Sốc nhiễm trùng đường mật là một biến chứng nặng của bệnh sỏi mật. Trước đây tỉ lệ sốc nhiễm trùng trên BN sỏi mật là 16% - 25%. Hiện nay tỉ lệ này là 1,7% - 8,9%, có lẽ do sỏi mật được phát hiện và điều trị sớm. Tuy vậy, tỉ lệ tử vong va biến chứng còn cao (40% - 50%). Hồi sức nội khoa tích cực kết hợp các thủ thuật và phẫu thuật giải áp đường mật làm giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng trong điều trị biến chứng nầy.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG NẶNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG MẬT DO SỎI
Trương Nguyễn Duy Linh*, Đỗ Trọng Hải**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sốc nhiễm trùng đường mật là một biến chứng nặng của bệnh sỏi mật Trước đây tỉ lệ
sốc nhiễm trùng trên BN sỏi mật là 16% - 25% Hiện nay tỉ lệ này là 1,7% - 8,9%, có lẽ do sỏi mật được phát hiện và điều trị sớm Tuy vậy, tỉ lệ tử vong va øbiến chứng còn cao (40% - 50%) Hồi sức nội khoa tích cực kết hợp các thủ thuật và phẫu thuật giải áp đường mật làm giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng trong điều trị biến chứng nầy
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả các BN
sốc nhiễm trùng đường mật do sỏi điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/1999 đến 12/2003
Kết quả:Tổng số có 59 trường hợp sỏi đường mật có biến chứng sốc đã được điều trị Trong đó 20
trường hợp không mổ, 39 trường hợp được phẫu thuật (có hay không có làm PTBD hoặc ERCP giải áp trước mổ) Tỉ lệ tử vong chung 44,06% (26 BN), trong đó điều trị nội khoa đơn thuần tử vong 100%, điều trị nội khoa có PTBD tử vong 44,44%, phẫu thuật đơn thuần (41,94%) và phẫu thuật có làm PTBD trước mổ là 50% Mổ cấp cứu trước 6giờ tử vongù 36,84%, mổ cấp cứu trì hoãn tử vong 23,1%, mổ muộn sau 24g tử vong 100% Biến chứng gây tử vong thường gặp là sốc nhiễm trùng nhiễm độc (92,3%) và suy đa cơ quan (69,23%) Các yếu tố tiên lượng nặng bao gồm: suy thận, rối loạn đông máu, toan hoá máu và sốc kéo dài sau mổ
Kết luận: Khi chưa có chỉ định mổ cấp cứu ngay vì tình trạng viêm phúc mạc mật, việc hồi sức nội
khoa tích cực trong vòng 6-24g kết hợp PTBD giải áp có thể làm giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng Lưu ý điều trị trước và sau mổ tình trạng sốc, suy thận, toan hóa máu, rối loạn đông máu Không nên trì hoãn chỉ định phẫu thuật quá muộn khi tình trạng sốc kéo dài hơn 24giờ ngay cả khi có PTBD
SUMMARY
SEVERE PREDICTIVE FACTORS AND RESULTS OF TREATMENT OF SEPTIC
SHOCK CAUSED BY BILE DUCT STONES
Truong Nguyen Duy Linh, Do Trong Hai
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 67 – 71
Background Septic shock (endotoxic shock) due to bile duct stones was a severe complication In
the past, it was rather common (16-25%), but decreased nowadays (1,7-8,9%); It might be due to early diangosis and treatment Unfortunately, complication rate and mortality were still high (40-50%) Medical intensive care combined methodes biliary decompression and surgery at the best time could make it better
Methods: Retrospective study analyzised patients with septic shock due to bile duct stones managed
at Chợ Rẫy Hospital from Jan 1999 to Dec 2003
Results There were 59 cases of biliary septic shock due to bile duct stones Twenty cases were
managed non-operatively, 39 cases were operated (with or without PTBD, ERCP prior to operation)
* BV Chợ Rẫy
Trang 241,94% of patients were dead when managed with operation and mortality of operation with PTBD was 50% Mortality after emergency operation (< 6h) was 36,84%, after delayed emergency operation was 23,1% and delayed operation (>24h) were 100% The common fetal complications were endotoxic shock (92,3%) and multiple organs failure (69,23%) Severe prognostic factors included renal insufficiency, acidosis, coagulation disoder, prolonged postoperative septic shock
Conclusions If there is no biliary peritonitis, it is appropriate to manage with medical intensive care
for 6 to 24hours with PTBD During the time of medical intensive care before or after operation, it should pay attention to treatment endotoxic shock, renal failure, acidosis, coagulation disorder Never delay the operation if patients have persistent shock longer than 24h even with or without PTBD
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốc NTĐM do sỏi chiếm tỉ lệ 2-10% bệnh sỏi
dường mật và có khuynh hướng ngày càng giảm do
bệnh sỏi mật ngày nay được chẩn đoán và điều trị
sớm hơn trước đây Tuy nhiên, cho đến nay tỉ lệ tử
vong do biến chứng này còn khá cao (20-45%) Để
làm giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng cần hồi sức kịp
thời và thực hiện các biện pháp giải áp mật trước mổ
và chọn thời điểm mổ tốt nhất
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định thời điểm chỉ định các phương pháp xử
trí cấp cứu sốc nhiễm trùng đường mật do sỏi
Đánh giá kết quả điều trị của các phương pháp
Xác định các yếu tố tiên lượng nặng trên bệnh
nhân sốc nhiễm trùng đường mật do sỏi đường mật
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Từ 1/1999-12/2003 chúng tôi có 3614 BN sỏi mật
được điều trị, với 1338 BN nam và 2276 BN nữ tỉ lệ
nữ/nam là 1,7) Trong đó có 1861 BN sỏi đường mật
và 1753 BN sỏi túi mật đơn thuần Như vậy tỉ lệ
nam/nữ vẫn không thay đổi so với trước đây, nhưng tỉ
lệ sỏi túi mật tăng lên đến 50% như các tác giả khác
đã nhận thấy
Các BN trong lô nghiên cứu bao gồm 59 BN sốc
NTĐM do sỏi Tần suất sỏi đường mật có biến chứng
sốc NT là 3,17% (59/1861), giảm hơn so với khoảng
10 năm trước cùng nơi nghiên cứu Những nghiên
cứu trong nước cũng cho thấy: Năm 1976, trên tổng
số gần 1500 sỏi đường mật trong gần 6 năm từ tháng
1-1970 đến tháng 9 -1975, Nguyễn Thụ (3) gặp 46 bệnh nhân sốc nhiễm trùng, tỉ lệ 3,1%, tử vong 54,3% Văn Tần (45) trên 463 bệnh nhân nghẹt đường mật trong 10 năm 1975-1984 thấy 95 trường hợp có sốc nhiễm trùng, tỉ lệ 20%, tử vong 42%
Đặc điểm bệnh nhân
Giới 27 nam (45.8%) và 32 nữ (54.2%)
Tuổi Tuổi trung bình: 65.61 ± 15.847, nhỏ nhất:
29, lớn nhất: 95 Sốc NTĐM thường xuất hiện trên
người lớn tuổi
Các BN được chia làm 2 nhóm:
-Nhóm 1 (39 ca) được phẫu thuật
Nhóm 2 (20 ca) không can thiệp phẫu thuật
-Cả 2 nhóm nghiên cứu đều có hay không có thực hiện PTBD hoặc ERCP trước mổ
Đặc điểm bệnh lý
Vị trí sỏi: Có 28 BN sỏi ống mật chủ đơn thuần, 7
BN sỏi gan đơn thuần, 6 BN sỏi gan kết hợp sỏi túi mật và 18 BN sỏi OMC kết hợp sỏi gan và sỏi túi mật Số lần mổ mật trước đây: Không có tiền căn 22
BN (37,4%) BN đã có tiền sử mổ mật là 37 BN (63,6%)
Đặc điểm lâm sàng
Huyết áp tâm thu trung bình là 73.81 ± 9.06 mmHg và mạch trung bình là 114.66 ± 10.07 l/ph cho thấy tình trạng nặng nề của BN trong nhóm nghiên cứu
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
Các phương pháp và kết quả điều trị Triệu chứng: Đau hạ sườn phải 59 BN (100%),
Gan to 46 BN (77,96%), Túi mật to 45 BN (76,27%),
Đề kháng hạ sườn phải 50 BN (84,74%), Vàng
da-vàng mắt 59 BN (100%)
Chúng tôi có 2 nhóm bệnh: nhóm không mổ 20
BN, nhóm có mổ 39 BN
Điều trị nội khoa
Cận lâm sàng Điều trị nội khoa đơn thuần khi sốc kéo dài >
24g có 5 BN (25%) tỉ lệ tử vong 100%, cho thấy khi
BN sốc kéo dài >24g điều tri nội khoa đơn thuần không không mang lại hiệu quả
Bilirubin trực tiếp TB: 4,9mg%, cao nhất 26mg%,
thấp nhất 0,6mg%
SGOT.TB 427 U/L; SGPT TB 168 U/L
Điều trị nội khoa có PTBD gồm 9 BN (45%) tử vong 4 BN (44,44%), cho thấy khi có hỗ trợ giải áp đường mật hiệu quả thì kết quả điều trị được cải thiện rõ rệt Chúng tôi có 4 BN có sỏi OMC được hồi sức nội khoa có đáp ứng sớm, bỏ được vận mạch trong 24g đầu và trong những ngày sau khi tình trạng bệnh nhân hoàn toàn ổn định sỏi được lấy qua ERCP thành công 2 BN sỏi OMC đơn thuần khác có PTBD kết hợp hồi sức nội khoa cũng ra sốc sớm và lấy sỏi thành công qua ERCP Đây cũng chính là cách chọn lựa hợp lý nhất cho điều trị khi bệnh nhân có đáp ứng sớm với hồi sức nội khoa và có sỏi OMC đơn thuần
Bạch cầu: TB 17.824,4; thấp nhất 5.200; cao nhất
40.900/mm3
Tiểu cầu: giảm < 50.000 chiếm tỉ lệ không cao
18,6% và chất lượng tiểu cầu thấp 23,7%
Cấy máu: 25 BN (42,4%); 10 BN cấy (+): 5 E
coli (2 kết hợp Klebsiella, 1 kết hợp Staphylococcus,
1 kết hợp Streptococcus, 1 đơn thuần), 3 Proteus, 1
Speusdomonas Sp, 1 Enterobacter
Cấy dịch mật: 33 BN (55,9%) Cấy (+) 29 BN
(87,8%): 13 ca E coli đơn thuần hoặc kết hợp với các
vi khuẩn khác, 4 ca Enterobacter, 11 ca Klebsiella, 1
ca Proteus + Pseudomonas Điều trị phẫu thuật
Tỉ lệ kháng thuốc với Ampicilline và
Gentamycine là 100% và Cephalosporin III là 44,8%,
đặc biệt có 2 trường hợp kháng cả Colistin
Phẫu thuật đơn thuần có 29 BN (74,35%) tử vong
13 BN (44,82%) và có PTBD trước mổ là 8 BN (20,51%) tử vong 4 BN (50%) Điều nầy không có nghĩa PTBD không có giá trị khi có phẫu thuật mà chúng tôi nhân thấy PTBD thường được thực hiện với
BN có chỉ định mổ nhưng không mổ ngay được vì tình trạng sốc nặng hay có rối loạn nặng nhiều cơ quan vì vậy kết quả không đồng nhất cho tiêu chuẩn chọn bệnh; Có 2BN có sỏi OMC và sỏi túi mật trong tình trạng nặng nên chỉ được lấy sỏi túi mật và dẫn lưu túi mật, hậu phẫu ổn định và được lấy sỏi sau mổ
2 tuần qua ERCP thành công
Thời điểm chỉ định mổ và kết quả
điều trị
Bảng 1: Kết quả điều trị của các nhóm theo thời điểm
mổ
Số trường hợp N (BN) Thành công Tử vong
Mổ cấp cứu trước 6g khi chưa điều chỉnh đầy đủ
các rối loạn chức năng các cơ quan gây ra do sốc Bảng 2: Các phương pháp và kết quả điều trị.
hợp
Phẫu thuật đơn thuần
Phẫu thuật + PTBD
Phẫu thuật + ERCP
Nội khoa đơn thuần
Nội khoa + PTBD
Nội khoa + ERCP
Nội khoa +
tỉ lệ tử vong đến 36,84% Trong khi mổ cấp cứu có trì hoãn cho tỉ lệ thành công cao hơn
(tử vong chỉ 23,1%) Tuy nhiên, một cuộc phẫu thuật
muộn sau 24g cho kết quả xấu nhất (tử vong 100%)
PTBD +ERCP N
Thành
TV 13 4 0 5 4 0 0 26 Tổng
Do đó không nên quá dựa vào PTBD để chỉ định
mổ muộn khi tình trạng sốc kéo dài > 24g dù có hay
không có sử dụng thuốc vận mạch số 29 8 2 5 9 4 2 59
Trang 4Kết quả Rối loạn đông máu
(TQ < 75%)
PTBD chỉ hỗ trợ cho hồi sức nội khoa chứ
không phải là một phương pháp điều trị sốc NTĐM
do sỏi
Nếu hồi sức nội khoa thành công chúng ta có
thể lấy sỏi OMC đơn thuần qua ERCP mà không
cần phải mổ So sánh tỉ lệ tử vong giữa 2 nhóm
phẫu thuật và phẫu thuật + PTB Ỉ P = 0.682
(χ2): sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Điều
nầy cho thấy PTBD chỉ sử dụng trong những
trường hợp đã có chỉ định mổ nhưng tình trạng
quá nặng không mang lại kết quả khả quan Vì
mẫu chọn so sánh không đồng nhất
So sánh tỉ lệ tử vong giữa hồi sức nội khoa đơn
thuần và hồi sức nội khoa có PTBDỈ P = 0.086
(Fisher’s Test) Sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống
kê, nhưng tỉ lệ tử vong khi có PTBD có sự khác biệt
rõ rệt so với hồi sức nội khoa đơn thuần
Năm 1990 Hoàng Tiến (9) trên 107 trường hợp
sốc nhiễm trùng đường mật đã làm luận văn tốt
nghiệp bác sĩ nội trú “Tình hình điều trị sỏi mật có
biến chứng sốc tại bệnh viện Chợ rẫy 1986-1990”,
tửû vong chung là 41%, tử vong của nhóm có mổ là
27,6%, của nhóm không mổ là 100% Năm 1992
trên 174 bệnh nhân sốc nhiễm trùng đường mật,
Đỗ Kim Sơn(7) có kết quả như sau: không mổ chết
94% (33/35), mổ cấp cứu ngay chết 80% (29/36),
mổ cấp cứu muộn chết 43% (45/103)
Các yếu tố tiên lượng nặng
Bảng 3: So sánh mối liên quan giữa yếu tố suy thận
và tử vong
Kết quả Suy thận (Creatinin>1,5
mg%) N Thành công Tử vong
P= 0.001 (χ
N Thành công Tử vong
P = 0.001 (χ2); sự khác biệt có ý nghĩa thống kêỈ Rối loạn đông máu có liên quan với tử vong
Khi thời gian prothrombin kéo dài (TQ < 75%) cần truyền nhanh plasma tươi ngay trong mổ và sau mổ và chúng tôi không gặp biến chứng chảy máu do rối loạn đông máu trong thời gian chu phẫu
Bảng 5: So sánh mối liên quan giữa yếu tố toan máu
và tử vong.
Kết quả Toan máu (pH <
7.35) N Thành công Tử vong
Không 24 16 8
P = 0.004 (χ2) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Ỉ Toan máu có liên quan với tử vong
Chúng tôi nhận thấy biến chứng gây tử vong thường gặp nhất:
Sốc nhiễm trùng nhiễm độc 24 BN (92,3%)
Suy đa cơ quan 18 BN (69,23%)
Các biến chứng đơn độc hoặc phối hợp làm cho tình trạng bệnh lý càng nặng nề hơn cho công tác hồi sức trước và sau mổ
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thuï(3) cũng nêu
ba điểm: (1) trong sốc nhiễm trùng đường mật tỉ lệ tử vong rất cao, (2) công tác hồi sức rất quan trọng nhất là khi có suy thận, (3) phải dùng kháng sinh có tác dụng đối với vi khuẩn Gram âm
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu việc điều trị sốc nhiễm trùng đường mật do sỏi, để làm giảm tỉ lệ tử vong chúng tôi có một số nhận xét như sau:
2); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Ỉ Suy thận có liên quan đến tử vong phúc mạc, vấn đề quan trọng là việc hồi sức trong vòng Khi chưa có tình trạng viêm phúc mạc và thấm mật
6-24g để điều chỉnh các rối loạn các cơ quan do sốc nhiễm độc gây ra, điều nầy sẽ giúp giảm tỉ lệ tử vong
Trang 5Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
Hồi sức nội khoa nên lưu ý đến các vấn đề:
Điều chỉnh toan hóa máu
Điều chỉnh rối loạn đông máu
Điều chỉnh suy thận
Đưa bệnh nhân ra sốc sớm trước 24h sau mổ
Đặc biệt là nên có sự hỗ trợ của PTBD sớm
ngay khi bắt đầu hồi sức nội khoa thì tỉ lệ thành
công của việc hồi sức sẽ cao hơn Tuy nhiên không
nên quá phụ thuộc vào PTBD khi tình trạng sốc
kéo dài > 24g mà nên nghiêng về hướng chỉ định
phẩu thuật dù là phẫu thuật tối thiểu mới có cơ
may cứu sống bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Định danh các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng và sốc
nhiễm trùng đường mật “ Sinh hoạt khoa học kỹ
thuật bệnh viện Bình Dân tr 104-105
mật sót và tái phát: Đặc điểm, yếu tố nguy cơ và điều
trị phẫu thuật.” Hội nghị khoa học lần thứ XV tr
121-123
những vấn đề đang đặt ra” Ngoại Khoa (2) tr 1-10
Lê Văn Cường Nguyễn Tấn Cường,Võ Tấn Đức,
Nguyễn Thị Lý, Võ Chi Mai, Đặng Tâm (2002) “
Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị bệnh sỏi
mật” Hội Ngoại khoa Việt Nam, Tập XLVIII, (2) tr
1-17
Đình Tam (1999) “Dẫn lưu đường mật xuyên gan qua
da trong bệnh lý tắc nghẽn đường mật”Hội nghị ngoại khoa toàn quốc lần thứ X, tr 85-88
Thúy Oanh, Đỗ Bá Hùng, Hoàng Vĩnh Chúc (2001)” Chỉ định và kết quả phẫu thuật cấp cứu trong viêm đường mật do sỏi đường mật ngoài gan” Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 5 phụ bản (4) tr 60-63
Nguyễn Tiến Quyết, Đỗ Tuấn Anh, Nguyễn Thiều Hoa, Trần Lan Phương (1990) “Sốc nhiễm trùng đường mật Một số biểu hiện lâm sàng và xử trí “ Ngoại khoa, 22 (4).tr.19-26
mật” Luận văn Thạc sĩ khoa học Y Dược, Trường Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
biến chứng sốc tại bệnh viện Chợ Rẫy 1986-1990” Luận văn tốt nghiệp nội trú trường Đại học Y dược
TP Hồ Chí Minh
10 Chen MF, Jan YJ, Lee TY (1987) “Percutaneous transhepatic biliary drainage for acute cholangitis “ Int Surg Jul-Sep; 72(3), pp 131 - 133
11 Chew RK, Lim S, Cheng C, Foong WC (1986).” Acute cholangitis in Singapore”.Ann Acad Med Singapore, 6 Apr; 15(2), pp 172 - 175
12 Himal HS, Lindsay T (1990) “Ascending cholangitis: Surgery versus endoscopic or percutaneous drainage”.Ann Surgery Oct 108 (4), pp 629 - 633
13 Lai Ec, Tam PC, Paterson IA, Ng MM, Fan ST, Choi
TK, Wong J (1990).” Emergency surgery for severe acute cholangitis The high-risk patients “.Ann Surg Jan 211 (1), pp 9 - 55
14 Liu T.J (1990) “ Acute biliary septic shock” HPB Surg Jul 2 (3), 83 –177
15 Bochud PY, Calandra T (2003).” Pathogenesis of sepsis: new concepts and implications for future treatment” BMJ Vol 326.1 February, pp 13 - 17
16 Bryan RT., Michelson MK (1995) “Parasite Infections
of the liver and biliary tree” Gastrointestinal and hepatic infection, pp 405 - 447