1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng siêu âm trước mổ tạo dò động tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo ở bệnh nhân đái tháo đường

9 126 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 470,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu thực hiện những mục tiêu sau: Ứng dụng siêu âm mapping đánh giá mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường suy thận mạn giai đoạn cuối trước mổ AVF; kết quả của siêu âm trước mổ so với kết quả mổ. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

ĐỂ CHẠY THẬN NHÂN TẠO Ở BN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 

Trần Văn Nhật*, Kha Ngọc Kim Châu**, Trần Thị Bích Hương**,*** 

TÓM TẮT 

Mở  đầu  và  mục  tiêu:  [1]  Ứng  dụng  siêu  âm  mapping  đánh  giá  mạch  máu  ở  bệnh  nhân  (bn)  đái  tháo 

đường (ĐTĐ) suy thận mạn giai đoạn cuối trước mổ AVF, [2] Kết quả của siêu âm trước mổ so với kết quả mổ. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, tiền cứu tiến hành tại bệnh viện Chợ Rẫy 

trong thời gian từ tháng 9/2012 đến 4/2013. Siêu âm mapping hệ thống động mạch (ĐM) và tĩnh mạch (TM)  chi trên được tiến hành theo quy trình thống nhất (đo đường kính trước sau mạch máu, lưu lượng máu qua 

ĐM, khoảng cách TM đến da được đo qua nhiều lát cắt siêu âm từ cổ tay, cẳng tay, cánh tay cho đến chỗ đổ vào 

TM trung tâm) ở 39 bn trưởng thành ĐTĐ suy thận mạn giai đọan cuối và có chỉ định mổ tạo dò động tĩnh  mạch để chạy thận nhân tạo định kỳ,  

Kết quả: Trong 39 bn được làm siêu âm mapping mạch máu, 34 bn tiến hành ở tay không thuận (tay trái) 

và 5 bn ở tay phải. Qua siêu âm, 36/39 bn có mạch máu phù hợp với mổ AVF và 32/36 TH được chọn vùng cổ  tay (vùng 1). Ngoại trừ 2 bn bị tắc ĐM được chuyển làm thẩm phân phúc mạc, 1 bn TM có nhiều van kèm xơ  vữa ĐM được chuyển làm PTFE graft, 8 bn từ chối mổ, 28 bn được mổ AVF. Chỉ có 1 bn bị thất bại nguyên  phát. Sau xuất viện 3 tháng, 20 bn trả lời điện thoại của chúng tôi, cho biết 7 bn có AVF chạy thận nhân tạo tốt, 

1 bn đặt PTFE graft hoạt động tốt, 9 AVF chưa xác định (8 chưa chạy TNT, mặc dù vẫn còn rù tốt và 1 bn tử  vong trước dùng AVF), 3 bn thất bại nguyên phát phải mổ lại. 

Kết luận: Siêu âm mapping trước mổ cung cấp nhiều thông tin quan trọng hỗ trợ cho việc đảm bảo thành 

công của mổ AVF ở bn ĐTĐ suy thận mạn giai đọan cuối. 

Từ khóa: Siêu âm mapping, tạo dò động tĩnh mạch, thận nhân tạo, đái tháo đường 

ABSTRACT 

 ULTRASOUND VASCULAR MAPPING BEFORE HEMODIALYSIS ARTERIOVENOUS FISTULA 

PLACEMENT IN DIABETIC PATIENTS 

Tran Van Nhat, Kha Ngoc Kim Chau, Tran Thi Bich Huong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 104 ‐ 112 

Backgroud  and  objectives: [1] Prospectively using ultrasound for mapping the extremity vessels before 

hemodialysis  vascular  access  placement  in  diabetic  patients,  [2]  To  compare  the  result  of  ultrasound  and  of  postoperative AV fistula. 

Materials and Methods: A prospective, cross sectional study was conducted from September 2012 to April 

2013 at Cho Ray Hospital. Vascular mapping both arterial and venous systems of an chosen arm was done by  protocol  (the  anteroposterior  vessel  diameters,  the  arterial  blood  flow,  and  the  venous  to  skin  distances  were  measured by multiple ultrasound sections through the forearm, mid forearm, upper arm to the central vein) at 39  diabetic kidney disease patients, who had indication of AVF placement for hemodialysis.  

Results: The ultrasound mapping was done in 39 adult diabetic patients, in which, 34 cases in no dominant 

arms (left) and 5 in dominant (right) arms. By ultrasound 36/39 patients were evaluated as acceptable vessels 

Trang 2

with the majority (32/36) of zone 1 (forearm) for AVF. Except 2 patients with arterial occlusion transferred to  peritoneal  dialysis,  1  patient  with  multiple  valvular  vein  and  severe  arteriosclerosis  changed  to  PTFE  graft,  8  patients refused to operate, 28 patients received AVF placement. Early primary failure occurred only in 1 patient.  Three months after discharge, 20 patients response to our calls, 7 patients had successful AVF on dialysis, one  with successful PTFE graft, 9 undetermined AVF functions (1 died before AVF used, others not start dialysis,  but persistent thrilled AVF), 3 primary AVF failure readmitted to repair. 

Conclusion: Preoperative vessel ultrasound mapping provide multiple necessary information for vascular 

access preparation in diabetic patients. 

Key words: Ultrasound mapping, arteriovenous fistula, hemodialysis, diabetes 

MỞ ĐẦU 

Đường lấy máu (vascular access)  được  xem 

như  “con  đường  sống”  hoặc  “gân  gót  Achille” 

của  bn  chạy  thận  nhân  tạo  định  kỳ.  Cho  đến 

nay, theo khuyến cáo của KDOQI 2006(0) đường 

dò  động  tĩnh  mạch  (ArterioVenous  Fistula: 

AVF) là đường lấy máu vĩnh viễn được ưu tiên 

lựa chọn hàng đầu để chạy thận nhân tạo định 

kỳ, vì những ưu điểm như khả năng thành công 

cao, ít nhiễm trùng, ít biến chứng huyết khối, và 

ít  cần  nhập  viện,  và  có  thời  gian  sử  dụng  kéo 

dài(0,0,0).  Việc  tăng  biến  chứng  nhiễm  trùng, 

thuyên  tắc  và  chi  phí  cao  làm  cho  mảnh  ghép 

PTFE (PolyTetraFluoroEthylene graft) trở thành 

lựa chọn thứ 2, một khi bn không thể tạo AVF. 

Những  tổn  thương  động  mạch  (như  xơ  mỡ 

động  mạch,  tăng  huyết  áp  gây  hẹp  lòng  động 

mạch), và tổn thương tĩnh mạch gây ra do tiêm 

chích  nhiều  lần  (như  xơ  hóa  tĩnh  mạch,  huyết 

khối  tĩnh  mạch)  thường  gặp  ở  các  bệnh  nhân 

(bn) đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì, làm 

ảnh  hưởng  lên  kết  quả  của  việc  mổ  AVF(0,4,0). 

Mục  tiêu  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  (1)  Sử 

dụng siêu âm mapping đánh giá mạch máu ở bn 

đái  tháo  đường  suy  thận  mạn  giai  đoạn  cuối 

trước mổ AVF, (2) Kết quả của siêu âm trước mổ 

so với kết quả mổ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu  

Nghiên  cứu  tiền  cứu  và  mô  tả  cắt  ngang, 

chọn mẫu nghiên cứu thuận lợi, liên tục 

Đối tượng nghiên cứu  

Các bệnh nhân trên 18 tuổi nhập khoa Thận,  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy,  trong  thời  gian  từ  tháng  9  năm  2012  đến  tháng  4  năm  2013.  Các  bn  chẩn  đoán  đái  tháo  đường  (ĐTĐ)  và  suy  thận  mạn  giai đoạn cuối có chỉ định điều trị thay thế thận, 

và  chưa  mổ  tạo  dò  động  tĩnh  mạch.  Đái  tháo  đường  ở  bn  suy  thận  mạn  giai  đọan  cuối  được 

định  nghĩa  khi  bn  đã  được  chẩn  đoán  đái  tháo  đường trong tiền căn, kèm hoặc không kèm cần  dùng thuốc hạ đường huyết.  

Tiêu chuẩn loại trừ 

Các  bn  suy  thận  mạn  giai  đọan  cuối  không  do 

hoặc không kèm ĐTĐ. 

Quy trình nghiên cứu 

Các bn được hỏi bệnh sử, tiền căn và khám  lâm  sàng,  đề  nghị  cận  lâm  sàng  theo  mẫu  nghiên  cứu  thống  nhất.  BS  lâm  sàng  dựa  vào  việc  khám  lâm  sàng,  làm  nghiệm  pháp  Allen  đánh  giá  tình  trạng  động  mạch,  và  kết  quả  hình  dạng  và  phân  bố  hệ  thống  tĩnh  mạch  2  tay để chọn ra 1 tay làm siêu âm mapping. Bn  được tiến hành siêu âm Doppler theo  hẹn  với  cùng  1  bác  sĩ  siêu  âm  tại  khoa  Siêu  âm,  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy  bằng  máy  siêu  âm  ALOKA  Prosound α6 đầu dò Linear 7.5 MHz. Kết quả  siêu  âm  được  trả  lời  qua  2  bảng  (1)  bảng  vẽ  bản đồ của hệ thống ĐM và TM, cùng chi tiết  (mapping  động  tĩnh  mạch)  và  (1)  bảng  trả  lời  kết quả với các chỉ số đo của ĐM và TM.  

Trang 3

Khảo sát hệ thống động mạch tay 

Theo  hướng  từ  ĐM  cánh  tay  ở  vùng  cánh 

tay  đến  ĐM  quay  tại  cổ  tay  bằng  B  mode.  Đo 

đường kính lòng ĐM tại các vị trí như ĐM quay 

tại  cổ  tay,  tại  đoạn  cuối  động  mạch  cánh  tay. 

Đường kính ghi nhận là số đo trung bình của 2 

lần  đo  tại  các  vị  trí  này.  Đường  kính  ĐM  nhỏ 

nhất  vẫn  có  thể  mổ  AVF  là  2mm  ở  vùng  cẳng 

tay và 3mm ở vùng cánh tay.  

Khảo sát lưu lượng máu chảy trong ĐM 

Phổ màu siêu âm duplex được ghi nhận tại 

đoạn  cuối  ĐM  cánh  tay,  và  ĐM  quay  vùng  cổ 

tay.  Phổ  động  mạch  được  xem  là  bình  thường 

khi có dạng 2 pha hoặc 3 pha. ĐM trụ cũng được 

đánh giá tại vùng cẳng tay bằng B mode và bằng 

duplex. Nếu ĐM trụ tắc 1 phần hoặc hoàn toàn 

là  chống  chỉ  định  mổ  AVF  tại  tay  này  vì  tăng 

nguy cơ thiếu máu cục bộ của tay sau mổ. 

Khảo sát hệ thống tĩnh mạch nông tay 

Sau  khi  làm  garô  ở  1/3  trên  cánh  tay,  hệ 

thống tĩnh mạch nông được khảo sát bởi mặt cắt 

ngang bằng B mode đường kính lòng tĩnh mạch 

từ cổ tay, đến vùng nách với từng đợt đè ép đầu 

dò vào tĩnh mạch. TM đầu được khảo sát tại các 

vùng:  cổ  tay,  giữa  cẳng  tay,  khuỷu  tay,  dưới 

cánh tay, giữa cánh tay đến nơi TM đầu đổ vào 

TM  dưới  đòn.  TM  nền  được  khảo  sát  từ  vùng 

khuỷu tay đến nơi TM này đổ vào TM cánh tay 

và được khảo sát tại vùng cẳng tay nếu TM đầu 

vùng này không thích hợp.  

Đo khoảng cách từ da đến TM: tại vùng cổ tay, 

vùng  giữa  cẳng  tay,  vùng  khuỷu.  Khoảng  cách 

da thích hợp để mổ AVF (không cần nông hóa) 

là 6mm. 

Các  định  nghĩa  về  siêu  âm  dùng  trong 

nghiên cứu(3,4,0,13) 

Đường kính trước sau ĐM (Anterioposterior 

(AP) diameter (mm)): trung bình cộng của 2 lần 

đo ở thì tâm thu ở mặt cắt ngang và dọc ĐM. Đo 

từ lớp nội mạc đến lớp nội mạc ĐM  

Lưu  lượng  máu  ĐM  (arterial  blood  flow)(ml/ph) tính bằng công thức 

Q = TAMV x S x 60 (với Q: Lưu lượng dòng  chảy;  đơn  vị  là  ml/phút,  TAMV:  Tốc  độ  dòng  chảy trung bình theo thời gian; đơn vị là cm/s, S:  Diện tích cắt ngang lòng mạch; đơn vị cm2) 

Đường kính trước sau tĩnh mạch nông (mm): 

đo sau buộc garô 1/3 trên cánh tay, đo ở mặt cắt  ngang, đo từ lớp nội mạc đến lớp nội mạc TM,  không ép mạnh đầu dò khi đo và sử dụng  chế 

độ zoom  

Đo khoảng  cách  da  của  TM  (mm):  đo từ bề 

mặt  da  đến  lớp  ngoại  mạc  TM  và  sử  dụng  chế 

độ  zoom  Thành  mạch  bình  thường  về  siêu  âm: 

khi thấy rõ 3 lớp: (1) Lớp trong cùng màu xám  giảm âm là ranh giới giữa dòng chảy và lớp nội  mạc, (2) Lớp giữa tăng âm là ranh giới giữa lớp  nội  mạc  và  lớp  cơ,  (3)  Lớp  ngoài  giảm  âm  gần  như  trống  âm  là  ranh  giới  giữa  lớp  cơ  và  lớp  ngoại mạc.  

Mảng  xơ  vữa  động  mạch:  Lớp  cơ  dày  ra  và 

tăng  đậm  trong  khi  bờ  trong  lòng  mạch  không 

rõ nét, bờ không đều và vôi hóa từng lớp.  

Huyết khối: Khối tăng âm trong lòng mạch, 

đè  ép  không  xẹp  và  không  thay  đổi  hình  ảnh  trước và sau khi đè ép. Không bắt màu và không  bắt phổ trên siêu âm Doppler 

Tắc  động  mạch:  dựa  vào  (1)  Dấu  hiệu  trực 

tiếp:  không  có  tín  hiệu  dòng  chảy  trên  siêu  âm  Doppler ở tại vị trí tắc mạch, (2) Dấu hiệu gián  tiếp trước chỗ tắc: tăng các chỉ số sức cản (RI) do  giảm  dòng  chảy  liên  tục  thì  tâm  trương,  dấu  hiệu  này  nhạy  khi  mới  tắc,  nếu  có  tuần  hoàn  bàng hệ thì độ nhạy giảm, (3) Dấu hiệu gián tiếp  sau  chỗ  tắc:  khi  không  có  tuần  hoàn  bàng  hệ  không  có  tín  hiệu  dòng  chảy  trên  siêu  âm  Doppler. Khi có tuần hoàn bàng hệ thì tùy thuộc  vào hệ thống tuần hoàn bàng hệ nhiều hay ít mà  dòng  chảy  bị  thay  đổi  nhiều  với  chỉ  số  sức  cản  (RI) giảm, giảm lưu lượng dòng chảy (Q).  

Hẹp  Động  mạch  dựa  vào  (1)  Dấu  hiệu  trực 

tiếp: Có 2 dấu hiệu chính trên siêu âm Doppler 

Trang 4

vận tốc đỉnh tâm thu tăng cao (PSV:Peak systolic 

velocity), trở kháng thấp (RI: resistant index); (2) 

Dấu hiệu gián tiếp: (a) Trước hẹp: Chỉ số sức cản 

tăng (RI tăng), (b) Sau hẹp: phổ Doppler có dạng 

đơn pha, vận tốc và kháng lực giảm (RI giảm). 

TM  cong:  đường  đi  của  tĩnh  mạch  thay  đổi 

hướng liên tục, khó thấy được trọn vẹn 1 đoạn 

tĩnh mạch trên 1 lát cắt siêu âm. 

Vùng  mạch  máu  (zone)  được  chọn  để  mổ 

AVF: Vùng mạch máu được BS siêu âm chọn để 

mổ sẽ dựa vào đường kính tối thiểu của TM là 

2,5mm khi có dùng dây thắt và đường kính ĐM 

là  2mm.  Ngoài  ra,  TM  đó  sẽ  không  bị  hẹp,  ít 

phân  nhánh,  ít  có  van  tĩnh  mạch  hoặc  huyết 

khối  từ  chổ  dự  kiến  mổ  AVF  đến  ở  thượng 

nguồn,  nơi  đổ  vào  TM  dưới  đòn.Tên  các  vùng 

được  đánh  số  theo  thứ  tự  ưu  tiên  như  zone  1: 

vùng tạo dò ĐM quay ‐ TM đầu tại cổ tay, vùng 

2: nơi tạo dò ĐM cánh tay ‐ TM đầu, Vùng 3: nơi 

tạo dò ĐM cánh tay ‐ TM nền. 

Đánh  giá  kết  quả  mổ  tạo  dò  động  tĩnh 

mạch (ArterioVenous Fistula: AVF)[3,14] 

[1] AVF thành công, nếu AVF vẫn hoạt động 

tốt và đủ để chạy TNT ít nhất 6 lần, hoặc sau 3 

tháng  sau  mổ;  [2]  AVF  thất  bại  nguyên  phát 

(primary  failure):  khi  AVF  không  hoạt  động 

ngay  sau  mổ  hoặc  không  trưởng  thành  sau  3 

tháng mổ; [3] AVF thất bại thứ phát (secondary 

failure):  AVF  không  còn  hoạt  động  sau  hơn  3 

tháng  đã  hoạt  động  tốt  để  chạy  TNT  [4]  AVF 

không trưởng thành nếu vẫn không thể dùng để 

chạy TNT trong 6 tháng sau mổ mà không thấy 

sai  phạm  về  kỹ  thuật  mổ  hoặc  huyết  khối  sớm 

[5]  kết  quả  AVF  chưa  xác  định  (undeterminate) 

khi  AVF  chưa  được  dùng  đến  thời  điểm  chấm 

dứt  nghiên  cứu,  hoặc  mất  theo  dõi  trước  khi 

AVF được đánh giá. 

KẾT QUẢ 

Trong thời gian 6 tháng, chúng tôi tiến hành 

nghiên cứu ở 39 bn đái tháo đường, nhập khoa 

Thận  bệnh  viện  Chợ  Rẫy  để  điều  trị  thay  thế 

thận.  Khảo  sát  các  biến  số  đều  không  có  phân  phối  chuẩn  nên  chúng  tôi  trình  bày  dưới  dạng  trung vị và tứ phân vị. 

Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của 

nhóm nghiên cứu  

N=39 Chung N=39 N=24 Nam Nữ N=15

Thời gian bệnh đái tháo đường

(năm) (#) 10 (7,5; 10,5) 10 (5,5; 10) 10 (10; 14) Phù lúc nhập viện * (n,%) (58,97) 23 (54,16)13 (66,66) 10 Khám ghi nhận mất mạch quay

hoặc nghiệm pháp Allen dương tính (n,%)

Ghi chú: (^) tuổi nhỏ nhất 23 tuổi, lớn nhất 88 tuổi, (#)  thời gian mắc bệnh đái tháo đường ngắn nhất 1 năm và  lâu nhất 18 năm, (*) bao gồm 10 TH phù toàn thân, và 13 

TH phù 2 chân. 

Bảng 2. Đặc điểm cận lâm sàng lúc nhập viện 

Số TH HbA 1C ≤ 7% (n,%)

15/21 (71,42

%)

eGFR (MDRD)

Tĩnh mạch bất thường ở Venography *

3/30 (10%)

Ghi chú (*) 3 TH venography bất thường, trong đó, 1 TH  giả phình ĐM Cánh tay, 1TH mạch máu phong phú, 1 TH  giả phình ĐM quay. Hầu hết bn có đường huyết ổn định  lúc nhập viện. 

Kết quả siêu âm mạch máu 

Trong 39 bệnh nhân (bn) được tiến hành siêu 

âm  Doppler  và  mapping  mạch  máu,  với  34  (87,17%)  bn  tiến  hành  ở  tay  trái  và  5  bn  ở  tay  phải (bảng 3,4, 5) 

Trang 5

Số lượt Chung N=39

Số lượt siêu âm

P

Vùng cổ tay: ĐM quay

[13,55; 53,50]

26,45 [14,47; 47,92]

19,10

1TH tắc ĐM trụ và hẹp ĐM quay

Vùng khuỷu tay: ĐM cánh tay

[4,00; 5,00]

4,85 [4,25; 5,40]

4,20

[ 74,80; 147]

86,30 [66,20; 149]

98,00

Nhận  xét:  mọi  bn  nữ  đều  có  xơ  vữa  động 

mạch cánh tay và ĐM quay mặc dù không khác 

giữa 2 giới về HDL, LDL và Triglyceride. Đường 

kính ĐM quay và ĐM cánh tay của nữ nhỏ hơn  nam có ý nghĩa thống kê. 

Bảng 4. Kết quả siêu âm khảo sát hệ thống tĩnh mạch 

Đường kính trước sau TM đầu (trung vị, tứ phân vị) (n,%)

Số TH đường kính TM đầu

Số TH Đường kính TM đầu

Bảng 5. Kết quả khảo sát độ sâu của TM và bệnh lý TM 

Khỏang

cách da

Khoảng

cách da ≥

3mm (*)

Bệnh lý

TM

Ghi chú: (*) không có TH nào có khoảng cách da>6mm, chúng tôi ghi nhận 2 TH có TM sâu vì khoảng cách da ở mọi vị trí 

Trang 6

chúng  tôi  kết  luận  có  36  TH  có  mạch  máu  phù 

hợp  với  mổ  AVF  và  BS  siêu  âm  đã  chọn  vùng 

mổ như sau: 32 TH vùng cổ tay (vùng 1, zone 1), 

4 TH vùng khuỷu tay (vùng 2, zone 2) và 3 TH 

không  chọn  được  vùng.  Hai  TH  tắc  ĐM  quay, 

tắc  ĐM  trụ  và  xơ  mỡ  ĐM  được  hướng  dẫn 

chuyển sang làm thẩm phân phúc mạc định kỳ 

ngoại trú mà không mổ AVF để chạy TNT.  

Phẫu  thuật:  29  bn  được  phẫu  thuật,  với  28 

TH  mổ  AVF  và  1  TH  chuyển  đặt  graft  (TM  có 

nhiều  van,  ĐM  xơ  hóa).  Trong  đó,  23  TH  mổ 

AVF ở tay trái, 5 ở tay phải. Có 26 TH tay chọn 

để  mổ  trùng  với  tay  chọn  làm  siêu  âm.  Tất  cả 

đều dùng kỹ thuật nối tận bên. Vị trí được PTV 

chọn chủ yếu vẫn là ĐM quay‐ TM đầu (bảng 5). 

Về  phẫu  thuật  viên  (PTV)  mổ  AVF,  26  TH  do 

Phẫu thuật viên khoa Tiết Niệu mổ và 2 TH do 

phẫu thuật viên mạch máu mổ. Trong mổ, PTV 

ghi nhận 4 TH có ĐM xơ vữa, 2 TH TM xơ, và 2 

TH tĩnh mạch có huyết khối và được lấy huyết 

khối trong lúc phẫu thuật. Chỉ 1 TH dùng kháng 

đông  sau  mổ,  Tất  cả  28  TH  đều  có  thrill  ngay 

sau mổ và 24 giờ sau mổ. Một TH nhập viện lại 

sau 2 tuần vì AVF thất bại, tắc nguyên phát, mổ 

lại.  Như  vậy,  chúng  tôi  có  27/28  TH  mổ  thành 

công sớm. Nếu không nhờ siêu âm phát hiện 3 

TH mạch máu không thích hợp, tỷ lệ thành công 

của chúng tôi sẽ thấp hơn.  

Bảng 6. Đối chiếu vùng chọn trước mổ của BS siêu 

âm và vùng thực sự tiến hành mổ  

PTV Mổ AVF (N=28) tương ứng (N=28) Kết quả siêu âm

ĐM quay- TM đầu 21 (75%) 20 Zone 1, 1 không chọn được zone

ĐM cánh tay- TM đầu 5 (21,42%) 4 zone 1, 1 Zone 2

Sau  mổ,  chúng  tôi  liên  lạc  qua  điện  thoại 

được 20 TH đã xuất viện được khoảng 3 tháng, 

trong đó (1) 7 AVF thành công và hoạt động tốt 

với 4 TH chạy TNT 2 lần mỗi tuần và 3 TH chạy 

TNT 3 lần mỗi tuần, 1TH đặt graft hoạt động tốt 

(2) 3 AVF thất bại nguyên phát trong TNT, do 1 

TH  không  đủ  lưu  lượng  máu,  và  1  TH  hẹp 

đường về, 1 AVF tắc nguyên phát sau 2 tuần. (3) 

9  TH  chưa  xác  định  (với  8  AVF  đều  có  thrill,  nhưng bn chưa chạy TNT và 1 TH tử vong trước  dùng AVF)  

BÀN LUẬN 

Tỷ  lệ  dùng  đường  dò  động  ‐  tĩnh  mạch  (Arteriovenous Fistula, AVF) là đường lấy máu  vĩnh viễn thay đổi tùy từng quốc gia, như 24%  tại Mỹ, 80% tại Châu Âu. Tuy nhiên sau những  khuyến cáo của NKF‐KDOQI của Mỹ (National  Kidney  Foundation  Kidney  Disease  Outcome  Initiative)  năm  2006(0),  đến  năm  2009,  tỷ  lệ  mổ  AVF tại Mỹ đã tăng lên 66%(18). Tại Chợ Rẫy, tất 

cả bn chọn lựa TNT đều được làm AVF ban đầu.  Trong  nghiên  cứu  hồi  cứu  ở  7497  bn  suy  thận  mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ,  tại  279  trung  tâm  thận  nhân  tạo  của  Bắc,  Nam  Carolina  và  Georgia,  Mỹ(0),  bn  ĐTĐ  có  tỷ  lệ  tử  vong do nhiễm trùng catheter tăng gấp 10 lần so  với  nhóm  mổ  AVF.  Nếu  so  giữa  PTFE  graft  và  AVF  ở  bn  ĐTĐ,  tỷ  lệ  tử  vong  do  nhiểm  trùng  graft  cao  gấp  3,9  lần  so  với  nhiễm  trùng  AVF. 

Do  vậy,  tuy  mạch  máu  không  thích  hợp  song  AVF vẫn là chọn lựa đầu tiên ở bn ĐTĐ 

Sau mổ, AVF sẽ phát triển dần cho đến khi  trưởng  thành.  AVF  trưởng  thành  (mature)  và  sẵn sàng cho chạy TNT khi thỏa 2 yếu tố(0,0): (1)  cung cấp đủ máu (blood flow) cho chạy TNT và  (2) có cấu trúc thay  đổi  phù  hợp  với  việc  chích  nhiều lần. Ngay sau khi mổ, nếu lưu lượng máu  không  đủ,  AVF  không  thể  trưởng  thành,  còn  đánh giá AVF có phù hợp  với  việc  chích  nhiều  lần  chủ  yếu  dựa  vào  cảm  giác  chủ  quan,  kích  thước  AVF,  vị  trí,  hình  dáng  và  độ  sâu  AVF.  Thời gian 4 ‐ 6 tuần là cần thiết để AVF trưởng  thành.  Theo  Robbin(0),  khi  trưởng  thành  đường  kính  AVF  có  thể  đạt  45mm,  và  lưu  lượng  máu  sau  4  tuần  đạt  700ml/ph,  và  không  có  sự  thay  đổi của lưu lượng máu và đường kính AVF ở 2, 

3, 4 tháng sau mổ. Theo NKF‐K/DOQI(0) nguyên  tắc  số  6  của  AVF  tốt  dùng  cho  TNT  là:  đường  kính AVF trên 6 mm, lưu lượng máu chảy trên  600ml/ph, cách da không quá 0,6cm.  

Trang 7

Khoảng  55  ‐  60%  AVF  không  trưởng  thành 

hoặc không đạt chất lượng dùng cho thận nhân 

tạo,  nên  làm  gia  tăng  thời  gian  chờ  đợi  để  có 

đường lấy máu vĩnh viễn, đồng nghĩa với tăng 

nguy  cơ  nhiễm  trùng  và  tử  vong  do  catheter 

chạy  TNT(18).  AVF  chưa  được  dùng  hoặc  dùng 

không  hiệu  quả  trong  TNT  trong  3  tháng  đầu 

tiên sau mổ được gọi là AVF thất bại sớm (early 

failure)  hoặc  thất  bại  nguyên  phát  (primary 

failure)(0). Trong tổng số 428 AVF có kết quả theo 

dõi của nghiên cứu CIMINO tại Phần Lan(5), 56% 

AVF tại cẳng tay, tỷ lệ thành công AVF 60%, suy 

chức năng AVF nguyên phát 33%, thứ phát 10%, 

72%  bn  vẫn  phải  chạy  TNT  qua  catheter  trước 

khi mổ AVF. Với số liệu còn ít, thời gian theo dõi 

ngắn,  chúng  tôi  có  tỷ  lệ  thất  bại  nguyên  phát 

15% sau 2 ‐ 3 tháng. 

Nguyên nhân của AVF thất bại(3,0,0) được chia 

thành 2 nhóm: (a) Từ đường máu chảy vào AVF 

(inflow)  như  bất  thường  hệ  thống  động  mạch 

(ĐM nhỏ, xơ vữa ĐM), hoặc hẹp đoạn gần chỗ 

nối  của  AVF  (juxta  anastomosis)  và  (b)  Từ 

đường  máu  ra  khỏi  AVF  (outflow)  do  bất 

thường hệ tĩnh mạch (TM) như do TM nhỏ, TM 

xơ hóa do bị chích nhiều lần, hoặc TM có nhiều 

nhánh TM phụ. Siêu âm mapping trước mổ giúp 

dự đoán một số nguyên nhân gây AVF thất bại 

nguyên  phát  như  TM  nhỏ,  xơ  vữa  ĐM,  huyết 

khối ĐM, TM, xơ hóa TM, TM nhiều nhánh phụ. 

Theo  Allon  M (0),  việc  tiên  đoán  khả  năng  cần 

can  thiệp  thêm  sau  mổ  sẽ  quan  trọng  ở  những 

đối tượng có nguy cơ AVF thất bại sớm. Với siêu 

âm  mapping,  chúng  tôi  phát  hiện  2  TH  có  ĐM 

và  1  TH  TM  bị  tắc  và  chuyển  sang  làm  thẩm 

phân phúc mạc định kỳ ngoại trú. 

Theo nghiên cứu CIMINO (nghiên cứu kết 

hợp  đa  chuyên  khoa  để  tăng  thành  công  của 

mổ  AVF  (Multidisciplinary  approach  for 

Increase  of  Native  vascular  access 

Obtainment)(5),  ĐTĐ  làm  tăng  nguy  cơ  (HR 

1,66)  của  AVF  thất  bại  sớm  sau  mổ  lần  đầu. 

Như vậy, tạo AVF ở bn ĐTĐ dễ thất bại nhưng 

nếu được điều trị tích cực sớm, chức năng AVF 

kể vị trí mổ AVF, nên ĐTĐ không phải là yếu 

tố nguy cơ của AVF thất bại muộn. Về lâu dài,  thời  gian  sử  dụng  của  AVF  ở  bn  ĐTĐ  không  khác nhóm không ĐTĐ. Do vậy, nếu  bn  ĐTĐ  được  đánh  giá  tình  trạng  mạch  máu  đầy  đủ  trước  mổ,  hoặc  tiên  lượng  trước  mổ,  những  đối  tượng  này  sẽ  được  giải  thích,  theo  dõi  và  can  thiệp  sớm,  tích  cực  tình  trạng  suy  chức  năng sớm này.  

Về  vùng  chọn  mổ  AVF  để  chạy  TNT  định 

kỳ,  theo  NKF‐KDOQI(0),  trình  tự  khởi  đầu  từ  vùng cổ tay hoặc cẳng tay, nối động mạch quay 

và tĩnh mạch đầu (radiocephalic fistula), kế tiếp 

là  vùng  cánh  tay  (động  mạch  cánh  tay  ‐  tĩnh  mạch  đầu,  brachiocephalic  fistula),  thứ  ba  là  chuyển  vị  AVF  nối  động  mạch  cánh  tay  ‐  tĩnh  mạch  nền  hoặc  làm  graft  PTFE.  Tuy  nhiên  một 

số bn nữ, bn đái tháo đường, bn béo phì, và bn  trên  65  tuổi,  phẫu  thuật  viên  dể  bị  thất  bại  khi  tạo dò tại vị trí cổ tay. Trong một nghiên cứu(0)  cho thấy nếu tỷ lệ thành công ở vùng cẳng tay ở  nam  giới  45,7%,  nữ  giới  chỉ  là  6,7%.  Ngược  lại,  nếu di chuyển lên vị trí cao hơn thì tỷ lê thành  công  ở  nữ  giới  là  56,5%.  Xue  và  CS  trong  1  nghiên cứu cắt ngang tại Đài Loan(18), khảo sát tỷ 

lệ thành công của AVF vùng cẳng tay (nối động  mạch  quay  và  tĩnh  mạch  đầu)  ở  người  già  và  người đái tháo đường. Tỷ lệ thất bại cao nhất ở  nhóm bn trên 65 tuổi có đái tháo đường (28,6%), 

so  với  không  đái  tháo  đướng  (10,3%).  Tỷ  lệ  thành  công  tương  tự  ở  nhóm  trẻ  có  đái  tháo  đường  (91,9%)  so  với  không  đái  tháo  đường  (89,2%).  Không  có  sự  khác  biệt  về  lưu  lượng  máu  tại  AVF  giữa  người  đái  tháo  đường  và  không  đái  tháo  đường,  78%  bn  trên  65  tuổi  có  lưu  lượng  máu  qua  AVF  đạt  >400ml/ph  sau  2  tuần.  

Theo Brimble và CS(0), cho đến nay vẫn chưa 

có  xét  nghiệm  nào  đạt  đủ  các  tiêu  chuẩn  lý  tưởng  vừa  không  xâm  phạm,  rẻ  tiền,  dễ  tiến  hành, dễ lặp lại giúp tiên đoán kết quả trước mắt  ngay  sau  mổ,  và  lâu  dài  của  AVF.  NKF‐ K/DOQI(0)  khuyến  cáo,  việc  chụp  venography 

Trang 8

năng  thận  ở  những  bn  còn  chức  năng  thận  tồn 

lưu, trong khi siêu âm mapping không gây tổn 

thương  chức  năng  thận  này.  Siêu  âm  trước  mổ 

giúp  tiên  đoán  khả  năng  thành  công  của  AVF 

qua khảo sát đường kính và bệnh lý mạch máu. 

Theo Brimble KS và CS(0), đường kính tĩnh mạch 

đầu  ≤  2mm,  tiên  đoán  không  cung  cấp  đủ  lưu 

lượng để chạy TNT với độ đặc hiệu 0,97 và xác 

xuất thất bại gấp 3,7 lần. Nếu TM đầu có đường 

kính  >3,4mm,  có  độ  đặc  hiệu  0,99,  và  xác  xuất 

thành công cao gấp 7,97 lần. Kết luận này tương 

tự của Mendes và CS(0), không nên tiến hành mổ 

AVF vùng cổ tay nếu đường kính tĩnh mạch đầu 

≤  2mm.  Silva  MB(0)  cho  rằng  yêu  cầu  về  đường 

kính  tĩnh  mạch  thay  đổi  tùy  phương  pháp  mổ: 

nếu  là  AVF  cần  TM  có  đường  kính  ≥  2,5cm, 

trong khi với PTFE graft lại cần đường kính ≥4 

cm.  Trong  nghiên  cứu  hồi  cứu  298  trường  hợp 

mổ  AVF,  Lauvao  L  và  CS(0)  nhận  thấy  đường 

kính tĩnh mạch ≥ 4mm qua phân tích hồi quy đa 

biến,  là  biến  số  duy  nhất  còn  lại  quyết  định  sự 

thành  công  của  mổ  AVF,  bất  kể  vị  trí  mổ  nào. 

Khi tiến hành siêu âm mapping trước mổ hàng 

loạt  ở  mọi  trường  hợp,  Allon  M  và  CS(0)  nhận 

thấy chỉ có 2/3 nữ có mạch máu thích hợp để mổ 

AVF so với nam, vùng khuỷu tay thường được 

chọn để mổ ở nữ (64%) hơn nam (36%). Do vậy, 

AVF  trước  mổ  giúp  chọn  vùng  mổ  thích  hợp 

cho những đối tượng có nguy cơ dễ bị thất bại 

Theo NKF‐ K/DOQI(0), tĩnh mạch thích hợp cho 

tạo  AVF  có  đường  kính  ít  nhất  2,5cm,  và  động 

mạch  thích  hợp  phải  có  đường  kính  ít  nhất 

2mm.   

Kỹ  thuật  chúng  tôi  tiến  hành  từ  kỹ  thuật 

chuyển giao của nhóm siêu âm phẫu thuật mạch 

máu của bệnh viện Royal Alfred Prince, Đại học 

Sydney  Úc,  tương  tự  nhóm  nghiên  cứu  tại 

Canada và Anh(3). Thời gian chúng tôi tiến hành 

trung  bình  30‐60  phút  cho  1  tay  tùy  theo  tình 

trạng phức tạp của mạch máu, trình tự chúng tôi 

làm siêu âm hơi khác với của bệnh viện Đại Học 

Alabama,  Birmingham,  Mỹ(0).  Tại  đây,  bn  được 

làm  2  cẳng  tay  trước,  nếu  mạch  máu  không 

thích  hợp  vùng  cẳng  tay,  sẽ  siêu  âm  lên  một 

cánh  tay,  và  thời  gian  siêu  âm  20‐  45  phút  cho 

mỗi TH(0). Một trong những điểm quan trọng là  chúng  tôi  dùng  siêu  âm  cắt  dọc  theo  đường  đi 

TM, khảo sát sự toàn vẹn và không tắc hẹp của  toàn bộ đường đi của TM đầu từ cổ tay đến chỗ 

đổ vào hệ thống TM sâu. Hình chụp TM có cản  quang cũng hỗ trợ cho việc đánh giá này nhưng  thường hình chỉ lấy đến 1/3 trên cánh tay. NKF‐ KDOQI(0)  khuyến  cáo  để  đảm  bảo  cho  AVF  trưởng  thành  nên  chọn  những  TM  chính,  có  đường  kính  thích  hợp  và  không  bị  tắc  hẹp  đường về. 

Các tác giả vẫn chưa thống nhất về việc tiến  hành  siêu  âm  mapping  ở  mọi  bn  trước  mổ.  Trong nghiên cứu ngẫu nhiên, có chứng, không 

mù,  so  sánh  mẫu  nhỏ,  kết  quả  mổ  AVF  của  2  nhóm có và không làm siêu âm trước mổ không  khác nhau, khiến Nursal IZ(0) khuyến cáo không  nên  tiến  hành  siêu  âm  mapping  ở  mọi  bn.  Tuy  nhiên,  tác  giả  cũng  ghi  nhận  siêu  âm  giúp  làm  thay  đổi  chương  trình  dự  định  mổ  trong  10%  trường  hợp,  và  cho  rằng  siêu  âm  mapping  vẫn 

có giá trị ở những nơi áp lực công việc cao, nơi  không có, hoăc không thể thăm khám lâm sàng  đúng  quy  cách.  Ferring  M  và  CS  nghiên  cứu  mẫu lớn hơn(3), so sánh ngẫu nhiên 2 nhóm: làm  siêu âm (112 bn) và không làm siêu âm mapping  trước mổ (106 bn) về kết quả sớm và lâu dài sau 

mổ AVF (trung bình 40 tháng). Khi so với nhóm  không  siêu  âm,  nhóm  được  làm  siêu  âm  trước 

mổ ít bị suy chức năng AVF tức thì (3,6% so với  11,3%), ít bị huyết khối AVF (38% so với 67%) và  đời sống AVF kéo dài hơn (65% so với 56%, còn  hoạt  động  sau  1  năm,  không  ý  nghĩa).  Tuy  nhiên,  tác  giả  cho  rằng  không  cần  siêu  âm  mapping ở bn trẻ tuổi, không đái tháo đường và  thăm  khám  lâm  sàng  mạch  máu  bình  thường.  Trong nghiên cứu CIMINO(5), tỷ lệ làm siêu âm  mapping trước mổ thay đổi tùy từng trung tâm  khoảng 62% (từ 50‐82%) tại Netherland. Hầu hết  các  tác  giả  đều  thống  nhất  với  việc  tiến  hành  siêu âm mapping ở bn ĐTĐ là đối tượng chúng  tôi chọn(3,5,0). 

Siêu âm mapping trước mổ làm cải thiện tỷ 

lệ  thất  bại  sớm  của  mổ  AVF  từ  38%  còn 

Trang 9

8%(0).Siêu  âm  làm  thay  đổi  dự  tính  nối  mạch 

máu của phẫu thuật viên trong 31% trường hợp, 

giúp  51%  bn  được  đánh  giá  mạch  máu  tốt  để 

làm AVF thay vì đặt graft, cũng tăng số bn được 

mổ  AVF  vùng  cẳng  tay  hơn  vùng  cánh  tay  để 

dự trữ hệ thống mạch cánh tay khi AVF ban đầu 

thất  bại(0).  Nhờ  có  siêu  âm  mapping,  nên  phẫu 

thuật  viên  tự  tin  hơn  trong  việc  đánh  giá  hệ 

thống tĩnh mạch, giảm thiểu thời gian thám sát 

mạch máu nhất là ở bn béo phì, đái tháo đường, 

giảm tỷ lệ đánh giá thất bại của phẫu thuật trước 

mổ từ 11% còn 0%. 

 Nghiên cứu của chúng tôi có nhiều hạn chế 

[1]  số  lượng  bn  theo  dõi  kết  quả  và  thời  gian 

theo dõi còn ngắn nên đánh giá chưa đầy đủ, [2] 

việc chọn vị trí mổ AVF vẫn còn tính tham khảo 

cho  PTV(3).  Đánh  giá  kết  quả  mổ  AVF  chủ  yếu 

dựa vào AVF vẫn dùng được cho chạy TNT mà 

không đánh giá lại bằng siêu âm hoặc đánh giá 

qua lưu lượng máu rút ra lúc chạy TNT. 

KẾT LUẬN  

Qua  nghiên  cứu  trên  39  bn  đái  tháo  đường 

type 2 suy thận mạn giai đoạn cuối có chỉ định 

điều  trị  thay  thế  thận,  siêu  âm  mapping  trước 

mổ  ở  đối  tượng  đặc  biệt  này  giúp  chẩn  đoán 

bệnh lý ĐM và TM trước mổ, hỗ trợ thêm chi tiết 

về giải phẫu bệnh và chức năng của ĐM và TM 

giúp chọn lựa vị trí mổ thích hợp và hạn chế thất 

bại trong mổ AVF ở bn đái tháo đường. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Beathard  GA  (2005).  An  Algorithm  for  the  physical 

examination of early fistula failure. Seminars in Dialysis 18:331‐

5. 

2 Brimble  K.S  RCG,  Schiff  D.,  Ingram  A.  (2001).  The  clinical 

uitility  of  Doppler  ultrasound  prior  to  arteriovenous  fistula 

creation. Seminars in Dialysis 14:314‐7. 

3 Ferring  M.  CM,  Smith  SA,  Wilmink  T.  (2010).  Routine 

Preoperative Vascular Ultrasound Improves Patency and Use 

of  Arteriovenous  Fistulas  for  Hemodialysis:  A  Randomized 

Trial. Clin J Am Soc Nephrol 5:2236‐44. 

4 Hardshome  T  (2010)  in  Thrush  A,  Vascular  Ultrasound, 

Churchill LivingStone Elsevier, 3 rd  ed, chap, p 49‐50, 54‐60m 

277‐281. 

5 Huijbregts H.J.T. BML, Wittens CHA, Schrama YC, Moll FL,  Blankestijn PJ, on behalf of the CIMINO study group. (2008).  Hemodialysis  Arteriovenous  Fistula  Patency 

Revisited:Results of a Prospective, Multicenter Initiative. Clin 

J Am Soc Nephrol 3:714‐9. 

6 Lauvao  LS  ID,  Goshima  KR,  Chavez  L,Gruessner  AC,  and  Mills JS. (2009). Vein diameter is the major predictor of fistula 

maturation. J Vasc Surg 49:1499‐504. 

7 Malovrh  M.  (1998).  Non‐invasive  evaluation  of  vessels  by  duplex  sonography  prior  to  construction  of  arteriovenous 

fistulas for haemodialysis. Nephrol Dial Transplant 13:125‐9. 

8 Mendes  R  FM,  Marston  WA,  Dinwiddie  LC,  Keagy  BA,  Burnham  SJ.  (2002).  Prediction  of  wrist  arteriovenous  fistula  maturation  with  preoperative  vein  mapping  with 

ultrasonography. J Vasc Surg 36:460‐3. 

9 Miller  C.D.  RML,  Allon  M.  (2003).  Gender  differences  in  outcomes  of  arteriovenous  fistulas  in  hemodialysis  patients. 

Kidney Intern 63:346‐52. 

10 NKF‐K/DOQI. (2006). Clinical practice guidelines for vascular 

access. Am J Kidney Dis 48:S248‐S73. 

11 Nursal TZ OL, Tercan F, Torer N., Noyan T., Karakayali H.,  Haberal.M. (2006). Is Routine Preoperative Ultrasonographic  Mapping  for  Arteriovenous  Fistula  Creation  Necessary  in  Patients  with  Favorable  Physical  Examination  Findings? 

Results of a Randomized Controlled Trial. World J Surg 30. 

12 Pastan  S.  SJM,  McClellan  WM.  (2002).  Vasular  access  and 

increased risk of dealth among hemodialysis patients. Kidney 

Intern 62:620‐6. 

13 Pham Minh Thong (2012) trong Siêu âm doppler màu trong  thăm khám mạch máu tạng và mạch máu ngọai biên, tr 24‐33, 

tr 268‐270. 

14 Robbin ML GM, Deierhoi MH, Young CJ, Weber TM, Allon 

M. (2000). US Vascular Mapping before Hemodialysis Access 

Placement. Radiology 217:83‐8. 

15 Schon D. BS, Niebauer K., Hollenbeak C.S., and, G L. (2007).  Increasing the Use of Arteriovenous Fistula in Hemodialysis: 

Economic  Benefits  and  Economic  Barriers.  Clin  J  Am  Soc 

Nephrol 2:268–76. 

16 Singh  P.  Robbin  M.L.  LM,  Allon  M.  (2008).  Clinically  Immature Arteriovenous Hemodialysis Fistulas: Effect of US 

on Salvage. Radiology 246:299‐305. 

17 Silva  MB  Jr,  Hobson  RI,  Pappas  PJ,  Jamil  Z,  Araki  CT,  Goldberg  MC,  Gwertzman  G,  Padberg  FT  Jr.  (1998).  A  strategy for increasing use of autogenous hemodialysis access 

procedures: Impact of preoperative noninvasive evaluation. J 

Vasc Surg 2:302‐8. 

18 Xue H LE, Jr., Wang W, Curhan GC, and Brunelli SM. 2010.  Choice  of  Vascular  Access  among  Incident  Hemodialysis 

Patients: A Decision and Cost‐Utility Analysis. Clin J Am Soc 

Nephrol 5:2289‐96. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  23‐03‐2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 00:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w