1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm hình thái học bệnh phình đại tràng bẩm sinh

9 123 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 571,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm hiểu một số đặc điểm: Lâm sàng, X quang, hình thái đại thể và tổn thương mô bệnh học bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Qua 142 bệnh nhi bị bệnh phình đai tràng bẩm sinh tại Bệnh viện Trung ương Huế từ 1/2010-8/2012.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC   BỆNH PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH. 

Đoàn Phước Thi*, Nguyễn Văn Bằng*, Trần Văn Hợp**, Lê Thị Y Vân*, Võ Thị Phượng Hòa*

TÓM TẮT 

Mở đầu: Bệnh phình đại tràng bẩm sinh là dị tật gặp khá phổ biến ở trẻ em. Nghiên cứu bệnh này về Giải 

phẫu bệnh còn ít. Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu một số đặc điểm: lâm sàng, X quang, hình thái đại thể và tổn  thương mô bệnh học bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Qua 142 bệnh nhi bị bệnh phình đai tràng bẩm sinh tại  Bệnh viện TW Huế từ 1/2010 – 8/2012. Phương pháp nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, X quang, đại thể và  tổn thương mô bệnh học bệnh phình đại tràng bẩm sinh. 

Kết quả: Lâm sàng ‐ bệnh hay gặp ở trẻ < 3 tháng tuổi (57,7%). Tỉ lệ nam/ nữ = 3,3/1. Đa số khởi phát bệnh 

từ lúc mới sinh và sơ sinh (91,5%), các triệu chứng thường gặp là chậm đi ngoài phân su (93,0%), chướng bụng  (98,6%) và táo bón kéo dài, thường xuyên phải thụt tháo (88,7%). Về hình ảnh đại thể: chiều dài đoạn đại tràng 

vô hạch thần kinh ngắn nhất ‐ 3cm, dài nhất ‐ 37cm, trung bình ‐ 9,2 ± 6,0 cm. Nhận thấy có mối liên quan  thuận giữa chiều dài đoạn vô hạch thần kinh với chiều dài đoạn đại tràng cắt bỏ. Mô bệnh học: đoạn ruột teo ‐  100% các trường hợp đều không có tế bào hạch thần kinh, đều giảm số lượng tế bào kẽ Cajal và có sự phì đại, sự  sắp xếp vô tổ chức các sợi thần kinh không myelin. Đoạn ruột hình phễu: không có tế bào hạch thần kinh chiếm tỉ 

lệ cao (71,8%), cách đầu trên đoạn phễu 2cm, tỷ lệ có tế bào hạch thần kinh là 70,8%; cách 4cm, tỷ lệ có tế bào  hạch thần kinh là 95,8% và cách 6cm ‐ 100% đều có tế bào hạch thần kinh. 

Kết luận:  Bệnh  phình  đại  tràng  bẩm  sinh  thường  khởi  phát  lúc  mới  sinh  và  sơ  sinh,  đoạn  ruột  teo  đều 

không có hạch thần kinh, cách đoạn phễu 6cm đều có hạch thần kinh và là điểm phẫu thuật cắt ruột an toàn. 

Từ khóa: bệnh phình đại tràng bẩm sinh, tế bào kẽ Caja 

ABSTRACT 

MORPHOLOGICAL STUDIES OF HIRSCHPRUNG’S DISEASE. 

Đoan Phuoc Thi, Nguyen Van Bang, Tran Van Hop, Le Thi Y Van, Vo Thi Phuong Hoa  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 115 ‐ 123 

Introduction: Hirschsprungʹs disease is a relatively common malformation in children. However, there are 

few  studies  about  this  disease.  The  objective  of  this  study  is  identifying  clinical  radiographic  macroscopic  and  microscopic pathological features of the Hirschsprungʹs disease. 

Result:  From  January  2010  to  August  2012,  142  patients  with  Hirschsprungʹs  disease  (congenital 

aganglionosis)  have  been  treated  at  the  Hue  central  Hospital.  Age  of  diagnosis  ranged  from  3  days  to  7  years  (average  9,0±17,8  months),  82  patients  were  done  in  the  first  3  months  of  life  (57.7%).  The  disease  is  more  common  in  boys,  with  a  male‐to‐female  ratio  of  3.3:1.  The  spectrum  of  presenting  signs  included  abdominal  distension in 140 (98.6), failure to pass meconium within the first 48h of life in 132 (93.0%), constipation in 126  (88.7%)  and  enterocolitis  occurred  preoperatively  in  10  (7.0%). Aganglionosis  involved  the  rectum  or  recto  sigmoid  in  124  patients  (87.3%),  the  left  colon  and  the  proximal  colon  in  18  patients  (12.7%). The  average  length of bowel resected was 15.85±6.88 cm (ranged from 6 cm to 39 cm). average length of aganglionic bowel  was 9.2 ± 6.0 cm (ranged from 3 cm to 37 cm). Histopathology: 100% absence of ganglion cells in both plexuses 

Trang 2

of segment of bowel. Interstitial cells of Cajal reduce in number and  hypertrophied, disorganized, nonmyelinated  adrenergic  and  nonadrenergic  type  nerve  fibers.  Fibromuscular  dysplasia  in  arteries  (80.3%),  hyperplasia  of  lymphoglandular complexes (65.5%). In transitional zone between aganglionic and dilated segments is absence of  ganglion cells 71.8%; 2cm above transitional zone ratio ganglionic was 70.8%, 4cm above transitional zone ratio  ganglionic was 95.8% and 6cm above was transitional zone 100%. 

Conclusion: The Hirschsprungʹs disease often present its symptomatology in newborns or at 1 st  year of life.  Absence of ganglion cells in both plexuses of segment of bowel. The point of 6cm above transitional zone have the  nervous ganglion is safe for surgery. 

Key words: Hirschsprungʹs disease, interstitial cells of Cajal 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh phình đại tràng bẩm sinh là do không 

có  tế  bào  hạch  thần  kinh  ở  đoạn  cuối  ống  tiêu 

hoá.  Bệnh  được  Hirschprung  lần  đầu  tiên  báo 

cáo  tại  hội  nghị  Nhi  khoa  ở  Berlin  năm  1886. 

Đây là một dị tật khá phổ biến ở trẻ em với tỷ lệ 

1/5000 trẻ mới sinh ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Đến 

năm 1948, ở Hoa Kỳ, Swenson lần đầu tiên giới 

thiệu kỹ thuật mổ cắt bỏ đoạn đại tràng vô hạch 

và nối đại tràng lành với ống hậu môn. 

Ở Việt Nam, tại viện Nhi TW từ năm 1981‐ 

1990  có  1571  trẻ  em  bị  bệnh  này  được  phẫu 

thuật,  chiếm  hàng  đầu  trong  các  bệnh  lý  ngoại 

khoa  ở  trẻ  em.  Phẫu  thuật  Soave  bằng  đường 

hậu môn bắt đầu áp dụng từ năm 2002 tại bệnh 

viện Nhi Đồng I và năm 2003 tại bệnh viện TW 

Huế và bệnh viện Nhi TW. 

Chẩn đoán GPB trong khi mổ (sinh thiết tức 

thì)  và  sau  khi  mổ  để  kiểm  tra  sự  tồn  tại  hay 

không  tồn  tại  tế  bào  hạch  thần  kinh  nhằm  xác 

định  đoạn  đại  tràng  vô  hạch  cần  phải  cắt  bỏ  ở 

nước  ta  còn  ít  được  nghiên  cứu.  Đây  là  một 

phương pháp rất có giá trị trong chẩn đoán giúp 

cho hướng xử trí phẫu thuật được chính xác và 

kịp thời. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này 

với hai mục tiêu: 

Tìm  hiểu  một  số  đặc  điểm  lâm  sàng,  X 

quang bệnh phình đại tràng bẩm sinh. 

Mô  tả  hình  thái  đại  thể  và  tổn  thương  mô 

bệnh học bệnh phình đại tràng bẩm sinh. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng 

Bao  gồm  các  bệnh  nhân  mắc  bệnh  PĐTBS  được phẫu thuật qua đường hậu môn, từ tháng  1/2010 đến tháng 8/2012 tại khoa Ngoại nhi bệnh  viện Trung ương Huế. 

Các tiêu chuẩn lựa chọn bênh nhân

Tuổi: Từ sơ sinh đến 16 tuổi. Cả nam và nữ.  Chẩn  đoán:  Dựa  vào  triệu  chứng  lâm  sàng, 

X  quang  Baryt  đại  tràng  có  hình  ảnh  của  bệnh  PĐTBS. 

Bệnh  nhân  được  phẫu  thuật  lần  đầu,  có  chụp X quang bụng cản quang. 

Phương pháp 

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu. 

Nghiên cứu lâm sàng, X quang

Lâm  sàng:  Tuổi,  giới,  biểu  hiện  triệu  chứng  lâm sàng. 

X quang: Chụp đại tràng có Baryt: xác định  đoạn  nhỏ  hẹp  (đoạn  ruột  teo),  đoạn  phễu  và  đoạn phình. 

Nghiên cứu đại thể, vi thể

Đai  thể:  Mô  tả  màu  sắc  và  đo  kích  thước  đoạn  đại  tràng  được  cắt  bỏ,  đoạn  teo,  đoạn  phễu, đoạn phình về chiêu dài, chiều ngang. 

Vi  thể:  Xét  nghiệm  mô  bệnh  học  sinh  thiết  tức thì để xác định đoạn ruột phẫu thuật cần cắt 

bỏ. Xét nghiệm mô bệnh học sau mổ: Cắt mảnh 

ở đoạn ruột teo đoạn phễu, đoạn phình, nhuộm 

HE thường qui và hóa mô miễn dịch với các dấu  ấn:  NSE  (nhuộm  thần  kinh,  tế  bào  hạch  thần 

Trang 3

kinh),  c‐kit  ‐  CD117  (nhuộm  tế  bào  kẽ  Kajal), 

S100 (nhuộm tế bào Schwann, tế bào thần kinh 

đệm), CD 34 (tế bào nội mô mạch máu). 

Tất cả các bệnh nhân được nghiên cứu định 

hướng  theo  một  mẫu  bệnh  án  được  chuẩn  bị 

sẵn. Áp dụng chương trình thống kê y học SPSS 

16.0 Và Excel 2003. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Qua  nghiên  cứu  142  bệnh  nhân  được  chẩn 

đoán  và  điều  trị  phẫu  thuật  bệnh  phình  đại 

tràng bẩm sinh, cho kết quả như sau: 

Đặc điểm chung 

Bảng 1. Phân bố tuổi bệnh nhân khi phẫu thuật. 

Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ %

< 3 tháng 82 57,7

3 - < 6 tháng 20 14,1

6 - < 12 tháng 12 8,5

12 - < 36 tháng 16 11,3

36 - < 72 tháng 6 4,2

≥ 72 tháng 6 4,2

Tổng số 142 100,0

Nhận xét: Tuổi thấp nhất 03 ngày; cao nhất 7 

tuổi; Trung bình 9,02 ± 17,81 tháng. 

Phân bố giới tính

Nữ

23.6%

Nam 76.4%

Nam Nữ

 

Biểu đồ 1. Phân bố giới tính (tỷ lệ: nam / nữ = 3,3/ 

1). 

Đặc điểm lâm sàng và X Quang

Bảng 2: Tiền sử bệnh. 

Tiền sử Số lượng Tỷ lệ %

Bình thường 136 95,8

Kết hợp bệnh Down 4 2,8

Có anh em ruột bị bệnh PĐTBS 2 1,4

Tổng số 142 100,0

Bảng 3. Triệu chứng lâm sàng. 

Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ %

Khởi bệnh lúc sơ sinh 130 91,5

Tiền sử chậm phân su 132 93,0

Táo bón kéo dài đòi hỏi phải thụt thường

Bụng trướng, mềm, quai đại tràng nổi 140 98,6 Viêm ruột (đại tiện phân lỏng từng đợt,

thối) 10 7,0

Bảng 4 Vị trí vô hạch thần kinh trên X quang. 

Vị trí vô hạch Số lượng Tỷ lệ %

Trực tràng (Giãn đại tràng Sigma) 77 54,2

Trực tràng + đại tràng Sigma 55 38,8

Vô hạch TK tới đại tràng trái 10 7,0

Tổng số 142 100,0

Đặc  điểm  hình  thái  đại  thể  và  mối  liên  quan 

Bảng 5. Phân bố chiều dài đoạn đại tràng cắt bỏ. 

Chiều dài cắt bỏ Số lượng (n) Tỷ lệ %

< 10 cm 24 16,9

10 - < 20 cm 86 60,6 ≥ 20 cm 32 22,5 Tổng số 142 100,0

Nhận xét: Chiều dài đoạn đại tràng cắt bỏ: ngắn 

nhất  là  6cm,  dài  nhất  là  39cm;  trung  bình  15,87  ±  6.97  cm.  Đoạn  đại  tràng  cắt  bỏ  <  20cm  chiếm  tỷ  lệ  77,5%. 

Bảng 6. Phân bố chiều dài đoạn đại tràng vô hạch 

TK. 

Chiều dài vô hạch Số lượng (n) Tỷ lệ %

< 10 cm 93 65,5

10 - < 20 cm 41 28,9 ≥ 20 cm 8 5,6 Tổng số 142 100,0

Nhận xét: Chiều dài đoạn đại tràng vô hạch 

TK ngắn nhất là 3cm, dài nhất: 37cm; trung bình: 

9,2 ± 6,0 cm. 

Bảng 7. Phân bố đường kính đoạn đại tràng cắt bỏ. 

nhất (cm)

Đoạn lớn nhất (cm)

Trung bình (cm)

Đoạn teo (vô

Bảng 8. Liên quan giữa chiều dài vô hạch TK và 

chiều dài cắt bỏ. 

Đoạn vô hạch (cm)

Đoạn cắt bỏ (cm) Giá trị p

< 20 (n= 100) ≥ 20 (n= 32)

<10 (n= 93)

Tỷ lệ %

85

91,4%

8

8,6% p< 0,001

≥10 (n= 49)

Tỷ lệ %

25

51,0%

24

49,0%

Trang 4

Nhận xét: 93 trường hợp chiều dài đoạn đại 

tràng vô hạch TK < 10cm: có 91,4% trường hợp 

chiều dài đại tràng cắt bỏ <20cm; ngược lại, chỉ 

có 8,6% trường hợp chiều dài đại tràng cắt bỏ ≥ 

20cm. 49 trường hợp chiều dài đoạn đại tràng vô 

hạch  TK  ≥  10cm:  có  51%  trường  hợp  chiều  dài 

đại tràng cắt bỏ <20cm và 49% trường hợp chiều 

dài đại tràng cắt bỏ ≥ 20cm. 

Liên quan giữa chiều dài đoạn đại tràng vô 

hạch  TK  với  chiều  dài  đoạn  đại  tràng  cắt  bỏ  là 

mối liên quan thuận  chiều  có  ý  nghĩa  thống  kê 

với p<0,001. 

Bảng 9. Sự liên quan giữa chiều dài vô hạch và tuổi. 

Phân bố chiều dài vô hạch TK

Tổng

<10 cm 10 - <20 cm ≥20 cm Phân

bố

tuổi

< 24

tháng 77 39 8 124

≥24 tháng 16 2 0 18

Tổng 93 41 8 142

Nhận xét: Đa số bệnh nhi ≥ 24 tháng tuổi có 

chiều dài vô hạch TK < 10cm. Tất cả các trường 

hợp có chiều dài đoạn vô hạch TK > 20cm đều < 

24 tháng tuổi. 

 

Biểu đồ 2. Phân bố sự liên quan giữa chiều dài vô 

hạch TK và tuổi. 

Nhận xét: Liên quan giữa chiều dài đoạn đại 

tràng  vô  hạch  TK  với  phân  bố  tuổi  là  mối  liên 

quan nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê với p< 

0,05 (p= 0,021). 

 

Biểu đồ 3. Phân bố sự liên quan giữa đường kính 

đoạn teo và tuổi. 

Nhận xét: Liên quan giữa đường kính đoạn 

đại tràng vô hạch TK với tuổi phẫu thuật là mối  liên  quan  thuận  chiều,  có  ý  nghĩa  thống  kê  p<0,05 (p=0,022). 

Mô bệnh học 

Bảng 10: Đối chiếu giữa STTT và MBH trên cùng 

mẫu sinh thiết. 

Mẫu sinh thiết tức thì Số lượng (n) Tỷ lệ %

Chẩn đoán đúng 121 97,6 Chẩn đoán sai 3 2,4

Tổng số 124 100,0

Nhận xét: Trong 142 trường hợp STTT trong 

mổ  có  124  trường  hợp  được  đối  chiếu  với  mô  bệnh học (trên cùng một mẫu sinh thiết) thấy có 

97,6% phù hợp. 

Bảng 11. Đặc điểm MBH đoạn ruột bệnh lý (đoạn 

teo). 

Đặc điểm MBH Số lượng Tỷ lệ %

Không có tế bào hạch TK bình

thường 142 100 Giảm số lượng tế bào kẽ Cajal 142 100 Phì đại, sắp xếp vô tổ chức các sợi

TK không myelin

142 100

Có sự bất thường các mạch máu

dưới niêm mạc

114

80,3 Teo các bó cơ trơn thành ruột 105 73,9

Có quá sản các nang lympho ở niêm

mạc/ viêm

93

65,5

Bảng 12. Quá sản xơ‐cơ trong các động mạch ở đoạn 

phễu. 

Quá sản xơ-cơ trong các động mạch Số lượng Tỷ lệ %

Có quá sản 130 93,0 Không quá sản 10 7,0 Tổng số 142 100,0

Trang 5

Bảng 13. Phân bố tế bào hạch thần kinh đoạn ruột cắt 

bỏ. 

Vị trí có hạch Số lượng Tỷ lệ %

Đoạn ruột teo (đoạn bệnh lý) 0/142 0,0

Miệng phễu (đoạn chuyển tiếp) 40/142 28,2

Cách miệng phễu 2cm (đoạn phình) 100/142 70,8

Cách miệng phễu 4cm (đoạn phình) 136/142 95,8

Cách miệng phễu 6cm (đoạn phình) 142/142 100,0

Bảng 14. Phân bố vị trí vô hạch TK trên mô bệnh 

học. 

Vị trí vô hạch Số lượng Tỷ lệ %

Vô hạch trực tràng + Sigma 124 87,3

Vô hạch từ đại tràng trái trở lên 18 12,7

Tổng số 142 100,0

BÀN LUẬN 

Đặc điểm chung 

Tuổi

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  được  thực  hiện 

qua 142 bệnh nhân, tuổi thấp nhất: 3 ngày; tuổi 

cao nhất: 84 tháng (7 tuổi); tuổi trung bình: 9,02 ± 

17,81 tháng. Thấp hơn KQNC của Bùi Đức Hậu, 

Rescorla FJ, Swenson O(2,12,14). (Bảng 1)  

Giới

Tỷ lệ nam: nữ là 3,3:1, thấp hơn so với tỷ lệ 

tương  ứng  của  một  số  tác  giả  trong  nước  như 

Bùi  Đức  Hậu,  Nguyễn  Thanh  Liêm,  Trương 

Nguyễn Uy Linh là 3,7:1(2,6,15) và các tác giả nước 

ngoài:  Swenson  O.  là  3,6:1(14),  nhưng  cao  hơn 

một số tác giả khác như: Xu Zhi‐lin và cs 2,4:1(18), 

Pourang H. 2,8:1(10). Ikeda và cs, Sachiyo Suita và 

cs là 3:1(3,13). 

Đặc điểm lâm sàng và X Quang 

Tiền sử bệnh

Trong  nghiên  cứu  này,  có  2  trường  hợp  ở 

một gia đình có hai anh em ruột bị bệnh PĐTBS, 

chiếm  tỷ  lệ  1,4%.  Có  4  bệnh  nhân  kết  hợp  với 

bệnh  Down  chiếm  2,8%  (Bảng  2).  Tỷ  lệ  này 

tương  đương  với  nghiên  cứu  của  các  tác  giả 

ngoài nước như: Ikeda. K. và cs, Sachiyo Suita và 

cs: từ 2,8 đến 3,0%(3,13). 

Đặc điểm lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh 

nhân  vào  viện  đều  có  triệu  chứng  lâm  sàng  rõ 

(Bảng 3) và 91,5% khởi bệnh từ lúc sơ sinh. Tỷ lệ  này  tương  đương  với  kết  quả  nghiên  cứu  của  Bùi  Đức  Hậu,  Nguyễn  Thanh  Liêm,  Trương  Nguyễn Uy Linh(2,6,15). Hiện tượng viêm ruột trên  lâm sàng: Chúng tôi ít gặp hơn với tỷ lệ rất thấp  (7%), thấp hơn các tỷ lệ tương ứng của Bùi Đức  Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Trương Nguyễn Uy  Linh dao đông từ 7,3 đến 24,2%. Điều này có thể  giải  thích  do  tuổi  thai  nhi  chúng  tôi  gặp  phần  lớn dưới 6 tháng tuổi (71,8%), dưới 12 tháng tuổi  (80,3%). Như vậy, bệnh nhân được chẩn đoán và  điều  trị  sớm,  thì  tình  trạng  viêm  ruột  trên  lâm  sàng sẽ ít gặp hơn. Theo Ortega S.J., Polley T.Z.,  Shahnam  Askarpour,  chậm  phân  su  dao  động 

từ 46 – 57%, táo bón (33 – 49%), chướng bụng (57  – 60,3%), viêm ruột (9,8 – 14,2%)(7,8,1) 

Dấu  hiệu  trên  phim  chụp  đại  tràng  có  cản  quang: Chúng tôi gặp 54,2% vô hạch trực tràng,  38,8% vô hạch trực tràng và đại tràng Sigma và  7% vô hạch đại tràng trái trở lên. Các tỷ lệ này  phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả  trong  nước:  Bùi  Đức  Hậu,  Nguyễn  Thanh  Liêm(2,6).  Nhưng  theo  kết  quả  nghiên  cứu  nước  ngoài  như  của  Ikeda  và  Goto,  Ortega  S.J.,  Paurang, Rescorla, Shahnam, Swnson O., Wang 

G.  thì  các  tỷ  lệ  này  rất  khác  nhau:  vô  hạch  TK  trực tràng dao động từ 22,4 – 37%; vô hạch TK  trực  tràng  và  đại  tràng  Sigma  chiếm  tỷ  lệ  cao  hơn 50,4 – 72,3%; còn vô hạch đại tràng trái trở  lên, tỷ lệ cao từ 11–27,2%(1,3,7,10,12, 14). 

Đặc  điểm  hình  thái  đại  thể  và  mối  liên  quan 

Về hình thái đại thể

Chiều dài đoạn đại tràng cắt bỏ: Qua nghiên  cứu, chúng tôi thấy chiều dài đoạn đại tràng cắt 

bỏ  ngắn  nhất:  6cm,  dài  nhất:  39cm,  trung  bình:  15,87 ± 6,97cm, tương tự kết quả nghiên cứu của  Pongpirawitch  W.,  Xu  Zhi‐lin:  14,6−  16,5cm(9,17).  Theo một số báo cáo của các tác giả trong nước:  Bùi  Đức  Hậu,  Trương  Nguyễn  Uy  Linh,  Hồ  Hữu Thiện, Li Ai‐wu và cs, chiều dài trung bình  đoạn ruột cắt bỏ dao động từ 18,6 − 24,2cm(2,6,4,5).  Chiều dài trung bình đoạn đại tràng cắt bỏ của  một số tác giả được trình bày ở (bảng 15). 

Trang 6

Bảng 15. Chiều dài trung bình đoạn đại tràng cắt bỏ. 

Tác giả công bố Năm

Chiều dài trung bình

Ngắn nhất (cm)

Dài nhất (cm)

T N Uy Linh(15) 2005 18,6 - 30

H H Thiện và CS (4) 2005 19,5 - -

Bùi Đ Hậu và CS(2) 2006 24,2 9 50

Li Ai-wu và CS(5) 2006 24,0 15 58

Pongpirawitch.W (9) 2008 14,6 7 25

Xu Zhi-lin và CS(17) 2008 16,5 12 50

Nghiên cứu này 2012 15,85 6 39

Chiều dài đoạn đại tràng vô hạch TK

Vô  hạch  thần  kinh  ở  đại  tràng  được  chẩn 

đoán  trên  mô  bệnh  học  bằng  nhuộm  H‐E  và 

nhuộm Hoá mô miễn dịch với hai dấu ấn S100 

và NSE 

Vị trí vô hạch thần kinh không chỉ xảy ra ở 

đoạn teo, mà ngay cả đoạn phình cũng vô hạch 

TK. Có nhiều trường hợp vô hạch thần kinh kéo 

dài đến đoạn phình trên miệng phễu từ 2 – 4 cm, 

thậm chí đến 6 cm. 

Chiều  dài  đoạn  vô  hạch  TK:  ngắn  nhất  là 

3cm,  dài  nhất  là  37cm  (9,2  ±  6,0cm).  Đoạn  đại 

tràng vô hạch TK < 10cm chiếm tỷ lệ 65,5%; ≥ 10 

cm, chiếm tỷ lệ 34,5%; ≥ 20 cm có 4 trường hợp 

(5,6%),  trong  đó  có  2  trường  hợp  vô  hạch  đến 

đại tràng lên (một trường hợp phẫu thuật cắt bỏ 

hồi manh tràng). 

Các mối liên quan 

Liên  quan  giữa  chiều  dài  đoạn  vô  hạch  TK 

với  chiều  dài  cắt  bỏ:  Trong  nghiên  cứu  này, 

chúng tôi thấy liên quan giữa chiều dài đoạn đại 

tràng vô hạch TK so với đoạn đại tràng cắt bỏ là 

mối liên quan thuận chiều và có ý nghĩa  thống 

kê,  (P<  0,001).  Trong  93  trường  hợp  đoạn  vô 

hạch  dưới  10cm,  có  91,4%  được  cắt  bỏ  dưới 

20cm;  49  trường  hợp  vô  hạch  TK  trên  10cm  có 

49%  được  cắt  bỏ  trên  20cm  (Bảng  8).  Như  vậy, 

chiều dài đoạn ruột được cắt bỏ luôn luôn tương 

ứng  với  chiều  dài  vô  hạch  thần  kinh.  Kết  quả 

này  tương  tự  với  kết  quả  nghiên  cứu  của  Bùi 

Đức Hậu(2). 

Liên quan giữa chiều dài vô hạch TK với độ

tuổi phẫu thuật

Các biểu đồ 3.2 cho thấy đa số bệnh nhân bị  PĐTBS  có  chiều  dài  đoạn  ruột  vô  hạch  TK  liên  quan  nghịch  chiều  với  độ  tuổi  phẫu  thuật,  mối  liên quan này có ý nghĩa thống kê (P= 0,021). 

Đa số bệnh nhi ≥ 24 tháng tuổi có chiều dài 

vô  hạch  TK  <  10cm.  Tất  cả  các  trường  hợp  có  chiều  dài  đoạn  vô  hạch  TK  >  20cm  đều  <  24  tháng  tuổi.  (Bảng  9).  Điều  này  có  thể  giải  thích  tại sao có một số bệnh nhân có thể sống chung  với bệnh lý vô hạch TK ruột trong một thời gian  dài thậm chí đến tuổi trưởng thành. 

Liên quan giữa đường kính đoạn đại tràng cắt

bỏ với tuổi phẫu thuật

Đoạn  đại  tràng  vô  hạch  thần  kinh  (đoạn  teo): Có đường kính nhỏ nhất: 0,3cm, lớn nhất:  2,5cm, đường kính hay gặp: 0,8 – 1,0cm, chiếm 

tỷ lệ 62,5 %. Liên quan giữa đường kính đoạn 

vô  hạch  TK  với  tuổi  phẫu  thuật  là  mối  liên  quan  thuận  chiều  và  có  ý  nghĩa  thống  kê,  P<  0,05  (P=  0,022).  Như  vậy,  những  bệnh  nhân  phát  hiện  và  điều  trị  muộn  thường  có  đường  kính  đoạn  đại  tràng  vô  hạch  TK  lớn,  kết  hợp  với đoạn đại tràng vô hạch TK ngắn. Chính vì  vậy, các bệnh nhân này có thể sống chung với  bệnh trong một thời gian khá dài. 

Mô bệnh học 

Đối chiếu STTT với MBH (trên cùng một mẫu bấm sinh thiết)

Trong 142 trường hợp STTT trong mổ để xác  định có tế bào hạch TK hay không trước khi cắt 

bỏ đại tràng, có 124 trường hợp đối chiếu với mô  bệnh  học  (trên  cùng  một  mảnh  mô  sinh  thiết),  thấy có 97,6% chẩn đoán đúng, có 3 trường hợp  (2,4%) chẩn đoán sai (Bảng 10). Theo nghiên cứu  của  Polley  T.Z.  và  cs,  tỷ  lệ  chẩn  đoán  sai  trong  sinh thiết trực tràng là 0,3%(8). 

Qua nghiên cứu,  chúng  tôi  nhận  thấy  rằng:  trong  bệnh  PĐTBS,  chẩn  đoán  xác  định  bằng  STTT  trước  mổ  và  trong  mổ  rất  quan  trọng  vì  giúp cho phẫu thuật viên  xác  định  cắt  bỏ  đoạn  đại  tràng  vô  hạch  thần  kinh  được  chính  xác  không bỏ sót đoạn ruột bệnh lý trong quá trình  phẫu thuật làm giảm nguy cơ tái phát của bệnh. 

Trang 7

NSE  trên  niêm  mạc  trực  tràng  là  điều  kiện  cần 

và đủ để chẩn đoán xác định bệnh PĐTBS(18). 

Ngày nay, một số tác giả nghiên cứu mô học 

cho  rằng  cơ  sở  cho  chẩn  đoán  bệnh  bằng 

phương  pháp  sinh  hoá‐  mô  học  sẽ  chính  xác 

hơn.  Nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  enzym 

Acetylcholinesterase  tăng  lên  trong  đoạn  đại 

tràng  vô  hạch,  tăng  cao  nhất  ở  đoạn  cuối  và 

dường như ít khi tăng ở gần vùng có tế bào hạch 

thần kinh(11). 

Kết quả mô bệnh học  đoạn  ruột  sau  phẫu 

thuật cắt bỏ 

Đặc điểm mô bệnh học đoạn ruột bệnh lý

(đoạn teo)

Trong  142  trường  hợp  nghiên  cứu,  kết  quả 

cho thấy: 100% không có tế bào hạch thần kinh 

hoặc  thiểu  sản  tế  bào  hạch  thần  kinh  trong  các 

đám rối thần kinh Meissner (dưới niêm mạc) và 

Auerbach (giữa hai lớp cơ). Những điểm này phù 

hợp  với  các  nghiên  cứu  tương  ứng  của  các  tác 

giả: Polley T.Z. và cs, Puri P. và Polle U(8,11). 100% 

trường hợp nghiên cứu đều nhận thấy có sự phì 

đại  và  sắp  xếp  vô  tổ  chức  các  sợi  thần  kinh 

không myelin ở dưới niêm mạc và giữa hai lớp 

cơ thành ruột (nhuộm S100, NSE). 

Trong  hầu  hết  các  trường  hợp,  khi  nhuộm 

CD117, thấy có sự giảm đáng kể số lương tế bào 

kẽ Cajal trong đoạn đại tràng vô hạch thần kinh 

(so  sánh  với  đoạn  đại  tràng  bình  thường  phía 

trên có tế bào hạch TK). Điều này phù hợp với 

kết  quả  nghiên  cứu  của  Sergio  E.  và  cs,  Udo 

Rolle và cs(16). Tế bào kẽ Cajal đóng một vai trò 

quan  trọng  trong  việc  điều  chỉnh  nhu  động 

đường tiêu hóa. 

Nhuộm H‐E, Actin, chúng tôi thấy có 80,3% 

số trường hợp có sự bất thường các  mạch  máu 

dưới  niêm  mạc:  tăng  số  lượng  các  sợi  collagen 

của các động mạch và sợi cơ trơn của thành tĩnh 

mạch.  Những  điểm  này  cũng  phù  hợp  với 

nghiên cứu của Swenson O. và Udo Rolle(14,16). 

Sự  teo  các  sợi  cơ  trơn  (mất  nhu  động)  và 

thoái  hoá  tế  bào  cơ  thành  ruột  ở  vùng  này  (rối 

loạn vận mạch). Chúng tôi gặp 105 trường hợp,  chiếm tỷ lệ 73,9%. 

Trong nghiên cứu này, chúng tôi gặp 65,5%  trường hợp viêm thứ phát gặp trong đa sô bệnh  nhi lớn tuổi. Theo Ortega S.J. và cs, Shahnam A. 

và cs, hiện tượng viêm ruột chiếm 9,8 – 14,2%(1,7). 

Đặc điểm mô bệnh học đoạn chuyển tiếp (đoạn phễu)

Khảo  sát  MBH  đoạn  chuyển  tiếp,  về  mô  bệnh học: 93% có quá sản xơ‐cơ trong các động  mạch ở đoạn phễu, tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ 

ở  đoạn  teo:  80,3%.  Ngoài  ra,  ở  vùng  này  đa  số  trường hợp không có tế bào hạch  TK  trong  các  đám rối TK Meissner và Auerbach, chỉ có 28,2% 

số trường hợp có tế bào hạch TK bình thường. 

Đặc điểm mô bệnh học đoạn phình

Tất cả các trường hợp nghiên cứu đều được  nhuộm  H‐E  thường  quy,  S100  hoặc  NSE.  Kết  quả cho thấy: 

Đoạn phình trên miệng phễu 2 cm: Tỷ lệ có 

tế  bào  hạch  thần  kinh  bình  thường  trong  các  đám rối Meissner và Auerbach là 70,8%. 

Đoạn phình trên miệng phễu 4 cm: Tỷ lệ có 

tế  bào  hạch  thần  kinh  bình  thường  là  95,8%.  Đoạn  phình  trên  miệng  phễu  6  cm:  100%  số  trường  hợp  có  tế  bào  hạch  thần  kinh  trong  các 

đám  rối  thần  kinh  Meissner  và  Auerbach.  Như 

vậy,  đoạn  phễu  (chuyển  tiếp)  không  phải  là  ranh giới phân chia đoạn ruột bệnh lý và  đoạn  ruột bình thường. 

Y  văn  trong  nước  và  nước  ngoài  hầu  như  chưa  thấy  tài  liệu  nào  nghiên  cứu  vấn  đề  này,  chúng tôi không có số liệu để so sánh. 

Qua nghiên chúng tôi thấy: để điều trị bệnh  PĐTBS, các phẫu thuật viên chỉ cần cắt bỏ đoạn  ruột  vô  hạch  TK  trên  miệng  phễu  6cm  là  bảo  đảm  để  an  toàn  hầu  như  100%  (nếu  không  có  sinh thiết tức thì). 

Vị trí vô hạch TK trên mô bệnh học 

Vị  trí  vô  hạch  TK  trên  mô  bệnh  học  mà  chúng  tôi  gặp  chủ  yếu  là  vô  hạch  TK  ở  trực  tràng và đại tràng Sigma, chiếm tỷ lệ 87,3%. Vô 

Trang 8

hạch  TK  từ  đại  tràng  trái  trở  lên  chiếm  tỷ  lệ 

12,7%. 

Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  chưa  gặp 

vô hạch toàn bộ đại tràng. Tương đương với kết 

quả nghiên cứu tương ứng của các tác giả trong 

nước  như  Bùi  Đức  Hậu,  Nguyễn  Thanh  Liêm, 

Trương  Nguyễn  Uy  Linh,  Hồ  Hữu  Thiện 

(0%)(2,6,15,4). Nhưng so với các nghiên cứu của tác 

giả  nước  ngoài,  vô  hạch  TK  toàn  bộ  đại  tràng 

vẫn  gặp  với  các  tỷ  lệ  khác  nhau  như:  Ikeda  K., 

Ortega S.J., Rescorla F.J. và Shahnam  A.:  2,7%  ‐ 

9%(1,3,7,12). 

KẾT LUẬN 

Nghiên  cứu  142  bệnh  nhi  bị  bệnh  PĐTBS, 

chúng tôi có một số kết luận sau: 

Về lâm sàng, X quang 

Bệnh  gặp  ở  trẻ  <  3  tháng  tuổi  (57,7%).  Tuổi 

trung  bình  9,0  ±  17,8  tháng.  Bệnh  gặp  ở  nam 

nhiều hơn nữ, tỉ lệ nam/ nữ = 3,3/1. 

Về  triệu  chứng  lâm  sàng:  Đa  số  bệnh  nhi 

khởi  phát  bệnh  từ  lúc  mới  sinh  và  sơ  sinh 

(91,5%), các triệu chứng thường gặp là chậm đi 

ngoài phân su (93,0%), chướng bụng (98,6%) và 

táo bón kéo dài (88,7%). 

X  quang  bụng  có  cản  quang:  Đoạn  ruột  vô 

hạch  TK  (ruột  teo  nhỏ)  từ  trực  tràng  đến  đại 

tràng Sigma hay gặp nhất (93%). 

Hình thái đại thể và mô bệnh học 

Hình thái đại thể

Đoạn  đại  tràng  được  cắt  bỏ  có  chiều  dài 

ngắn nhất là 6cm, dài nhất là 39cm, trung  bình 

15,85 ± 6,88 cm, trong đó đoạn ruột được cắt bỏ < 

20cm chiếm tỷ lệ cao nhất: 77,5%. 

Chiều dài đoạn đại tràng vô hạch thần kinh 

(ruột  teo  nhỏ)  ngắn  nhất:  3cm,  dài  nhất:  37cm, 

trung  bình:  9,2  ±  6,0cm  trong  đó  chủ  yếu  có 

chiều dài < 10cm. 

Đường  kính  ruột  đoạn  phình  nhỏ  nhất  là 

1cm, lớn nhất là 6cm, trung bình là 2,50 ± 1,14cm 

và đường kính đoạn ruột teo (đoạn vô hạch thần 

kinh) nhỏ nhất là 0,3cm, lớn nhất là 2,5cm, trung 

bình là 1,04 ± 0,38cm. 

Mô bệnh học

Đoạn  ruột  teo:  Tất  cả  100%  các  trường  hợp  đều  không  có  tế  bào  hạch  thần  kinh,  đều  giảm 

số lượng tế bào kẽ Cajal và đều có sự phì đại, sự  sắp  xếp  vô  tổ  chức  các  sợi  thần  kinh  không  myelin.  Có  sự  bất  thường  các  mạch  máu  dưới  niêm mạc (80,3%), teo các bó cơ trơn thành ruột  (73,9%) và quá sản các nang lymphô ở niêm mạc  (65,5%). 

Đoạn  ruột  phình:  cách  đầu  trên  đoạn  phễu  2cm, tỷ lệ có tế bào hạch thần kinh là 70,8%, cách  4cm,  tỷ  lệ  có  tế  bào  hạch  TK  là  95,8%  và  cách  6cm là 100% có hạch TK. 

Trong  bệnh  phình  đại  tràng  bẩm  sinh,  không chỉ đoạn ruột teo vô hạch TK mà cả đoạn  phễu và ngoài đoạn phễu 4cm vẫn vô hạch TK.  Chính  vì  vậy,  trong  phẫu  thuật  cần  phải  sinh  thiết  tức  thì  trước  khi  cắt  bỏ  đoạn  đại  tràng  vô  hạch TK. 

Điểm phẫu thuật cắt ruột an toàn là cách đầu  trên đoạn phễu 6cm nếu không có STTT. 

KIẾN NGHỊ 

Cần  phải  sinh  thiết  tức  thì  trước  và  trong  phẫu thuật để xác định chính xác bệnh và đoạn  đại tràng vô hạch thần kinh. 

Trong phẫu thuật điều trị bệnh PĐTBS, đoạn  đại tràng cắt bỏ cần thiết phải trên miệng phễu  6cm. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Askarpour  S,  Samimi  K  (2008),  “Epidemiologic  and  clinical  specifications  of  patients  with  Hirschsprung’s  disease  in 

Khouestan province Iran”, The Journal of surgery Pakistan, 13 (2), 

pp 75‐78. 

2 Bùi đức Hậu (2006), Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật một thì qua 

đường  hậu  môn  để  điều  trị  bệnh  phình  đại  tràng  bẫm  sinh,  Luận 

văn bác sỹ chuyên khoa cấp II, trường đại học Y Hà Nội. 

3 Ikeda  K  and  Goto  S(1984),  “Diagnosis  and  treatment  of 

Hirschsprungʹs disease in Japan. An analysis of 1628 patients”, 

Ann Surg, 199 (4), pp 400–405. 

4 Lê Lộc, Hồ Hữu Thiện (2005), “Điều trị bệnh Hirschsprung ở  trẻ sơ sinh bằng phẫu thuật Soave đường hậu môn một thì”, 

Công trình nghiên cứu khoa học Hội nghị Ngoại‐Nhi toàn quốc lần  thứ ba, Y học thực hành Việt Nam, tr 15‐17. 

5 Li  AW,  Zhang  WT,et  al  (2006),  “A  new  modification  of  transanal  Soave  pull‐through  procedure  for  Hirschsprung’s 

disease”, Chin Med J, 119 (1), pp 37‐42.  

Trang 9

6 Nguyễn Thanh Liêm (2006), Nghiên cứu ứng dụng phương pháp 

điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật một thì, Đề 

tài cấp Bộ.  

7 Ortega  SJ,  Langer  JC,  Durrant  AC,  et  al  (2003),  “One‐Stage 

Transanal  Soave  Pullthrough  for  Hirschsprung  Disease  A 

Multicenter Experience With 141 Children”, Ann of surgery, 238 

(4), pp 569‐576. 

8 Polley TZ and Coran AG (1986), “Hirschsprungʹs disease in the

newborn: An 11‐year experience”, Pediatr Surg Int, 1, pp 80‐83. 

9 Pongpirawitch  W  (2008),  “Transanal  Endorectal  Pull‐through 

for  Hirschsprung’s  Disease”,  Buddhachinaraj  Medical  J,  Vol  25 

(2): 425‐430. 

10 Pourang H and Sadighi A (2002), “Areseach onHirschsprung’s 

disease  inamirkabir  and  bahrami  Children  hospital”,  Acta 

Medica Iranica, Vol. 40, (1), pp 46‐48.  

11 Puri  P,  Rolle  U  (2004),  “Variant  Hirschsprung’s  disease”, 

Seminars Pediatr Surg, 13, pp 293‐ 299. 

12 Rescorla  FJ,  Morrison  AM,  et  al  (1992),  “Hirschsprungʹs 

Disease:  Evaluation  of  Mortality  and  Long‐term  Function  in 

260 Cases “, Arch Surg, 127 (8), pp 934‐942.  

13 Sachiyo  S,  Tomoaki  T,  Satoshi  I  and  Takanori  N  (2005), 

“Hirschsprungʹs  disease  in  Japan:  analysis  of  3852  patients 

based on a nationwide survey in 30 years”, Available online 21 

January 2005. 

14 Swenson  O,  Sherman  JO  (1975),  “The  Treatment  and 

Postoperative  Complications  of  Congenital  Megacolon:  A  25 

Year Followup”, Ann. Surg, 182, (3), pp 266‐272. 

15 Trương  Nguyễn  Uy  Linh  và  cs  (2005),  “Điều  trị  phẫu  thuật  triệt để, một thì ở trẻ bệnh Hirchsprung dưới ba tháng tuổi”. 

Công trình nghiên cứu khoa học Hội nghị Ngoại Nhi toàn quốc lần  thứ 3, Y học thực hành Việt Nam, tr 12‐ 14.  

16 Rolle  U,  Piaseczna‐Piotrowska  A,  Puri  P  (2007), “Interstitial 

cells  of  Cajal  in  the  normal  gut  and  in  intestinal  motility 

disorders of childhood”, Pediatr Surg Int, 23, pp 1139–1152. 

17 Xu ZL, Zhao Z, Wang L et al (2008), “A new modification of 

transanal Swenson pull‐through procedure for Hirschsprung’s 

disease”, Chin Med J, 121 (23): 2420‐2423. 

18 Zhila  Torabizadeh,  Farshad  N.,  Ali  R.K  (2006),  “Determining 

The Diagnostic Value Of Neuron Specific Enolase Staining Of  The  Mucosal‐submucosal  Rectal  Biopsies  Obtained  From 

Patients Suspected Of Hirschsprung’s Disease”, Iranian Journal 

of Pathology, 1 (3), pp 121‐126. 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 00:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w