ngoài ra, lớp tế bào biểu 

mô  ở  trẻ  suy  dinh  dưỡng  cũng  bị  thay  đổi  cấu 

trúc, hoạt động của lớp trụ lông bị suy yếu. 

Bảng 1: Tiền sử bệnh 

Tiền sử Số bệnh nhân

n=196

Tỷ lệ %

Một số báo cáo cho rằng tiền sử sản khoa là 

một  trong  các  yếu  tố  nguy  cơ  của  bệnh 

TNDDTQ.  Khi  chúng  tôi  phân  tích  các  yếu  tố 

này nhận thấy, tỷ lệ trẻ có tiền sử sản khoa bất  thường  trong  nghiên  cứu  chiếm  tỷ  lệ  khá  cao  30,1% bao gồm đẻ non, cân nặng thấp, đẻ ngạt.  Điều này liên quan đến sựnon yếu của hàng rào  chống TN trong giai đoạn sơ sinh. Hơn nữa, rất  nhiều  yếu  tố  làm  khởi  động  các  giai  đoạn  TN  làm cho TN thường gặp hơn ở trẻ đẻ non. Trẻ đẻ  non  cân  nặng  thấp  cơ  chế  chống  TN  càng  trở  nên yếu kém hơn và trẻ đẻ ngạt do ảnh hưởng  của não bộ làm cho CTTQD giãn nở bất thường  làm cho bệnh TNDDTQ dễ xuất hiện hơn.  Mối liên quan giữa bệnh lý hô hấp, tai  mũi  họng tái diễn và bệnh TNDDTQ đã được đề cập  đến từ lâu, tuy nhiên, mối quan hệ nhân quả của  hai  bệnh  này  (bệnh  TNDDTQ  là  nguyên  nhân  hay  là  hậu  quả)  thường  không  rõ  ràng.  Một  số  bệnh  lý  hô  hấp,  tai  mũi  họng  mãn  tính  và  tái  diễn cũng là một trong các yếu tố nguy cơ làm  cho bệnh TNDDTQ dễ xuất hiện. 

Đặc điểm lâm sàng 

Triệu chứng hô hấp  

Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là ho  chiếm  100%;  kế  đến  là  sốt  chiếm  78%;  sổ  mũi  chiếm  50%;  khàn  tiếng  chiếm  12,8%.  Triệu  chứng thực thể thường gặp nhất là co lõm ngực  chiếm 100%; thở nhanh 100%; ran ẩm/ nổ chiếm  100%. Kế đến là ran ngáy/rít 56%; khò khè 52%; 

co kéo cơ hô hấp phụ 34,2%; phập phồng cánh  mũi  9,2%;  các  triệu  chứng  thực  thể  không  đặc  hiệu khác chiếm 44%. 

Triệu chứng tiêu hóa  

Triệu  chứng  thường  gặp  nhất  là  nôn  trớ  chiếm  91%;  kế  đến  là  biếng  ăn,  bú  ít  chiếm  80,6%;  ợ  chiếm  34,2%;  nấc  chiếm  24,5%;  nôn  máu chiếm 1%. 

Giá trị trung bình số lần nôn trớ trong ngày  của 196 bệnh nhân là 2 (0‐8). Tần suất bệnh nhân  nôn trớ > 1 lần/ngày là 126/196 (64,3%). 

Các triệu chứng không đặc hiệu 

Trẻ  có  quấy  khóc  bất  thường  chiếm  35,5%;  Trẻ  có  hơi  thở  hôi  chiếm  29,6%;  tăng  tiết  nước  bọt chiếm 7,1%; Không có bệnh nhi nào co giật,  ngất xỉu hoặc hội chứng Sandifer. 

Trang 4

Trong  196  trè  dủ  tiêu  chuẩn  đưa  là  lô 

nghiên cứu có 140 trẻ đủ tiêu chuẩn chẩn đoán 

viêm  phổi  nặng  kèm  TNDDTQ  và  được  điều 

trị phối hợp viêm phổi và trào ngược (có nghĩ 

tới  TN  khi  nhập  viện  hoặc  điều  trị  TN  sớm), 

còn 56 trẻ lúc  vào  viện  chỉ  đươc  chần  đoán  là 

viêm phổi nặng và được điều trị theo phác đồ 

viêm  phổi  nặng,  sau  72  giờ  điều  trị  thấy  đáp  ứng điều trị kém hoặc diển tiến nặng hơn, lúc  này mới nghỉ tới có kèm TNDDTQ và cho làm  siêu  âm  tìm  TNDDTQ,  siêu  âm  cho  kết  quả  TNDDTQ  dương  tính  thì  lúc  này  mới  điều  trị  kết  hơp  trào  ngươc  (không  nghĩ  tới  TN  khi  nhập viện hoăc điều trị TN muộn) 

Bảng 2: So sánh tần suất các triệu chứng lâm sàng  

Triệu chứng Có nghĩ tới TN khi nhập viện Không nghĩ tới TN khi nhập viện P

Nhóm có nghĩ tới TN khi nhập viện có tỷ lệ 

nôn trớ (100%) cao hơn nhóm không nghĩ tới TN 

khi  nhập  viện  (67,9%),  sự  khác  biệt  này  có  ý 

nghĩa thống kê với P<0,05; 2= 43,54.  

Nhóm có nghĩ tới TN khi nhập viện có tỷ lệ 

ợ (37,1%) cao hơn nhóm không nghĩ tới TN khi 

nhập  viện  (26,8%),  sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa 

thống kê với P<0,001; 2= 16,99. 

Các triệu chứng ho, khò khè, khàn  tiếng  và 

nấc không khác nhau ở hai nhóm, điều này nói 

lên rằng đây là các triệu chứng thường gặp ở trẻ 

bị TN dù ta có nghĩ tới hay không. 

Đặc điểm cận lâm sàng 

Công thức bạch cầu máu 

Số lượng bạch cầu từ < 10.000/mm3 chiếm 

39,3%; số lượng bạch cầu 10.000 ≤ BC ≤ 15.000 

/mm3 chiếm 36,2%; bạch cầu > 15.000 chiếm tỷ 

lệ 24,5%. 

Tăng lượng bạch cầu ít có giá trị chẩn đoán 

nhiễm  trùng (3,11).  Bạch  cầu  tăng  có  lẽ  liên  quan 

đến  phản  ứng  viêm  nhiều  hơn.  Tuy  nhiên  nếu 

bạch cầu ≥ 22.000/mm3 hoặc bạch cầu tăng cùng 

lúc  với  tăng  giá  trị  CRP  và  PCT  thì  khả  năng 

viêm phổi do siêu vi rất thấp. 

Có 91 trẻ trong mẫu nghiên cứu được làm 

xét nghiệm định lượng CRP. Kết quả có 30 trẻ 

(chiếm  33%)  có  CRP  ≥  10  mg/l  được  phân  bố  như sau: 

Bảng 3 

Giá trị CRP Tần số (n = 30) Tỷ lệ %

Tổng cộng 30 100

Cũng  giống  như  bạch  cầu,  CRP  ít  có  giá  trị  phân  biệt  tác  nhân  vi  khuẩn  với  siêu  vi  trong  viêm phổi ở trẻ em.  

 Siêu âm 

Siêu  âm  >  3  lần  TN/  10  phút  chiếm  100%.  Trong  đó  có  92,9%  siêu  âm  lần  1  phát  hiện  TNDDTQ; có 7,1% siêu âm lần 2 mới phát hiện  TNDDTQ. 

Siêu âm thấy và đếm được số lần TN sau ăn, 

TN sinh lý cũng thường xảy ra sau ăn, tuy nhiên  không có giới hạn chính xác giữa TN sinh lý và 

TN  bệnh  lý.  Tuy  nhiên,  theo  một  công  trình  nghiên  cứu  của  các  tác  giả  khoa  nhi  Đại  học  Graz‐Austria,  nghiên  cứu  so  sánh  siêu  âm  với  phép đo pH kế và phép đo áp lực cơ vòng thực  quản  dưới,  cho  thấy  siêu  âm  chẩn  đoán  TNDDTQ  có  độ  nhạy  100%,  độ  chuyên  biệt  87,5% (với p<0,001). Các tác giả gợi ý nên dùng  siêu  âm  trong  bước  đầu  khảo  sát  chẩn  đoán  ở 

Trang 5

bệnh  nhân  nghi  ngờ  TNDDTQ  cũng  như  bệnh 

nhân nôn ói kéo dài. 

X quang phổi 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  viêm  phế 

quản phổi là hình ảnh tổn thương gặp chủ yếu 

trên  X  quang  phổi  chiếm  đến  81,1%;  kế  đến  là 

viêm  phổi  thùy  chiếm  16,3%;  viêm  phổi  mô  kẻ 

chiếm 2,6%. X quang phổi là xét nghiệm cơ bản 

để  chẩn  đoán  xác  định  viêm  phổi,  nhưng  lại 

không giúp phân biệt được tác nhân gây bệnh(12). 

Chúng  tôi  ghi  nhận  tỷ  lệ  phần  trăm  trẻ  có  X 

quang có tổn thương hai bên chiếm đa số 60,7%; 

tổn  thương  phổi  phải  chiếm  23%;  tổn  thương 

phổi  trái  chiếm  16,3%.  Trong  đó  28  trẻ  có  xẹp 

phổi chiếm 14,3%. 

Điều trị 

Hiệu quả điều trị về lâm sàng 

Bảng 4: So sánh tần suất các triệu chứng trước và 

sau điều trị 

Triệu

chứng

Trước điều trị

KS và chống

TN

Sau điều trị

KS và chống TN P

n =

196 %

n =

196 %

Nôn trớ 178 90,8 63 32,1 P < 0,05

P = 0,046

2= 6,14

Khàn tiếng 25 12,7 0 0 P < 0,05; 2= 26,7

Co lõm

Quấy khóc

Như vậy sau điều trị kháng sinh kết hợp với 

Omeprazole  ±  Domperidone  chúng  tôi  nhận 

thấy các triệu chứng hô hấp, tiêu hóa, thần kinh 

đều  giảm  rõ  rệt,  sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa 

thống kê. 

Điều trị chống trào ngược 

Chúng  tôi  giải  thích  cho  thân  nhân  về  cách 

chăm sóc, tư thế trẻ nằm, chế độ dinh dưỡng và 

các bước  điều  trị,  hướng  dẫn  theo  dõi  các  triệu 

chứng nặng. 

196 trẻ được uống omeprazole 1mg/kg/ngày, 

1 lần trước ăn sáng 30 phút. 

Trong 196 trẻ, có 161 trẻ (chiếm 82,2%) uống  domperidone 0,25 mg/kg/lần * 4 lần/ngày trước 

bú  30  phút;  15  trẻ  (chiếm  7,6%)  uống  domperidone  được  một  thời  gian  rồi  ngưng  vì  trẻ bị tiêu chảy; 12 trẻ (chiếm 6,1%) không uống  domperidone  từ  đầu  vì  bị  tiêu  chảy  khi  nhập  viện,  khi  hết  tiêu  chảy  cho  trẻ  uống  domperidone;  8  trẻ  (chiếm  4,1%)  không  uống  domperidone vì bị tiêu chảy khi nhập viện, sau  khi hết tiêu chảy trẻ không còn ói hoặc ói ít.  

Kết quả điều trị kháng sinh 

KS  lần  1  chiếm  tỷ  lệ  sử  dụng  cao  nhất  là  Cephalosporin thế hệ 3 chiếm 66,9%; Cefotaxim  +  Gentamixin  chiếm  18,9%;  Ceftriaxon  +  Gentamixin chiếm 5,1%; Ceftazidime + amikacin  chiếm  0,5%;  Ciprofloxacin  chiếm  5,6%;  Pefloxacin ± amikacin chiếm 3%. 

Sau khi sử dụng KS lần 1, có 62 trẻ  (31,6%)  kém đáp ứng điều trị. Trong số 62 trẻ kém đáp  ứng với điều trị có 14 trẻ được phân lập vi trùng  nhưng kết quả trả về tất cả đều âm tính nên tiếp  tục điều trị theo kinh nghiệm 2. 

Kháng sinh lần 2 (theo kinh nghiệm 2) được 

sử dụng nhiều nhất là nhóm Quinolones chiếm  61,3%,  trong  đó  Ciprofloxacin  chiếm  53,2%;  Pefloxacin  +  amikacin  chiếm  6,5%;  Pefloxacin  +  Vancomycin chiếm 1,6%. Kế đến là Ceftazidime  chiếm  11,3%;  Imipenem  chiếm  11,3%;  Cefepim  chiếm 9,7%. Trong lựa chọn KS lần 2, các KS chủ  yếu hướng đến tác nhân Gram âm đa kháng do  nhiễm  trùng  bệnh  viện,  hoặc  phế  cầu  kháng 

thuốc hoặc Staphycoccus aureus. 

Có 12 trẻ (chiếm 19,4%) viêm phổi chưa cải  thiện được đổi KS lần 3. KS được lựa chọn chủ  yếu trên vi khuẩn Gram âm đa kháng, tụ cầu, vi  khuẩn kỵ khí và vi khuẩn không điển hình. KS  được chọn cao nhất là Ceftazidime và Imipenem  phối hợp Vancomycin. 

Trong  số  62  trẻ  thất  bại  điều  trị  có  21  trẻ  (chiếm  33,9%)  thuộc  nhóm  điều  trị  chống  TN  sớm; có 41 trẻ (chiếm 66,1%) thuộc nhóm điều trị  chống  TN  muộn.  Sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê  (P  <  0,05;  2=  62,08).Như  vậy,  nhóm 

Trang 6

được  điều  trị  chống  TN  sớm  có  tỷ  lệ  thất  bại 

điều trị thấp. 

Thời gian nằm viện 

Thời gian nằm viện trung bình là 13,6 ngày, 

ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 34 ngày. 

Nhóm  trẻ  được  điều  trị  chống  TN  sớm  có 

thời gian điều trị trung bình là 11,6 ngày. 

Nhóm trẻ được điều trị chống TN muộn có 

thời gian điều trị trung bình là 18,7 ngày. 

Sự khác biệt về thời gian điều trị giữa nhóm 

điều  trị  chống  TN  sớm  và  điều  trị  chống  TN 

muộn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05; Ftest).Như 

vậy, trẻ viêm phổi nặng được chẩn đoán và điều 

trị  sớm  TNDDTQ  thì  rút  ngắn  được  thời  gian 

điều trị. 

KẾT LUẬN 

Kết  quả  nghiên  cứu,  trẻ  từ  2‐5  tháng  tuổi 

chiếm  đa  số  59,7%;  bệnh  hay  gặp  ở  nam:  tỷ  lệ 

nam/nữ là 1.97/1; lý do nhập viện nhiều nhất là 

ho và khò khè chiếm 88,3%; triệu chứng tiêu hóa 

hàng đầu trên trẻ viêm phổi có TNDDTQ là nôn 

trớ, biếng ăn; có  9,2%  trẻ  không  có  triệu  chứng 

nôn  trớ  nhưng  vẫn  có  hình  ảnh  TNDDTQ  trên 

siêu  âm;  viêm  phế  quản  phổi  là  hình  ảnh  tổn 

thương  gặp  chủ  yếu  trên  X  quang  chiếm  đến 

81,1%,  kế  đến  là  viêm  phổi  thuỳ  chiếm  16,3%, 

viêm phổi mô kẽ chỉ chiếm 2,6%; có 92,9% siêu 

âm  lần  1  phát  hiện  TNDDTQ;  có  7,1%  siêu  âm 

lần 2 mới phát hiện TNDDTQ; kháng sinh lần 1 

sử  dụng  nhiều  nhất  là  Cephalosporin  thế  hệ  3 

chiếm  66,9%;  Cephalosporin  thế  hệ  3  + 

Aminoglycosides chiếm 24,5%; kháng sinh lần 2 

sử dụng nhiều nhất là nhóm Quinolones chiếm 

61,3%,  kế  đến  là  Ceftazidime  chiếm  11,3%; 

Imipenem chiếm 11,3%; Cefepim chiếm 9,7%; có 

95,9% trẻ sử dụng Omeprazole + Domperidone; 

có 4,1% chỉ sử dụng Omeprazole; tỷ lệ trẻ điều 

trị chống trào ngược muộn có nguy cơ trở nặng 

và phải thở oxy cao hơn nhóm trẻ được điều trị 

chống trào ngược sớm; nhóm điều trị chống TN 

sớm có thời gian điều trị trung bình là 11,6 ngày; 

nhóm điều trị chống TN muộn có thời gian điều  trị trung bình là 18,7 ngày. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

1 Cabrera  J,  Subbarao  G,  Croffie  J  (2012),  “Diagnostic  testing  and  management  of gastroesophageal  reflux disease  (GERD) 

in children”, Minerva Pediatr; 64(6): pp. 94‐585.  

2 Carroll  MW,  Jacobson  K  (2012),  “Gastroesophageal  reflux disease  in children and  adolescents:  when  and  how  to 

treat”, Paediatr Drugs; 14(2):79‐89.  

3 Ewig  S,  Papassotiriou  J,  Kunde  J,  et  al  (2009).”Inflammatory  parameters  predict  etiologic  patterns  but  do  not  allow  for  individual prediction of etiology in patients with CAP: results  from  the  German  competence  network  CAPNETZ.  Respir  Res. 10:65. 

4 Tạ Thị Ánh Hoa (1998), “C‐reactive protein (CRP)”, Miễn dịch  lâm sàngtrẻ em; tr. 71 ‐77. 

5 Jain  DL,  Sarathi  V,  Jawalekar  S  (2013),  “Predictors  of  Treatment  Failure  in  Hospitalized Children (3‐59  months) 

with  Severe  and  Very  SeverePneumonia”,  Indian  Pediatr. 

50(8): 787‐789 

6 Lodha  R,  Kabra  SK,  Pandey  RM  (2013),  “Antibiotics  for  community‐acquired pneumonia in  children”,  Cochrane  Database Syst Rev; 6:CD004874. 

7 Monzani  A  and  Oderda  G  (2010),  “Delayed‐release  oral  suspension  of  omeprazole  for  the  treatment  of  orosive  esophagitis  and  gastroesophageal  reflux  disease  in  pediatric 

patients:  a  review”,  Clinical and Experimental Gastroenterology, 

3; pp. 17‐25.  

8 Huỳnh Văn Nên (1999) “Các biện pháp giúp hạ tử vong do 

viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi tại tỉnh An Giang”. Luận án bác sỹ  chuyên khoa II, Đại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh; tr. 49‐98. 

9 Pace  F,  Riegler  G,  Leone  A,  et  al  (2011),  “Gastroesophageal  Reflux  disease  management  according  to  contemporary 

international  guidelines:  A  translational  study”,  World  JGastroenterol, 17(9); pp. 6‐1160. 

10 Patwari  AK  (2012),  “Risk  factors  for  mortality 

in children hospitalized  with pneumonia”,  Indian  Pediatr; 

49(11): pp.70‐869.  

11 Samransamruajkit R, Hiranrat T, Chieochansin T, Prapphal N  (2008).  “Prevalence,  clinical  presentations  and  complications 

among hospitalized children with influenza pneumonia”. Jpn. 

J. Infect. Dis, 61; pp. 446‐449. 

12 Trần Văn Tiến (1999), “Chẩn đoán Xquang trẻ em, Phổi và lồng  ngực”, Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; tr. 55‐63. 

13 Vandenplas  Y  (2013),  “Challenges  in  the  diagnosis 

of gastroesophageal  reflux disease  in  infants  and children”, 

Expert Opin Med Diagn; 7(3): 98‐289.  

14 World Heath Organization (2006), “Pneumonia the forgotten  killer of children” from: http://www.who.com

  Ngày nhận bài báo: 30/10/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

Ngày đăng: 21/01/2020, 00:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w