1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm hình thái của tứ giác sọ mặt N-S-Ba-Me và chiều cao các tầng mặt trong các sai hình xương 1,2,3 (nghiên cứu trên phim sọ nghiêng)

7 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 293,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm mô tả và phân tích đặc điểm chiều cao các tầng mặt, tứ giác sọ mặt N-S-Ba-Me trong các sai hình xương hạng I,II,III ở những người từ 15-35 tuổi. Phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 180 phim sọ nghiêng (90 nam và 90 nữ) được vẽ nét và đo đạc bằng phần mềm autocad 2010.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA TỨ GIÁC SỌ MẶT N-S-Ba-Me

VÀ CHIỀU CAO CÁC TẦNG MẶT TRONG CÁC SAI HÌNH XƯƠNG I,II,III

(NGHIÊN CỨU TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG)

Lữ Minh Lộc*, Lê Đức Lánh* TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả và phân tích đặc điểm chiều cao các tầng mặt, tứ giác sọ mặt N-S-Ba-Me trong các sai hình

xương hạng I,II,III ở những người từ 15-35 tuổi

Phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 180 phim sọ nghiêng (90 nam và 90 nữ) được vẽ nét và

đo đạc bằng phần mềm Autocad 2010

Kết quả: Chiều cao tầng mặt trước-trên không có sự khác biệt giữa các sai hình, nhưng chiều cao tầng mặt

trước-dưới có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hạng II so với hạng I và III Tỉ lệ của N- ANS’/N-Me’ và ANS’-Me’/N-Me’ lần lượt là 45% và 55% trong cả ba dạng sai hình (với ANS’, Me’ lần lượt là hình chiếu của ANS,

Me lên mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng S-N vẽ từ N) Tổng số đo của hai góc N-S-Ba và S-Ba-Me của nam

và nữ trong từng nhóm sai hình là như nhau Nhưng tổng số đo hai góc này hoàn toàn khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm sai hình Tỉ lệ hai cạnh Ba-S và N-Me không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ trong cùng một nhóm sai hình và giữa ba nhóm sai hình với nhau

Từ khóa: Tứ giác sọ mặt N-S-Ba-Me, chiều cao các tầng mặt

ABSTRACT

THE MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF CRANIALFACE QUADANGLE N-S-Ba-Me AND

CRANIAL HEIGHTS IN SKELETAL CLASS I,II,III MALOCLUSION (RESEARCHED ON LATERAL CEPHALOMETRIC RADIOGRAPHS)

Lu Minh Loc, Le Đuc Lanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 19 - 25

Objective: The aim of this study was to describe and analyse morphological characteristics of the facial

heights, the cranialface quadangle N-S-Ba-Me in skeletal class I, II, III maloclusion of Vietnamese patients aged 15-35

Methods: The sample included 180 lateral cephalometric radiographs (90 males and 90 females) traced and

mesured with Autocad 2010 software

Results: The linear measurements of upper anterior facial height were not statistically significant different

between three groups But there was the significant difference in linear measurements of lower anterior facial height between three groups The proportions of N-ANS’ and ANS’-Me to N-Me’ were 45% and 55% in all groups (ANS’and Me’ are the projected points of ANS and Me on the Nasion perpendicular to S-N plane) There was no statistically significant difference in total angular measurements of N-S-Ba and S-Ba-Me between male and female in each group, but there were statistically significant differences in these measurements between three groups There was no statistically significant difference in the proportion of Ba-S to N-Me between three groups, and between male and female in each group

Keywords: Cranialface quadangle N-S-Ba-Me, cranial heights

* Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Lữ Minh Lộc ĐT: 0913614126 Email: loclu75@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đống Khắc Thẩm(2010)(1) thực hiện nghiên

cứu dọc trên phim sọ nghiêng ở trẻ từ 3 đến 13

tuổi có khớp cắn bình thường đã phát hiện được

một tứ giác sọ mặt là tứ giác đi qua bốn điểm N,

S, Ba, Me có qui luật sau: tổng hai góc N-S-Ba và

S-Ba-Me của tứ giác luôn không đổi cho dù có

sự thay đổi về kích thước các cạnh của tứ giác

trong quá trình tăng trưởng và phát triển Tứ

giác N-S-Ba-Me thể hiện mối liên quan giữa nền

sọ trước, nền sọ sau, xương hàm trên, và xương

hàm dưới của cấu trúc sọ mặt Bên cạnh đó, khi

nghiên cứu các thành phần sọ mặt theo chiều

trước-sau và chiều đứng ở những cá thể có khớp

cắn bình thường, Wylie(1947)(13) nhận ra rằng các

giá trị này dù thay đổi lớn hay nhỏ nhưng

thường có tỉ lệ với nhau Với mong muốn tìm

hiểu những yếu tố liên quan gây bất hài hòa về

vị trí của xương hàm theo chiều trước sau, cũng

như phát hiện những qui luật phát triển của

khối sọ-mặt trong quá trình tăng trưởng và phát

triển, một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện

trên các phim sọ nghiêng ở những người trưởng

thành có các sai hình xương, nhằm đạt được các

mục tiêu sau:

Mô tả đặc điểm chiều cao các tầng mặt trong

các sai hình xương hạng I, II, III

Mô tả các đặc điểm của tứ giác sọ mặt trong

các sai hình xương hạng I, II, III

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu

Mẫu gồm 180 phim sọ nghiêng (90 nam và

90 nữ) với độ tuổi từ 15-35 tuổi được chụp

phim lần đầu khi đến khám và điều trị chỉnh

hình tại khoa Răng Hàm Mặt trường ĐHYD

TPHCM Mẫu được chia đều thành 3 nhóm cụ

thể như sau:

Nhóm 1: Sai hình xương hạng I: góc ANB:

00-40, chỉ số Wits(4) từ -4mm đến 2,1mm

Nhóm 2: Sai hình xương hạng II: góc

ANB>40, chỉ số Wits > 2,1mm

Nhóm 3: Sai hình xương hạng III: góc

ANB<00, chỉ số Wits <-4mm

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Có ông bà, cha mẹ là người Việt Nam, dân tộc Kinh

Tất cả các bệnh nhân đã qua đỉnh tăng trưởng và có hình ảnh đốt sống cổ ở giai đoạn CS6 trở lên theo chỉ số tăng trưởng của đốt sống cổ

Không có điều trị chỉnh hình trước đó Không có những chấn thương hàm mặt, các bất thương hàm mặt do bệnh lí hoặc thói quen xấu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp cắt ngang-mô tả

Vẽ nét phim sọ nghiêng và xác định các điểm, đường, mặt phẳng chuẩn

Tất cả các phim sọ nghiêng đúng tiêu chuẩn nghiên cứu đều do một người vẽ nét trên giấy

vẽ nét chuyên dùng trong chỉnh hình răng mặt với viết chì đường kính nhỏ 0,5mm

Phương pháp đo đạc trên phim

180 phim sọ nghiêng được vẽ nét và scan vào máy vi tính

Chuẩn hóa hình ảnh đã được scan vào máy

vi tính theo tỉ lệ 1/1 so với bản vẽ nét

Dùng phần mềm Autocad 2010 để vẽ các đường thẳng, mặt phẳng, các góc độ và tiến hành đo các góc độ và khoảng cách theo mục tiêu đề ra

Xử lý số liệu

Các số liệu được phân tích thống kê theo chương trình SPSS để tìm giá trị trung bình,

độ lệch chuẩn, các giá trị lớn nhất, các giá trị nhỏ nhất

Thống kê mô tả: Tính toán số trung bình và độ

lệch chuẩn của mỗi đặc điểm nghiên cứu ở ba nhóm sai hình xương cho cả nam và nữ

Thống kê suy lý: Kiểm định bằng t-test: để

xác định sự khác biệt nếu có giữa các đặc tính

Trang 3

nghiên cứu của nam và nữ trong từng sai

hình xương

Kiểm định F (kiểm định ANOVA) kết hợp

với Tukey: để xác định sự khác biệt nếu có giữa các đặc tính nghiên cứu giữa ba nhóm sai hình xương

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chiều cao và tỉ lệ các tầng mặt

Bảng 1: Số đo chiều cao và tỉ lệ các tầng mặt trong ba nhóm sai hình xương

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

S-Go

(mm)

Nam 88,24± 6,48 84,04± 6,08 86,61 ± 6,32

Nữ 81,24 ±4,97 78,37 ±5,8 78,62 ± 5,48 Chung 84,74± 6,73 81,21 ±6,55 82,61 ± 7,12 p=0,018*

p(1) p<0,001*** p<0,001*** p<0,001***

P I-II =0,004** P I-III =0,094 P II-III =0,263

N-Me

(mm)

Nam 130,99± 7,50 132,27± 6,71 132,48 ± 8,22

Nữ 121,04 ±5,90 126,74 ±8,00 123,12 ±6,55 Chung 126,01± 8,36 129,50 ±7,83 127,80 ±8,75 p=0,074

p(1) p<0,001*** p=0,005** p<0,001***

P I-II =0,020* P I-III =0,254 P II-III =0,264

N-ANS

(mm)

Nam 59,40± 3,83 59,16± 3,49 60,01 ± 2,85

Nữ 54,33 ±3,66 56,28 ±3,05 55,46 ± 3,3 Chung 56,86± 4,51 57,72 ±3,56 57,74 ±3,82 p=0,393

p(1) p<0,001*** p=0,001*** p<0,001***

P I-II =0,252 P I-III =0,255 P II-III =0,977

ANS-Me

(mm)

Nam 72,84± 5,86 76,01± 6,74 72,75 ± 6,73

Nữ 68,02 ±5,64 73,40 ±7,72 68,00 ± 5,13 Chung 70,43± 6,2 74,70 ±7,3 70,38 ± 6,4 p<0,001***

p(1) p=0,002** p=0,169 p=0,003**

P I-II =0,001*** P I-III =0,961 P II-III =0,001***

Tỉ lệ chiều cao của các tầng mặt

Bảng 2: Tỉ lệ chiều cao của các tầng mặt trong ba nhóm sai hình xương

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

N-Me/S-Go

Nam 1,49 ± 0,12 1,58± 0,11 1,53 ± 011

Nữ 1,49 ±0,10 1,62 ± 0,13 1,57 ±0,13 Chung 1,49± 0,11 1,60 ±0,12 1,55 ± 0,12 p<0,001***

P I-II <0,001*** P I-III =0,005** P II-III =0,032*

ANS-Me/N-ANS

Nam 1,23 ± 0,11 1,29± 0,15 1,21 ± 0,11

Nữ 1,26 ±0,15 1,31 ± 0,14 1,23 ±0,11 Chung 1,24± 0,13 1,30 ±0,15 1,22 ± 0,11 p=0,004**

P I-II =0,035* P I-III =0,304 P II-III =0,001***

Tỉ lệ số đo chiều cao và hình chiếu của các tầng mặt trước

Bảng 3: Tỉ lệ số đo chiều cao và hình chiếu của các tầng mặt trước trong ba nhóm sai hình xương

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

N-ANS/N-Me

Nam 0,45± 0,02 0,45± 0,03 0,45 ± 0,02

Nữ 0,45 ±0,03 0,44 ± 0,03 0,45 ± 0,02 Chung 0,45± 0,03 0,45 ±0,03 0,45 ± 0,02 p=0,425

Trang 4

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

ANS-Me/N-Me

Nam 0,56± 0,02 0,57± 0,03 0,55 ± 0,02

Nữ 0,56 ±0,03 0,58 ± 0,03 0,55 ± 0,02 Chung 0,56± 0,03 0,58 ±0,03 0,55 ± 0,02 p<0,001***

P I-II =0,001*** P I-III =0,067 P II-III <0,001***

N-ANS’/N-Me’

Nam 0,46± 0,02 0,45± 0,03 0,45 ± 0,02

Nữ 0,45 ±0,03 0,45± 0,03 0,45 ± 0,02 Chung 0,45± 0,03 0,45± 0,03 0,45 ± 0,02 p=0,632

ANS’-Me’/N-Me’

Nam 0,55± 0,02 0,55 ±0,03 0,55± 0,02

Nữ 0,55 ±0,03 0,55 ±0,03 0,55± 0,02 Chung 0,55 ±0,03 0,55 ±0,03 0,55± 0,02 p=0,632

Tứ giác S-N-Ba-Me

Bảng 4: Các đặc điểm của tứ giác S-N-Ba-Me trong ba nhóm sai hình xương

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

NSBa+SBaMe(0)

Nam 230,38 ± 4,57 232,59 ± 4,20 227,47 ± 3,98

Nữ 228,34 ± 3,25 233,73 ± 5,50 227,12 ± 4,12 Chung 229,36 ± 4,06 233,16 ± 4,89 227,29 ± 4,02 p<0,001***

P I-II <0,001*** P I-III =0,006** P II-III <0,001***

S-Ba-Me(0)

Nam 100,24 ± 5,22 103,60 ± 5,04 99,32 ± 6,19

Nữ 98,77 ± 4,57 103,26 ± 7,25 97,75 ± 4,32 Chung 99,51 ± 4,92 103,43 ± 6,19 98,54 ± 5,35 p<0,001***

P I-II <0,001*** P I-III =0,304 P II-III <0,001***

Kích thước và hướng phát triển của xương hàm dưới

Bảng 5: Kích thước và hướng phát triển xương hàm dưới trong ba nhóm sai hình xương

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

N-S-Me (0)

Nam 70,84 ± 3,98 74,63 ± 3,87 68,12 ± 3,24

Nữ 70,40 ± 2,79 75,08 ± 4,48 68,17 ± 3,70 Chung 70,62 ± 3,46 74,86 ± 4,16 68,14 ± 3,45 p<0,001***

P I-II <0,001*** P I-III <0,001*** P II-III <0,001***

S-Me (mm)

Nam 135,43 ± 6,84 131,56 ± 5,76 141,29 ± 8,11

Nữ 125,71 ± 5,51 125,84 ± 6,80 130,90 ± 7,19 Chung 130,57 ± 7,87 128,70 ± 6,88 136,10 ± 9,23 p<0,001***

p(1) p<0,001*** p=0,001*** p<0,001***

P I-II =0,169 P I-III =0,001*** P II-III <0,001***

Ba-Me(mm)

Nam 117,05 ± 7,79 110,19 ±6,12 124,10 ± 8,06

Nữ 109,26 ±5,21 106,39 ± 6,15 115,83 ± 6,35 Chung 113,16 ± 7,66 108,29 ± 6,38 119,97 ± 8,31 p<0,001***

p(1) p<0,001*** p=0,020* p<0,001***

P I-II <0,001*** P I-III =0,006** P II-III <0,001***

Tỉ lệ số đo độ dài các cạnh của tứ giác N-S-Ba-Me

Bảng 6: Tỉ lệ độ dài các cạnh của tứ giác N-S-Ba-Me trong ba nhóm sai hình xương

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

Trang 5

Số đo Giới tính Hạng I Hạng II Hạng III Giá trị p (2)

Ba-S/N-Me

Nam 0,39± 0,03 0,38± 0,02 0,38 ± 0,03

Nữ 0,40 ±0,03 0,38± 0,03 0,39 ± 0,03 Chung 0,39± 0,03 0,38± 0,03 0,38 ± 0,03 p=0,052

S-N/Ba-Me

Nam 0,63± 0,04 0,66± 0,04 0,58 ± 0,04

Nữ 0,62 ±0,03 0,64± 0,03 0,59 ± 0,03 Chung 0,63± 0,04 0,65± 0,04 0,59 ± 0,04 p<0,001***

P I-II <0,001*** P I-III <0,001*** P II-III <0,001***

BÀN LUẬN

Chiều cao và tỉ lệ của tầng mặt trước-trên,

tầng mặt trước-dưới

Số đo trung bình chiều cao tầng mặt

trước-trên (N-ANS) trong ba loại sai hình xương

không có sự khác biệt, đồng thời số đo này gần

như nhau ở riêng nhóm nam lẫn nhóm nữ của

ba nhóm sai hình Như vậy chiều dài tầng mặt

trước-trên là thành phần tương đối ổn định và

không phải là nguyên nhân gây ra các bất hài

hòa theo chiều trước-sau giữa các xương hàm

Chiều cao tầng mặt trước-dưới (ANS-Me)

trong nhóm sai hình xương hạng I và III tương

đương nhau và nhỏ hơn có ý nghĩa so với nhóm

hạng II (p<0,001) Theo McNamara(5), khoảng

cách này càng lớn thì xương hàm dưới càng có

khuynh hướng phát triển lui sau, xuống dưới và

ngược lại Từ kết quả nghiên cứu cho thấy,

xương hàm dưới có khuynh hướng phát triển

theo hướng đóng (xoay lên trên và ra trước)

trong sai hình hạng I và III, và có khuynh hướng

phát triển theo hướng mở trong sai hình hạng II

Tóm lại, sự phát triển theo hướng đóng hay mở

của mặt có nguyên nhân chủ yếu do sự tăng trưởng

vùng lồi cầu hay độ xoay của xương hàm dưới là một

trong những yếu tố góp phần tạo nên các sai hình

xương theo chiều trước-sau

Tỉ lệ N-ANS/N-Me của từng cá thể trong cả

ba sai hình xương, ở nam lẫn nữ đều có giá trị

tương đương nhau (xấp xỉ 45%), thêm vào đó, tỉ

lệ giữa hình chiếu của N-ANS và N-Me lên mặt

phẳng vuông góc với mặt phẳng S-N vẽ từ N

của các sai hình xương I, II, III đều bằng 45%

Như vậy, kích thước tầng mặt trước trên của

từng cá thể có thể thay đổi theo kích thước sọ mặt của riêng cá thể đó, nhưng vẫn tuân theo qui luật nhất định nhằm tạo lại sự hài hòa, ổn định của tầng mặt trước-trên (tầng mặt giữa) so với tầng mặt trước, cho dù có hay không có các bất thường về vị trí của xương hàm theo chiều trước-sau

Tỉ lệ ANS-Me/N-Me của từng cá thể trong ba sai hình xương có sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,001), nhưng không có sự khác biệt về tỉ lệ này giữa nam và nữ trong cùng một nhóm sai hình Tỉ lệ giữa hình chiếu của ANS-Me và

N-Me lên mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng

S-N vẽ từ S-N của cả ba nhóm sai hình đều bằng

thay đổi theo từng cá thể và đồng thời tỉ lệ về số

đo kích thước của tầng mặt này so với tầng mặt trước cũng thay đổi theo từng loại sai hình xương, nhưng sự thay đổi này luôn thỏa mãn một điều kiện đó chính là phải luôn đảm bảo tỉ

lệ 55% giữa hình chiếu của ANS-Me và N-Me lên trên mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng

SN vẽ tại N để nhằm tạo lại sự cân đối (về xương) của các tầng mặt theo chiều đứng

Như vậy, sự phát triển của khối sọ mặt theo chiều đứng là sự phát triển có tính qui luật: các điểm N, ANS và Me định vị tại những vị trí sao cho tỉ lệ hình chiếu N-ANS’/N-Me’ và ANS’-Me’/N-Me’ (với các điểm ANS’, Me’ lần lượt là hình chiếu của ANS và

Me trên mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng S-N vẽ

từ N) lần lượt là 45% và 55% Qui luật này luôn hiện diện dù có hay không có sự bất hài hòa về vị trí của hai xương hàm theo chiều trước-sau

Xương hàm trên và nền sọ trước tăng trưởng

và phát triển sớm hơn xương hàm dưới, cho nên

Trang 6

các điểm N và ANS thuộc khối xương này sẽ có

vị trí ổn định trước hơn so với điểm Me thuộc

khối xương hàm dưới Do đó nếu dựa theo tỉ lệ

hình chiếu của các điểm N, ANS, Me lên mặt

phẳng vuông góc với mặt phẳng S-N vẽ từ N

sau khi biết được hướng tăng trưởng của mặt, ta

có thể dự đoán được vị trí điểm Me, từ đó có thể

có những can thiệp sớm cho vùng cằm Ngoài

ra, với qui luật này, những can thiệp chỉnh hình

gây giảm hoặc tăng quá mức kích thước dọc

tầng dưới mặt sau điều trị dẫn đến tỉ lệ

ANS’-Me’/N-Me’ khác biệt hơn 55% sẽ có kết quả

không vững ổn, khả năng tái phát cao

Tứ giác N-S-Ba-Me

Tổng số đo hai góc N-S-Ba và S-Ba-Me

Theo kết quả nghiên cứu, tổng số đo của

hai góc N-S-Ba và S-Ba-Me của nam và nữ

trong từng nhóm sai hình không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, tổng số

đo hai góc này hoàn toàn khác biệt có ý nghĩa

giữa ba nhóm sai hình (p<0,001) Như vậy, qui

luật được phát hiện trong nghiên cứu của

Đống Khắc Thẩm (2010)(1) vẫn đúng trong

từng nhóm sai hình xương nhưng khi có sự

bất hài hòa theo chiều trước-sau của các

xương hàm thì qui luật này không được thể

hiện Điều này gợi ý những sai biệt theo chiều

trước-sau của xương hàm trên và xương hàm

dưới đã hình thành từ trước và tiếp tục duy

trì cho đến hết giai đoạn tăng trưởng của cơ

thể hay nói cách khác sai hình xương theo

chiều trước-sau là do yếu tố di truyền quyết

định

Trong tứ giác Ba-Me, số đo của góc

N-S-Ba như nhau ở cả ba dạng sai hình xương, số đo

của góc S-Ba-Me gần như tương đương nhau

giữa nam và nữ trong cùng một sai hình, nhưng

có sự khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm sai hình

(p<0,001) Như vậy độ mở của góc S-Ba-Me là một

trong những yếu tố tạo nên sự sai biệt về tương quan

theo chiều trước-sau của hai xương hàm Góc

S-Ba-Me càng mở lớn thì sai hình xương càng có khuynh

hướng hạng II và góc này càng thu hẹp thì khuynh

hướng hạng III của cá thể càng thể hiện rõ

Hướng tăng trưởng và chiều dài mặt tương đối trong tứ giác sọ mặt

Theo nghiên cứu của Đống Khắc Thẩm (2010)(1) hướng tăng trưởng chung của xương hàm dưới được biểu hiện qua số đo của góc N-S-Me, số đo góc này hầu như không thay đổi trong quá trình tăng trưởng và phát triển của cơ thể Khi quan sát góc N-S-Me trong cả ba sai hình xương, độ lớn của góc khác biệt rất có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm sai hình (p<0,001) Tuy nhiên, số đo này gần như nhau giữa nam và

nữ trong cùng một nhóm sai hình Như vậy, độ

lớn của góc N-S-Me đã được qui định từ rất sớm, và riêng biệt cho từng loại sai hình xương, hay nói cách khác, có sự can thiệp của yếu tố di truyền trong sự hình thành các sai hình xương

Tỉ lệ các cạnh của tứ giác sọ mặt

Tỉ lệ hai cạnh trên và dưới của tứ giác sọ mặt

là S-N và Ba-Me ở nam và nữ đều giống nhau trong cùng một sai hình xương, tuy nhiên, có một sự khác biệt có ý nghĩa khi so sánh tỉ lệ này giữa các sai hình (p<0,001) Điều này một lần nữa cho thấy phải chăng có một qui định từ trước các bất hài hòa theo chiều trước-sau để rồi trong quá trình tăng trưởng và phát triển, tuy có

sự khác biệt giữa tỉ lệ S-N và Ba-Me giữa các sai hình, nhưng tỉ lệ này giống nhau giữa những cá thể trong cùng một sai hình

Tỉ lệ hai cạnh Ba-S và N-Me của tứ giác N-S-Ba-Me không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ, cũng như giữa ba nhóm sai hình Như vậy, dù có hay không có sự sai biệt theo chiều trước-sau của xương hàm, sự thay đổi vị trí của các điểm N và Me trong quá trình tăng trưởng và phát triển theo chiều đứng của khối

sọ mặt luôn tuân theo một qui luật nhằm duy trì một tỉ lệ ổn định giữa kích thước nền sọ sau (Ba-S) và kích thước tầng mặt trước (N-Me) Qui luật này nhằm giúp tạo khối sọ mặt thành một tổng thể hài hòa theo chiều trước-sau, để có được sự cân bằng về mặt trọng lực từ trước ra sau, giúp khối đầu-mặt luôn thăng bằng trên cột sống trong tư thế đứng thẳng của con người.

Trang 7

KẾT LUẬN

Chiều cao và tỉ lệ các tầng mặt

Chiều cao tầng mặt trước-trên không có sự

khác biệt giữa các sai hình, nhưng chiều cao

tầng mặt trước-dưới có sự khác biệt có ý nghĩa

giữa hạng II so với hạng I và III

Sự phát triển của khối sọ mặt theo chiều

đứng là sự phát triển có tính qui luật Các điểm

N, ANS và Me định vị tại những vị trí sao cho tỉ

lệ của N-ANS’/N-Me’ và ANS’-Me’/N-Me’ lần

lượt là45% và 55% cho dù có hay không có sự

bất hài hòa về vị trí của hai xương hàm (với

ANS’, Me’ lần lượt là hình chiếu của ANS, Me

lên mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng S-N vẽ

từ N)

Tứ giác N-S-Ba-Me

Tổng số đo của hai góc N-S-Ba và S-Ba-Me

của nam và nữ trong từng nhóm sai hình là

như nhau Nhưng tổng số đo hai góc này

hoàn toàn khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

ba nhóm sai hình (nguyên nhân khác biệt do

số đo góc S-Ba-Me)

Tỉ lệ hai cạnh S-N và Ba-Me gần như giống

nhau giữa nam và nữ trong cùng một sai hình

xương, nhưng khi so sánh tỉ lệ này giữa các sai

hình có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Tỉ lệ hai cạnh Ba-S và N-Me không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ trong cùng một nhóm sai hình và giữa ba nhóm sai hình với nhau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đống Khắc Thẩm (2010) Mối liên hệ giữa nền sọ và hệ thống sọ-mặt trong quá trình tăng trưởng, nghiên cứu dọc trên phim đo sọ ở trẻ em từ 3-13 tuổi Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược TP.HCM

2 Đống Khắc Thẩm (2009) Tương quan giữa chiều dài nền sọ trước với xương hàm trên, xương hàm dưới và chiều cao tầng mặt: nghiên cứu dọc trên phim đo sọ ở trẻ từ 3-13 tuổi Tạp chí Y học TP.HCM, 13(2): 10-15

3 Bishara SE (2001) Textbook of Orthodontics WB Saunders, 43-96

4 Enlow D (1990) Facial Growth, 3rd edition WB Saunders

5 Jacobson A (1988) Update on the Wits appraisal Angle Orthodontist, 58: 205-219

6 Jacobson A (1995) Radiographic Cephalometry from basics to videoimaging Quintessence Publising Co Inc, 113-126

7 Kasai K, Kanazawa E, Iwasawa T, Kasai K, Moro T, Kanazawa E, Iwasawa T (1995) Relationship between cranial base and maxillofacial morphology Eur J Orthod, 17: 403-410

8 M.Ozgur S, Turkkahraman H (2005) Cephalometric Evaluation of Nongrowing Female with Skeletal and Dental Class II, division 1 Malocclusion Angle Orthod, 75: 656-660

9 Nguyễn Thị Bích Ngọc (2010) Phân tích sơ đồ lưới trên người Việt Nam trưởng thành Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dược TP.HCM

10 OO Polat-B Kaya (2007) Changes in cranial base morphology in

different malocclusions Orthod Craniofacial Res, 10: 216-221

11 Proffit WR (2007) Contemporary Orthodontics, fourth edition Mosby Inc, an affiliate of Elsevier Inc, 27-161

12 Siriwat PP, Jarabak JR (1985) Malocclusion and facial

morphology-is there a relationship? an epidemiologic study Angle Orthod, 55: 127-138

13 Wylie WL (1947) The assessment of anteroposterior dysplasia Angle Orthod, 17: 97-109

Ngày đăng: 20/01/2020, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w