1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp người trẻ

6 72 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 391,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa các bệnh nhân trẻ tuổi và lớn tuổi trong nhồi máu cơ tim cấp nhằm hỗ trợ cho việc dự phòng tiên phát và thứ phát trong tương lai.

Trang 1

MÁU CƠ TIM CẤP NGƯỜI TRẺ 

Nguyễn Văn Bé Hai*, Hồ Thượng Dũng* 

TÓM TẮT 

Nền tảng: Tỉ lệ nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp ở người trẻ khác nhau qua nhiều nghiên cứu. Một số nghiên 

cứu trong những năm gần đây đã bàn về đặc điểm dịch tễ học của NMCT cấp ở những đối tượng bệnh nhân đặc  biệt. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu về NMCT cấp ở bệnh nhân trẻ tuổi. Với mục tiêu tìm hiểu sự tương đồng và  khác biệt giữa các bệnh nhân trẻ tuổi và lớn tuổi trong NMCT cấp nhằm hỗ trợ cho việc dự phòng tiên phát và  thứ phát trong tương lai, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này. 

Phương pháp: Từ dữ liệu của 568 bệnh nhân nhập viện vì NMCT cấp từ 2007 đến 2012, chúng tôi so sánh 

các yếu tố nguy cơ tổn thương mạch vành ở ba nhóm tuổi: ≤ 45 tuổi, 46‐60 tuổi và > 60 tuổi.  

Kết quả: Tỉ lệ nam bị NMCT cấp chiếm ưu thế trong cả ba nhóm tuổi(97,6%, 85,1%, 59,6%, p<0,0001). 

Có sự khác biệt về tỉ lệ hút thuốc lá(80,8%, 63,7%, 32%, p= 0,017), tăng huyết áp (35,9%, 58,6%, 78,5%, p=  0,001), đái tháo đường (10,3%, 18,1%, 34,2%, p= 0,001) giữa nhóm trẻ tuổi so với hai nhóm 46‐60 tuổi và trên 

60 tuổi. Không có sự khác biệt về tiền căn gia đình, rối loạn lipid máu, chỉ số khối cơ thể giữa ba nhóm tuổi.  Trong nghiên cứu này tất cả các trường hợp nhồi máu cơ tim cấp được chụp mạch vành. Có một số bệnh nhân  tìm được nguyên nhân khác với xơ vữa động mạch, đó là 3 trường hợp cầu cơ và trong 7 trường hợp co thắt  mạch vành thì có 4 trường hợp dương tính với heroin. Có 8 trường hợp thử protein S, protein C và Anti throbin  III đều âm tính. 

Kết luận: Chúng tôi nhận thấy bệnh nhân trẻ bị NMCT cấp đa số là nam giới, hay hút thuốc lá trong khi tỉ 

lệ THA và ĐTĐ ít hơn so với nhóm bệnh nhân lớn tuổi. Có môt số bệnh nhân NMCT cấp ≤ 45 tuổi có nguyên  nhân xác định không phải xơ vữa động mạch. 

Từ khóa: Nhồi máu cơ tim cấp. 

ABSTRACT 

CHARACTERISTICS OF RISK FACTORS IN PATIENTS WITH ACUTE MYOCARDIAL INFARCTION 

YOUNG PEOPLE 

Nguyen Van Be Hai, Ho Thuong Dung 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 288 ‐ 293 

Background. There has been some disagreement about the proportion of young patients among those with 

acute  myocardial  infarction  (AMI).  A  number  of  studies  in  recent  years  have  discussed  the  epidemiologic  characteristics of AMI in a variety of selected populations. However, few reports have compared AMI in young  men and women. We conducted this study with the aim to investigate the similarities and differences between  older and younger patients with AMI in the hope of using these data to assist with both primary and secondary  prevention in the future. 

Method. From a database of 568 patients admitted to Tâm Đức hospital with acute MI between 2007 and 

2012, we compared risk factors of patients divided into 3 age categories: ≤ 45 years, 46‐60 years, and > 60 years. 

Results. Most of patients were male (97.6%, 85.1%, 59.6%, p<0.0001). There were differences in smoking 

* Bệnh viện Thống Nhất 

Trang 2

rate  (80.8%,  63.7%,  32%,  p=  0.017),  hypertension  rate  (35.9%,  58.6%,  78.5%,  p=  0.001),  diabetes  (10.3%,  18.1%, 34.2%, p= 0.001) between young group and the elder groups. We found no difference in family history,  BMI and dyslipidemia. There are a number of patients find different causes atherosclerosis which is the case for  the 3 and the 7 cases, the coronary spasm 4 cases positive for heroin. There are 8 test cases protein S, protein C  and Anti thrombin III were negative. 

Conclusion. Most of young patients are male. The frequency of risk factors in the young patients differs 

from those in their elderly counterparts. Conversely two common risk factors of hypertension and diabetes, acute 

MI is less than the group of elderly patients. There are a number of acute MI patients ≤ 45 years of age have not  determined the cause of atherosclerosis. 

Keyword: Acute myocardial infarction. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Nhồi  máu  cơ  tim  (NMCT)  cấp  là  một  cấp 

cứu thường gặp, có nhiều biến chứng và gây tỉ lệ 

tử  vong  cao  tại  các  nước  phát  triển,  đặc  biệt  là 

trong  giai  đoạn  cấp.  Theo  thống  kê  hàng  năm, 

tại Hoa kỳ có 1,5 triệu ca NMCT cấp hàng năm. 

Bệnh  nhân  phải  nhập  viện  cấp  cứu  do  NMCT 

cấp có đoạn ST chênh lên, tỉ lệ tử vong còn cao 

30% tại viện cũng như sau 1 tháng, sau 1  năm, 

trong đó một nửa tử vong trong giờ đầu tiên(1). 

Mặc  dù,  NMCT  thường  được  coi  là  bệnh 

của  người  cao  tuổi  và  trung  niên  trở  lên, 

nhưng trong những năm gần đây do tình hình 

kinh  tế  phát  triển,  chăm  sóc  y  tế  ngày  càng 

nâng cao, phương tiện chẩn đoán hiện đại hơn, 

thì việc phát hiện bệnh NMCT ở người trẻ tuổi 

càng nhiều. 

Các  nghiên  cứu  của  nước  ngoài,  NMCT 

cấp  của  người  trẻ(≤  45  tuổi)  ít  gặp  khoảng  2‐

10%(6),  bệnh  nhân  rất  trẻ  lại  càng  ít  gặp  hơn 

khoảng 0,4‐1%(9,12). 

Trong vòng 30 năm, các nghiên cứu cho thấy 

tỉ lệ này giao động từ 2‐10%(8). Năm 1995, nghiên 

cứu CASS (the Coronary Artery Surgery Study) 

cho  thấy  tỉ  lệ  NMCT  cấp  ở  bệnh  nhân  dưới  40 

tuổi là khoảng 4%(20). 

Tuy nhiên năm 1994, Hong và cộng sự phát 

hiện  tỉ  lệ  này  là  10,3%  ở  dân  số  Trung  Quốc(10). 

Năm  2007,  Wiwun  Tungsubutra  và  cộng  sự  ở 

Thái Lan tỉ lệ NMCT cấp người trẻ là 5,8%(18). Sự 

khác biệt này chưa được lý giải, nhưng có lẽ liên 

quan đến dân số nghiên cứu. 

Y  văn  trước  đây  cho  thấy  các  yếu  tố:  hút  thuốc  lá,  sử  dụng  cocain,  tiểu  đường,  rối  loạn 

mỡ  máu  là  những  yếu  tố  nguy  cơ  gây  xơ  vữa  sớm. Mặc dù NMCT cấp ở bệnh nhân ≤ 45 tuổi  xảy  ra  khoảng  từ  2‐10%  trong  tất  cả  các  ca  NMCT cấp(6). Tuy nhiên, NMCT ở người trẻ tuổi  sinh  lý  bệnh  cũng  thay  đổi,  thường  là  không  phải  do  mảng  xơ  vữa  trừ  khi  có  gien  qui  định  hay tăng Lipid máu có tính gia đình. Các nghiên  cứu trước đây cho thấy bệnh nhân trẻ bị NMCT  cấp  thường  hay  hút  thuốc  lá(8,19)  và  tăng  cholesterol máu(8). Ngoài ra các bệnh nhân trẻ ít  khi có tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp và  đau thắt ngực(4,8). 

NMCT ở người trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến  vấn đề điều trị bệnh lâu dài, tâm lý và tài chính  của bệnh nhân. 

Một  số  nghiên  cứu  trong  những  năm  gần  đây đã bàn về đặc điểm dịch tễ học của NMCT  cấp  ở  những  đối  tượng  bệnh  nhân  đặc  biệt.  Ở  nước  ta,  những  nghiên  cứu  về  NMCT  cấp  ở  người trẻ còn rất ít, phần lớn những nghiên cứu  bàn  về  đặc  điểm  dịch  tễ  học  của  NMCT  cấp  ở  những  đối  tượng  bệnh  nhân  đặc  biệt.  Giới  hạn 

về  tuổi  ở  bệnh  nhân  bệnh  mạch  vành  hay  NMCT  trẻ  thay  đổi  trong  các  nghiên  cứu  là  40  hoặc  45.  Với  mong  muốn  tìm  hiểu  sự  tương  đồng,  sự  khác  biệt  về  các  yếu  tố  nguy  cơ  tim  mạch  giữa  bệnh  nhân  trẻ  và  lớn  tuổi  trong  NMCT cấp nhằm góp phần trong việc xác định  các đặc điểm riêng biệt của NMCT cấp ở người  trẻ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục  tiêu nhằm khảo sát tần suất và đặc điểmcác yếu 

Trang 3

tố  nguy  cơ  ở  nhóm  bệnh  nhânNMCT  đặc  biệt 

này. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Những  bệnh  nhân  nhập  viện  tại  Bệnh  viện 

Tim Tâm Đức từ tháng 01 năm 2007 đếntháng12 

năm 2012. Được chẩn đoán NMCT cấp dựa theo 

tiêu  chuẩn  của  ESC/AHA/ACC/WHF  tháng 

10/2007. 

Thu thập số liệu theo 3 nhóm tuổi ≤ 45 tuổi; 

từ 46 đến 60 tuổi và trên 60 tuổi. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân có NMCT cũ. 

Các  trường  hợp  bệnh  lý  van  tim  nặng  kèm 

theo. 

Bệnh ĐMV mạn. 

Bệnh nhân đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu 

mạch vành trước đó. 

Phương pháp nghiên cứu 

Tôi thực hiện nghiên cứu này bằng phương 

pháp  hồi  cứu  và  tiến  cứu,  phân  tích  cắt  ngang, 

có  so  sánh  giữa  các  nhóm  tuổi.  Từ  đó,  rút  ra 

những điểm tương đồng cũng như sự khác biệt 

giữa các nhóm tuổi. 

Định nghĩa các biến số 

Tuổi là biến định lượng liên tục, nhóm trẻ ≤ 

45 tuổi, trung niên từ 46 – 60 tuổi, lớn tuổi > 60 

tuổi; Giới là biến định tính gồm hai giá trị nam 

và nữ. 

Chẩn đoán NMCT cấptheo tiêu chuẩn chẩn 

đoán ESC/AHA/ACC/WHF (10/2007). 

Tiền  sử  gia  đình  mắc  bệnh  tim  mạch  sớm 

(bố, mẹ hoặc con): nam <50 tuổi và nữ < 55 tuổi. 

Bệnh nhân được xem là có hút thuốc lá khi 

hút  ít  nhất  10  điếu  thuốc/ngày  trong  hai  năm 

liên tiếp trở lên (theo thang đo Framingham). 

Chẩn  đoán  tăng  huyết  áp:  tiêu  chuẩn  chẩn 

đoán  tăng  huyết  áp  theo  JNC  VII  năm  2003. 

Tăng  huyết  áp  ≥  140/90  mmHg  hoặc  đã  được 

chẩn đoán tăng huyết áp và đang dùng thuốc hạ 

áp. 

Đái  tháo  đường  theo  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  đái  tháo  đường  theo  Hiệp  hội  ĐTĐ  Hoa  Kỳ  (ADA) năm 2010. 

Trên  bệnh  có  triệu  chứng  của  đái  tháo  đường  cổ  điển.  Trong  hướng  dẫn  2013,  các  chuyên  gia  của  ADA  nhắc  lại  sự  cần  thiết  của  việc  cá  thể  hóa  mục  tiêu  điều  trị.Đối  với  đa  số  bệnh  nhân  đái  tháo  đườngtrưởng  thành  không 

có thai, mục tiêu HbA1c < 7% là phù hợp(1).   Rối loạn lipid máu phân chia theo Hiệp hội  Châu Á Thái Bình Dương năm 2001: Có rối loạn 

≥ 1 thành phần trong các chỉ tiêu sau: cholesterol 

≥ 5,1 mmol/L, LDL‐c ≥ 3,3 mmol/L, HDL‐c ≤ 0,9  mmol/, triglyceride ≥ 1,8 mmol/L. 

Chỉ  số  đánh  giá  BMI  dựa  theo  tiêu  chuẩn  của Hiệp hội đái tháo đường Đông Nam Á năm 

2001 ở người trưởng thành. 

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 

Các  số  liệu  được  nhập  và  xử  lý  bằng  phần  mềm thống kê stata 11.3. Các số liệu được xử lý  theo thuật toán thống kê y học. Các biến liên tục  trong  nghiên  cứu  được  trình  bày  dưới  dạng  trung bình ± độ lệch chuẩn, tỉ lệ %, nếu số liệu có  phân phối bình thường hoặc số trung vị (khoảng 

tứ vị) nếu có phân phối không bình thường. Sử  dụng phép kiểm định “t student” không bắt cặp  khi so sánh hai số trung bình và χ2 để so sánh 2 

tỷ  lệ.  Khi  so  sánh  3‐4  tỷ  lệ  dùng  kiểm  định  ANOVA đối với nhóm phương sai đồng nhất và  phép  kiểm  phi  tham  số  nếu  phương  sai  không  đồng nhất. Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa  thống kê khi p<0,05. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Chúng  tôi  thu  thập  được  568  bệnh  nhân  nhồi máu cơ tim cấp, vào Bệnh viện Tim Tâm  Đức  từ  tháng  01  năm  2007  đến  tháng  12  năm 

2012,  được  chẩn  đoán  là  NMCT  cấp  và  đã  được chụp mạch vành qua da có cản quang để  chẩn đoán xác định. 

Trang 4

Tuổi 

Bảng 1. Sự phân bố theo tuổi. 

Tuổi Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Tổng số 568 100

Tuổi  trung  bình  của  toàn  bộ  các  đối  tượng 

nghiên cứu là 60,9 ±13,3 tuổi.Bệnh nhân trẻ nhất 

là 32 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất 91 tuổi. Trong 

số các đối tượng này có 78 (13,7%) bệnh nhân ≤ 

45 tuổi, 215 (37,8%)bệnh nhân từ 46‐ 60 tuổi và 

275 (48,4%) bệnh nhân trên 60 tuổi. 

Như đã đề cập ở phần mở đầu, nhóm bệnh 

nhân trẻ tuổi tuy chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng rất đáng 

được  quan  tâm  với  mục  tiêu  kiểm  soát  yếu  tố 

nguy  cơ  phòng  ngừa  thứ  phát.  Trong  nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  13,7%  bệnh  nhân  bị  NMCT 

cấp  ở  độ  tuổi  ≤  45.  So  với  một  số  nghiên  cứu 

khác  như  của  Michele  Doughty  và  cộng  sự(7)  là 

10%, Tiziano Moccetti và cộng sự là 17,2% thì tỷ 

lệ của chúng tôi là phù hợp với hai nghiên cứu  này. 

Giới tính  Bảng2. Sự phân bố theo giới tính. 

Biến số ≤ 45 tuổi n = 78, n (%)

46 - 60 tuổi

n = 215, n (%)

> 60 tuổi n

= 275 (n%) Giá trị P

Giới nam 76 (97,4) 183 (85,1) 164 (59,6)

P < 0,001 Giới nữ 2 (2,6) 32 (14,9) 111 (40,4)

Nhận  xét:  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

gồm:  423  (74,5%)  bệnh  nhân  nam  và  145  (25,5%)nữ.  Trong  cả  ba  nhóm  tuổi,  chúng  tôi  nhận  thấy  tỷ  lệ  nam  cao  hơn  nhiều  so  với  nữ,  tuổi càng trẻ thì tỷ lệ nam càng cao 97,4% so với  85,1% và 59,6%. 

Các  nghiên  cứu  trước  đó  cho  thấy  đa  số  bệnh nhân trẻ bị NMCT là nam giới(6,10,17). Nhìn  chung,  97,4%  bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  nam  giới,  tuy  nhiên  con  số  2,6%  ở 

nữ (2 bệnh nhân) cũng đáng lưu ý. Tỉ lệ này gần  tương  tự  với  những  nghiên  cứu  trước  đó,  phụ 

nữ  trẻ  tuổi  bị  NMCT  cấp  chỉ  chiếm  từ  5%  đến  10%(5,6,16). 

Đặc điểm các yếu tố nguy cơ tim mạch 

Bảng 4.Các yếu tố nguy cơ tim mạch. 

Yếu tố nguy cơ (YTNC) ≤ 45 tuổi n =78, (n%) 46 - 60 tuổi n =215,(n%) > 60 tuổi n =275,(n%) Giá trị p

Đái tháo đường

HbA1c < 7%

8 (10,3) 2(25%)

39 (18,1) 15(38,5%)

94 (34,2) 43(57,5%)

P=0,001 P=0,918 BMI (TB±SD)

Thừa cân

Béo phì

25,2 ± 3,3 16(20,5)

42 (58,9)

24,9 ± 3,4 65(30,2)

91 (42,3)

23,4 ± 3,1

71 (25,8) 63(22,9)

P= 0,391

Về  tỷ  lệ  các  yếu  tố  nguy  cơ  giữa  các  nhóm 

tuổi,  chúng  tôi  nhận  thấy  tỷ  lệ  tăng  huyết  áp 

giữa ba nhóm khác biệt rõ có ý nghĩa thống kê 

(p=  0,001),  tỷ  lệ  tăng  huyết  áp  ở  nhóm  trên  60 

tuổi  chiếm  cao  nhất  (78,5%),  nhóm  ≤  45  tuổi 

chiếm thấp nhất (35,9%). 

Về tình trạng hút thuốc lá, nếu phân bố theo 

từng nhóm tuổi thì chúng tôi nhận thấy ở nhóm 

≤ 45 tuổi có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất (80,8%) so 

với nhóm 46‐60 tuổi, nhóm > 60 tuổi theo thứ tự 

là (63,7% và 32%,) (p= 0,017). 

Về  tình  trạng  đái  tháo  đường  có  141  chiếm 

tỷ lệ 24,8%. Nếu phân nhóm ≤ 45 tuổi có 5,7% bị  đái tháo đường, trong khi đó ở nhóm > 60 tuổi là  66,6%,  ở  nhóm  46‐60  tuổi  là  27,7%  (p=  0,001).  Kiểm soát HbA1C tốt (HbA1c < 7%) phân nhóm 

≤ 45 tuổi là 25%, trong khi đó ở nhóm > 60 tuổi là  45,7%, ở nhóm 46‐60 tuổi là 38,5%, không có sự  khác biệt giữa các nhóm (p= 0,918). 

Trang 5

BMI  trung  bình  và  thừa  cân  giữa  ba  nhóm 

cũng  không  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p> 

0,391). Trong khi tỷ lệ béo phì ở nhóm ≤ 45 tuổi 

cao nhất 58,9%, so với nhóm 46‐60 tuổi là 42,3% 

nhưng  không  có  sự  khác  biệt  (p=0,664),  nhưng 

so với nhóm ≤ 45 tuổi và nhóm 46‐60 với nhóm > 

60 tuổi có sự khác biệt (p < 0,0001). 

Ghi nhận các đối tượng có tiền căn gia đình 

bệnh lý mạch vành sớm, nếu tính % theo nhóm 

tuổi thì ở nhóm ≤ 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn hai 

nhóm còn lại, tuy nhiên sự khác biệt cũng không 

có ý nghĩa thống kê (p= 0,316). 

Bảng 5. Rối loạn cholesterol máu. 

Cholesterol

máu

≤ 45 tuổi

n =78, n(%)

46 - 60tuổi

n =215, n(%)

> 60 tuổi

n =275, n(%) Giá trị p

Cholesterol TP 40 (52) 101(47,2) 109 (39,8) P=0,09

HDL – C 41 (53) 113 (53,3) 129 (48,3) P=0,405

LDL – C 41 (52,6) 100 (46,5) 100 (36,5) P=0,024

Triglyceride 50 (61,4) 114 (53,3) 108 (39,4)CI 95%:1-2,2

Xét chung cho toàn bộ mẫu nghiên cứu thì tỷ 

lệ  cholesterol  toàn  phần  trung  bình,  HDL‐C 

trung bình, LDL‐C trung bình,triglyceride trung 

bình lần lượt là 4,9 ± 1,3; 1,0 ± 0,3; 3,1 ± 1,1; 2,1 ± 

1,3.  Về  cholesterol,  ở  nhóm  ≤  45  tuổi  cao  hơn 

(52%) so với nhóm 46‐60 tuổi và nhóm > 60 tuổi 

theo  thứ  tự  là  47,2%  và  39,8%,nhưng  không  có 

sự khác biệt giữa các nhóm (p= 0,090). HDL – C 

giữa ba nhóm cũng không khác biệt có ý nghĩa 

thống kê (p> 0,405). LDL –  C  ở  nhóm  ≤  45  tuổi 

(52,6%)  vànhóm  46‐60  tuổi  (46,5%)  cao  hơn 

nhóm  >  60  tuổi  (36,5%)sự  khác  biệt  này  có  ý 

nghĩa thống kê (p= 0,024). Triglyceride ở nhóm ≤ 

45  tuổi  (64,1%)  và  nhóm  46‐60  tuổi  (53,3%)  cao 

hơn nhóm > 60 tuổi (39,4%), (CI 95%:1‐2,2). 

Tỷ lệ hiện mắc của bệnh mạch vành sớm là 

2‐11% ở các bệnh nhân nhập viện vì NMCT cấp. 

Tỷ lệ bệnh gia tăng do tiếp xúc sớm với những 

yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành như hút thuốc 

lá,  tăng  lipid  máu  và  stress.  Những  bệnh  nhân 

trẻ tuổi có tỷ lệ tăng huyết áp và đái tháo đường 

thấp hơn(14). Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 

bệnh mạch vành sớm chủ yếu xảy ra ở nam giới 

như những nghiên cứu trước đó(2). Hút thuốc lá, 

rối  loạn  chuyển  hóa  lipide  máu  và  tiền  sử  gia  đình  là  những  yếu  tố  nguy  cơ  rất  quan  trọng  trong bệnh lý xơ vữa ở người trẻ(3,5). Hút thuốc lá 

đã được biết là một yếu tố nguy cơ cho bệnh tim  mạch(14,20).Teixeira  và  cộng  sự  nhận  thấy  những  bệnh nhân < 45 tuổi có tỉ lệ hút thuốc từ 82,8%(13).  Wiwun  Tungsubutra  và  cộng  sự  nhận  thấy  những bệnh nhân người Thái Lan < 45 tuổi có tỷ 

lệ hút thuốc là 65,9%(17). Nghiên cứu của  chúng  tôi là 80,8%. Hút thuốc lá thúc đẩy nhanh bệnh 

lý mạch vành và làm gia tăng hình thành huyết  khối,  điều  này  làm  khởi  phát  NMCT  cấp  ở  độ  tuổi  trẻ.  Teixeira  và  Wiwun  Tungsubutracho  thấy rằng hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ thường  nhất  và  tần  suất  hút  thuốc  lá  có  sự  khác  biệt  ý  nghĩa  giữa  bệnh  nhân  trẻ  và  lớn  tuổi.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tỉ  lệ  hút  thuốc  lá  ở  bệnh nhân ≤ 45 tuổi nhiều hơn so với hai nhóm  còn lại, sự khác biệt có ý nghĩa (p=0,017).Tương 

tự, tiền sử gia đình bị NMCT cấp cũng hay gặp 

ở  những  bệnh  nhân  trẻ.  Tỉ  lệ  trong  nghiên  cứu  này  là  7,7%,  trong  khi  nghiên  cứu  của  Wiwun  Tungsubutra  là  23,6%(17),  sự  khác  biệt  này  là  trong nghiên cứu của chúng tôi phần lớn không 

rõ tiền căn gia đình. THA cũng được biết là yếu 

tố nguy cơ của bệnh động mạch vành nhưng ít  quan  trọng  ở  bệnh  nhân  trẻ  tuổi  hơn  là  bệnh  nhân  lớn  tuổi.  Nghiên  cứu  của  Teixeira  và  Wiwun  Tungsubutra  là  28,9%,  30,5%;  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tỉ  này  là  35,9%,  sự  khác  biệt  nàycó  thể  do  những  quốc  gia  khác  nhau  có  liên  quan  với  sự  khác  biệt  về  tần  suất  các yếu tố nguy cơ. ĐTĐ là yếu tố nguy cơ độc  lập  của  bệnh  động  mạch  vành.  Xơ  vữa  động  mạch vành nặng hơn cũng như tần suất thường  hơn ở bệnh nhân ĐTĐ so với bệnh nhân không  ĐTĐ. Tỉ  lệ  THA  và  ĐTĐ  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  ít  gặp  ở  bệnh  nhân  trẻ  tuổi,  kết  quả  này cũng tương tự như những  nghiên  cứu  gần  đây(14,17,20).  Kiểm  soát  HbA1c  <  7%  để  giảm  các  biến  chứng  về  tim  mạchtrong  nghiên  cứu  của  chúng tôi ở nhóm ≤ 45 tuổi chỉ có 25% kiểm soát  tốt thấp hơn hai nhóm còn lại là 38,5% và 45,7%.  Mối  liên  hệ  giữa  tăng  cholesterol  máu  và  bệnh  động mạch vành hiện nay đã được thiết lập rõ. 

Trang 6

Theo  Wiwun  Tungsubutra  và  cộng  sự,  NMCT 

cấp ở người trẻ có kèm với tăng cholesterol máu 

chiếm 77,4% tổng số trường hợp. Trong nghiên 

cứu  này,  nếu  tính  phần  trăm  theo  nhóm  thì  ở 

nhóm ≤ 45 tuổi có tỉ lệ rối loạn lipid máu cao hơn 

hai nhóm còn lại. 

Nhiều  nghiên  cứu  trước  đó  đã  cố  gắng  xác 

định  nguyên  nhân  gây  NMCT  cấp  ở  người  trẻ 

và  kết  quả  là  ngoài  bệnh  mạch  vành  còn  có 

những yếu tố khác có thể góp phần quan trọng ở 

một số bệnh nhân, bao gồm co thắt mạch vành, 

bóc  tách  mạch  vành,  tắc  nghẽn  mạch  vành  do 

tình  trạng  tăng  đông  hay  viêm  mạch  máu(6,16). 

Tuy nhiên, tình trạng xơ vữa vẫn là yếu tố bệnh 

nguyên  phổ  biến  nhất  ở  những  bệnh  nhân  trẻ 

tuổi(6). 

Trong nghiên cứu này tất cả các trường hợp 

nhồi máu cơ tim cấp được chụp mạch vành.Có 

một số bệnh nhân tìm được nguyên nhân khác 

với xơ vữa động mạch, đó là 3 trường hợp cầu 

cơ và trong 7 trường hợp co thắt mạch vành thì 

có  4  trường  hợp  dương  tính  với  heroin.  Có  8 

trường  hợp  thử  protein  S,  protein  C  và  Anti 

throbin III đều âm tính. Do đó, việc tìm nguyên 

nhân cần phải chú ý ở nhóm bệnh nhân này. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu 78 trường hợp NMCT cấp 

≤  45  tuổi  trong  568  trường  hợp  NMCT  cấp, 

chúng  tôi  nhận  thấy  bệnh  nhân  trẻ  bị  NMCT 

cấp đa số là nam giới với tỷ lệ hút thuốc lá rất 

cao  (80,8%).Rối  loạn  chuyển  hóa  lipide 

máuchủ  yếu  là  tăng  LDL‐  C  và  tăng  TG. 

Ngược  lại  2  yếu  tố  nguy  cơ  thường  gặp  của 

NMCT cấp là THA và ĐTĐ ít hơn so với nhóm 

bệnh  nhân  lớn  tuổi.  Có  môt  số  bệnh  nhân 

NMCT cấp ≤ 45 tuổi có nguyên nhân xác định 

không phải xơ vữa động mạch. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 American  Diabetes  Association.  Standards  of  medical  care  in 

diabetes – 2013. Diabetes Care 2013;36(1):11‐ 66. 

2 Antman  E,  Bassand  J,  Klein  W,  et  al  (2000).  Myocardial 

infarction  redefined‐a  consensus  document  of  the  Joint 

European  Society  of  Cardiology/American  College  of 

Cardiology  Committee  for  the  redefinition  of  myocardial 

infarction: the Joint European Society of Cardiology/American 

College  of  Cardiology  Committee.  J  Am  Coll  Cardiol;36:959‐

69. 

3 Badui E, Rangel A, Valdespino A, et al (1993). Acute myocardial  infarct  in  young  adults‐a  report  of  142  cases.  Arch  Inst  Cardiol 

Mex;63:529‐37. 

4 Bajaj S, Shamoon F, Gupta N, Parikh R, Parikh N, Debari VA, 

Hamdan  A,  Bikkina  M.  (2011).  Acute  ST‐  segment  elevation  myocardial interfarction in young aldults: who is at risk?. Coronary 

Artery Disease; 22 (4): 238‐44. 

5 Barbash GI, White HD, Modan M, et al (1995). Acute myocardial  infarction in the young—the role of smoking: the Investigators of the  International Tissue Plasminogen Activator/Streptokinase Mortality  Trial. Eur Heart J;16:313‐16. 

6 Choudhury  L,  Marsh  JD  (1999).  Myo  myocardial  infarction  in  young patients. Am J Med;107:154‐261. 

7 Doughty M, Mehta R, et al (2002). Acute myocardial infarction in  the young‐The University of Michigan experience. American Heart 

Journal;143(1). 

8 Erikssen  J,  Forfang  K,  Storstein  O  (1997).  Angina  pectoris  in  presumably healthy middle aged men. Eur J Cardiol;6:285‐98. 

9 Gotsman  I,  Lotan  C,  Mosseri  M.  (2003).  Clinical  manifestation  and outcome of acute myocardial infarction in very young patients. 

IMAJ;5:633‐36. 

10 Hong  MK,  Cho  SY,  Hong  BK,  et  al  (1994).  Acute  myocardial  infarction in young adults. Yonsei Med J;35:184‐89. 

11 Nguyễn Lân Việt, Phạm Mạnh Hùng, Phạm Gia Khải (2008). 

Chụp động mạch vành. Bệnh học tim mạch, NXB Y học; tập 1:157 

– 70. 

12 Shiraishi J, Shiraishi H, Hayashi H,  et  al  (2005).  Interventional  treatment  for  very  young  adults  with  acute  myocardial  infarction  clinical manifestatrions and outcome. Int Heart J;46:1‐12. 

13 Teixeria M, Sá L, et at (2010). Acute coronary syndrome in young  adults. Rev port Cardiol,; 29(6): 947‐55. 

14 Teng  JK,  Tsai  LM,  Kwan  CM,  et  al  (1994).  Acute  myocardial  infarction  in  young  and  very  old  Chinese  adults:  clinical  characteristics and therapeutic implications. Int J Cardiol;44:29‐36. 

15 Thạch Nguyễn (2001).Một số vấn đề cập nhật trong chẩn đoán và  điều trị bệnh tim mạch. NXB Y học Hà Nội:25‐66. 

16 Toyofuku  M,  Goto  Y,  Matsumoto  T,  et  al  (1996).  Acute  myocardial infarction in young Japanese women.  J  Cardiol;28:313‐

19. 

17 Warren  SE,  Thompson  SI,  Vieweg  WVR  (1979).  Historic  and  angiographic  features  of  adults  surviving  myocardial  infarction. 

Chest;75:667‐70. 

18 Wiwun  Tungsubutra,  Damras  Tresukosol  (2007).  Acute  Coronary Syndrome in young adults: The Thai ACS Registry. j Med 

Assoc Thai; 90(1):81‐88. 

19 Wolfe MW, Vacek JL (1998). Myocardial infarction in the young. 

Chest;94: 926‐30. 

20 Zimmerman  F,  Cameron  A,  Fisher  L,  et  al  (1995).  Myocardial  infarction  in  the  young:  angiographic  characterization,  risk  factors,  and  prognosis  (Coronary  Artery  Surgery  Study.  J  Am  Coll 

Cardiol; 26:654‐261. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:    10‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:      01‐8‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w