1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối quan hệ giữa tăng homocysteine huyết tương và nhồi máu não

6 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 249,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu hiện nay đã làm sáng tỏ tương quan giữa tăng homocysteine và đột quỵ thiếu máu. Chúng tôi nghiên cứu tương quan giữa đột quỵ thiếu máu và các nguy cơ xơ vữa mạch bao gồm homocysteine huyết tương. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG HOMOCYSTEINE HUYẾT TƯƠNG

VÀ NHỒI MÁU NÃO

Cao Phi Phong*

TÓM TẮT

Các nghiên cứu hiện nay đã làm sáng tỏ tương quan giữa tăng homocysteine và đột quỵ thiếu máu Chúng tôi nghiên cứu tương quan giữa đột quỵ thiếu máu và các nguy cơ xơ vữa mạch bao gồm homocysteine huyết tương

Phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng 220 bệnh nhân nhồi máu não (112 nữ và 108 nam, tuổi

trung bình 60,71±11,9) điêu trị nội trú ở đơn vị đột quỵ và 230 ca chứng

Kết quả: mức độ homocysteine trung bình trong nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng (13,28± 5,49 so với 9,67±3,07 p<0,001) Tỷ lệ tăng homocysteine vừa nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng (25,5% so với 3,9% p<0,001) Trên cơ sở hồi quy log, tỷ suất chênh homocysteine >15μmol/L là 8,38 (95% CI 4,03-17,43 p<0,001) so với <15μmol/L Sau khi điều chỉnh yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch và phái, tuổi tỷ suất chênh là 5,29 (95%CI 2,40-11,64 p<0,001)

Kết luận: các bằng chứng tìm thấy trong nghiên cứu chúng tôi đề nghị tăng homocysteine vừa là

yếu tố nguy cơ độc lập nhồi máu não

SUMMARY

AN ASSOCIATION BETWEEN PLASMA HYPERHOMOCYSTEINE

AND CEREBRAL INFARCTION

Cao Phi Phong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 127 – 132

The present study was performed to clarify the relation between plasma hyperhomocysteine and ischemic stroke We studied the relationship between ischemic stroke and the known risk factors for atherosclerosis including plasma homocysteine

Methods: We conducted a hospital based case-control study with 220 in-patient cerebral infarctions

(112 female and 108 male, mean 60,71±11,9 years) in stroke unit and 230 controls

Results: the mean plasma level homocysteine was higher in cases than in controls (13,28± 5,49 versus 9,67±3,07 p<0,001) The proportion of subjects with moderate plasma hyperhomocysteine was significantly higher in cases than in controls (25,5% versus 3,9% p<0,001) Based on the logistic regression model, the odds ratio homocysteine >15μmol/L was 8,38 (95% CI 4,03-17,43 p<0,001) compare with <15 μmol/L After additional adjustment risk factors for atherosclerosis and sex, age, the odds ratio was 5,29 (95%CI 2,40-11,64 p<0,001)

Conclusions: These findings suggest that moderate plasma hyperhomocysteine is an independent

risk factor for cerebral infarction

GIỚI THIỆU

Homocysteine là sulfhydryl amino acid, tiền chất

là methionine một amino acid cần thiết có nguồn gốc

từ protein thực phẩm Năm 1969 McCully tìm thấy ở các trẻ em tiểu homocysteine chết do rối loạn biến dưỡng cobalamin có biểu hiện xơ cứng động mạch lan rộng tương tự các trường hợp tiểu homocysteine

* Bộ môn Nội Thần Kinh trường ĐHYD TP.HCM

127

Trang 2

gây xơ cứng động mạch Trong những năm qua

nhiều nghiên cứu bệnh chứng cho thấy tương quan

mạnh giữa tăng homocysteine vừa và bệnh lý xơ vữa

mạch máu Tuy nhiên không có nghiên cứu mối

quan hệ giữa homocysteine huyết tương và bệnh

nhân nhồi máu não ở Việt Nam, nghiên cứu này

nhằm xác định rõ tương quan giữa tăng

homocysteine huyết tương và bệnh nhồi máu não,

đánh giá tương tác của homocysteine và các yếu tố

nguy cơ mạch máu truyền thống

ĐỐI TƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu bệnh – chứng mô tả và phân tích,

đối tượng là các bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu

não do huyết khối điều trị nội trú ở đơn vị đột quỵ

bệnh viện Nhân Dân 115

Nhóm bệnh: 220 bệnh nhân nhồi máu não do

huyết khối được xác định chẩn đoán dựa trên lâm

sàng và hình ảnh học (CT hay MRI não trong 3 tuần

đầu) Loại trừ bệnh nhân không hợp tác trong nghiên

cứu, xuất huyết não, huyết khối tĩnh mạch, bóc tách

động mạch hay giảm tưới máu não, bệnh nhồi máu

do viêm nhiễm (viêm động mạch đại bào, luput ban

đỏ hệ thống, viêm nút nhiều động mạch, giang mai,

AIDS), rối loạn huyết học, nhiễm trùng, dùng

cocaine, amphetamines, bệnh loạn sản xơ cơ, bệnh

Takayasu, bệnh tim gây thuyên tắc như rung nhĩ,

nhồi máu cơ tim gần, thay van tim hay viêm nội tâm

mạc Các yếu tố gây nhiễu homocysteine như suy

thận hay chạy thận nhân tạo giai đoạn cuối, bệnh lý

ác tính, suy gan, suy giáp, dùng thuốc chống động

kinh, L-dopa, methotrexate, cholestyramine,

penicillamine, thuốc ngừa thai, kích thích tố, uống

vitamin nhóm B và folic acid

Nhóm chứng: 230 đối tượng chọn ngẫu nhiên từ

bệnh nhân ngoại trú trong cùng thời gian, không có

tiền sử đột quỵ hay bị đột quỵ hoặc biết có bệnh lý

mạch máu khác Kiểm tra bằng chứng bệnh lý xơ vữa

mạch qua đo điện tim gắng sức nếu có đau ngực hay

siêu âm động mạch cảnh nếu có âm thổi động mạch

cảnh, tiền sử cao huyết áp, tiểu đường hay hút thuốc,

Mẫu thử homocysteine Mẫu máu lấy vào buổi sáng sau một đêm nhịn đói trong 5 ngày đầu, giữ lạnh trong nước đá và đưa đến phòng xét nghiệm ly tâm trong 5 phút ở nhiệt độ 4 độ C, tách huyết thanh trong 4 giờ đầu sau đó được giữ ở – 80 độ C cho đến khi phân tích Homocysteine toàn phần được định lượng theo phương pháp miễn dịch huỳnh quang phân cực (fluorescene polarization immunoassay- FPIA) của Abbott′s Kit & IMx System, USA

Xử lý thống kê

Xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS (Statistical Package for Social Science) ấn bản 11.5 Giá trị của các biến liên tục bằng trung bình ± độ lệch chuẩn, so sánh giá trị trung bình và tỷ lêï của các yếu tố nguy cơ mạch máu giữa nhóm bệnh và chứng dùng phép kiểm chi bình phương (χ2) trong biến định tính và t-test trong biến định lượng Do homocysteine huyết tương có độ lệch là 1,11 nên tính biến đổi log và trung vị

Mối tương quan giữa homocysteine và các yếu tố nguy cơ đột quỵ được tính bằng hệ số tương quan Pearson Điểm cắt cho tăng homocysteine vừa là > 15μmol/L, đỉnh 95% của phân phối homocysteine trong nhóm chứng Hồi quy bội log được dùng để ước lượng tỷ suất chênh nhồi máu não và khoảng tin cậy 95% điều chỉnh tuổi, phái và các yếu tố nguy cơ khác (tăng cholesterol huyết thanh toàn phần điểm cắt 180mg/dl, tăng LDL điểm cắt 130mg/dl) với có hay không cao huyết áp, tiểu đường, hút thuốc lá, uống rượu và trên 65 tuổi như biến độc lập phân đôi và có hay không có nhồi máu như biến phụ thuộc Sự tương tác giữa homocysteine và cao huyết áp hay các yếu tố nguy cơ khác được khảo sát trong phân tích tầng Tất cả các giá trị xác xuất được phân tích bằng test 2-phía với mức ý nghĩa thống kê p< 0,05

KẾT QUẢ

Sự khác biệt giữa nhóm bệnh và chứng Tuổi trung bình bệnh nhân nhồi máu não 60,71±11,91 nhỏ nhất 24 lớn nhất 87 gồm 112 nữ và

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

108 nam và chứng tuổi trung bình 59,13±12,85 nhỏ

nhất 33 lớn nhất 84 gồm 122 nữ và 108 nam Không

có sự khác biệt có ý nghĩa tuổi, phái giữa nhóm bệnh

và chứng (p>0,05) Các yếu tố nguy cơ mạch máu

truyền thống cao hơn trong bệnh nhân nhồi máu

Nguy cơ nhồi máu não do cao huyết áp cao hơn 6,02

lần, tăng homcysteine vừa cao hơn 8,38 lần với mức ý

nghĩa p< 0,001 và hút thuốc lá cao hơn 3,47 lần

(p=0,001) Nguy cơ nhồi máu do các yếu tố khác như

lớn tuổi(≥65) gấp 1,18 lần, tiểu đường gấp 1,28 lần,

uống rượu gấp 1,88 lần, tăng cholesterol gấp 1,05 lần

và tăng LDL gấp 1,27 lần nhưng không có ý nghĩa (p

>0,05) (bảng 1)

Bảng 1: Tỷ suất chênh, các yếu tố nguy cơ nhồi máu

giữa nhóm bệnh và chứng

Bệnh

(n=220) (n=230) Chứng OR 95% CI p

Phái nữ

Cao huyết áp

Tiểu đường

Hút thuốc lá

Uống rượu

> 65 tuổi

Tăng homocysteine

Tăng cholesterol

Tăng LDL

50,9%

65,5%

14,5%

13,6%

6,4%

41,8%

25,5%

70%

38,2%

53%

23,9%

11,7%

4,3%

3,5%

39,1%

3,9%

68,8%

32,7%

6,02 1,28 3,47 1,88 1,18 8,38 4,03 –17,43 1,05

1,27

3,99 -9,09 0,73 -2,21 1,65 -7,29 0,77 -4,58 0,76 - 1,62 0,70 -1,60 0,85 -1,89

0,7

< 0,001 0,3 0,001 0,1 0,5

< 0,001 0,7 0,2

Bảng 2: Homocysteine và các yếu tố nguy cơ mạch máu

Bệnh

(n=220)

Chứng (n=230)

p*

Tuổi(trung bình ± SD) 60,71±11,91 59,13±12,85 0,1

Homocysteine toàn

phần (μmol/L)

Trung vị (khoảng

cách)

0,001 Trung bình (95%CI)

13,28(12,55-14,01)

9,67(9,27-10,07) Cholesterol toàn

phần(mg/dL)

Trung vị(khoảng cách) 202(84-603) 203(111-440) 0,9

LDL(mg/dL)

Trung vị(khoảng cách) 123(32-312) 115,5(14-285) 0,2

HDL(mg/dL)

Trung vị(khoảng cách) 0,96(0,15-2,15) 1.09(0,49-1,83) 0,4

Bệnh

(n=220)

Chứng (n=230)

p*

Tuổi

Homocysteine trung bình bệnh nhân nhồi máu não 13,28μmol/L(95%CI 12,55-14,01) cao hơn so với nhóm chứng 9,67μmol/L(95% CI 9,27-10,07) mức ý nghĩa p< 0,001 Không có sự khác biệt có ý nghĩa về cholesterol(p= 0,9), LDL (p= 0,2), HDL (p=0,9), creatinine (p=0,4) và tuổi (p=0,1) giữa 2 nhóm (bảng 2)

Phân loại tăng vừa homocysteine huyết tương toàn phần lúc đói được xác định khi >15μmol/L (tương ứng đỉnh 95% của phân phối homocysteine trong nhóm chứng) Tỷ lệ tăng homocysteine vừa hiện mắc ở bệnh nhân nhồi máu não là 25,5% cao hơn nhóm chứng 3,9% mức ý nghĩa p < 0,001

Độ lệch chuẩn:3,07 Trung bình:9,67μmol/L Độ lệch:1,11

Số ca:230

Biểu đồ 1: Phân phối homocysteine nhóm chứng:

trung bình 9,67μmol/L, độ lệch chuẩn 3,07, khoảng tin cậy 95% 9,27-10,07μmol/L, trung vị 9,10μmol/L, tối thiểu 4μmol/L tối đa 22,97 μmol/L, tứ phân dưới 7,56μmol/L, tứ phân trên (75%) 11,26μmol/L, 95% 15 μmol/L Phân phối homocysteine có độ lệch 1,11

Tần số

129

Trang 4

Độ lệch chuẩn: 5,49

Trung bình: 13,28μmol/L

Độ lệch: 2,63

Số ca:220

Biểu đồ 2: Phân phối homocysteine bệnh nhân nhồi

máu não

Nguy cơ nhồi máu não do tăng homocysteine

Hồi quy bội log được xây dựng nhồi máu não như

biến phụ thuộc, homocysteine và các yếu tố nguy cơ

như biến độc lập Bằng phương pháp loại trừ dần, kết

quả các biến dự đoán quan trọng nguy cơ nhồi máu

gồm: homocysteine, cao huyết áp và hút thuốc lá

Bảng 3: Các thông số trong phương trình hồi quy

tương quan

Độ sai chuẩn

p

Homocysteine

(>15μmol/L)

Biểu đồ 3: Đồ thị nguy cơ nhồi máu theo tứ phân

homocysteine

Phương trình nguy cơ nhồi máu não dự đoán phụ

áp)- 1,11(hút thuốc lá)

Tăng vừa homocysteine (> 15μmol/L) nguy cơ nhồi máu não OR= 8,38(95% CI 4,03-17,43 p< 0,001), sau điều chỉnh tuổi, phái và yếu tố nguy cơ khác OR= 5,29 (95% CI 2,40-11,64 p<0,001) so sánh

< 15μmol/L Tăng 5μmol/L homocysteine từ 10 đến 15μmol/L OR=1,91 (95% CI 1,31-2,80 p=0,001) và sau điều chỉnh OR=2,11 (95%CI 1,35-3,29 p = 0,001) Tương quan giữa các biến độc lập rất thấp không đáng kể, homocysteine-cao huyết áp r =-0,008 và homocysteine-hút thuốc r =0,14 Tương quan giữa nhồi máu não -hút thuốc lá r=-0,9, nhồi máu não-cao huyết áp(r=-0,4) và nhồi máu não-tăng homocysteiner =-0,19

Tương tác giữa homocysteine và các yếu tố nguy cơ Phân tích phân tầng cho thấy không có tương tác giữa tăng homocysteine và yếu tố nguy cơ cao huyết áp Bệnh nhân cao huyết áp không có tăng homocysteine khác biệt giữa lô chứng và bệnh (p=0,08) Hút thuốc lá có tương tác tăng homocysteine gây tăng nguy cơ nhồi máu não(OR= 7,33(95%CI 3,49-15,38 p<0,001))so với không hút thuốc

BÀN LUẬN

Chúng tôi lấy mẫu thử homocysteine huyết tương lúc đói trong tuần lễ đầu khởi bệnh, một số nghiên cứu định lượng homocysteine lúc không đói(8) Hầu hết các nghiên cứu trước đây tăng homocysteine lúc đói được đề nghị như yếu tố nguy

cơ cho bệnh lý tắc mạch(2,7), bệnh nhân nhồi máu não thuộc các chủng tộc có nguy cơ cao, nồng độ homocysteine huyết tương cao hơn những người khoẻ mạnh(2,11,14), tỷ lệ tăng homocysteine vừa hiện mắc cao hơn 3,3 lần Các số liệu ở người da trắng tăng homocysteine trong giới hạn từ 18,5%(gấp 1,8 lần)(9) đến 22% (gấp 4,4 lần)(4) và 42%(gấp 6,6 lần)(1) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân nhồi máu não tăng homocysteine 25,5% (> 15 μmol/L) tương đương với người da trắng, thấp hơn người Mã lai 30% (>15,2μmol/L)(8) và cao hơn người nam

Homocysteine

Tần

số

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

<7.56 7.56-11.26 >11.26 >15

OR

Nhồi

máu

não

OR thô OR điều chỉnh

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Triều Tiên 16,7% (15,5μmol/L)(17) Hiện nay các

nghiên cứu đều chọn điểm cắt cho tăng

homocysteine ở đỉnh 95% phân bố homocysteine

trong nhóm chứng do đó có thể là nguyên nhân khác

biệt tỷ suất chênh

Nồng độ trung bình homocysteine huyết tương ở

những người bình thường rất khác nhau và tùy thuốc

vào nhiều yếu tố như di truyền, điều kiện và tập quán

sinh sống, giữa các nước phát triển và chậm phát

triển Homocysteine trung bình trong nhóm chứng

của chúng tôi 9,67 μmol/L nằm trong giới hạn nhiều

nghiên cứu ở Châu Âu từ 9,73μmol/L(62)

-10,6μmol/L(14,15) Ở Singapore homocysteine trung

bình người bình thường 16,3μmol/L(6) cao hơn các

nước Châu Á khác có thể do phương pháp nghiên cứu

(bảng 4)

Bảng 4: So sánh homocysteine trung bình ở người

khoẻ mạnh Châu Á

Việt Nam Mã Lai (8) Nam Triều

Tiên (17)

Đài Loan (16)

Trung Quốc (13)

Úc (3)

Homocysteine trung bình bệnh nhân nhồi máu

não của chúng tôi là 13,28μmol/L cao hơn nhóm

chứng 9,19μmol/L mức ý nghĩa p<0,001, tương tự

với nhiều nghiên cứu lớn ở châu Âu(5) và Châu Á

(bảng 5)

Bảng 5: Homocysteine trung bình bệnh nhân nhồi

máu não ở Châu Á

Việt Nam Mã Lai (8) Nam Triều

Tiên (17)

Đài Loan (16)

Trung Quốc (13) Úc (3)

Định lượng homocysteine chúng tôi thực hiện

trong 7 ngày đầu đột quỵ nên có thể thấp hơn do

bệnh nhân dùng vitamin nhóm B và thay đổi chế độ

dinh dưởng(9), vì vậy có thể chưa đánh giá đúng mức

sự quan trọng của homcysteine trong phát triển nhồi

máu não Nồng độ homocysteine trong huyết tương

cao có thể ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền hay môi

trường hoặc cả hai Hiện nay ở Việt Nam chưa xác

định đươc tỷ lệ hiện mắc MTHFR đồng hợp tử dễ bị

huỷ bởi nhiệt, chế độ dinh dưởng thiếu vitamin và

yếu tố tuổi tác có thể là nguyên nhân gây tăng homocysteine ở bệnh nhân nhồi máu não Tỷ lệ hiện mắc enzim MTHFR dễ bị huỷ bởi nhiệt độ đồng hợp tử ở Châu Á 20%, Nam Triều Tiên 11,8% tương tự người da trắng(18), ở Nhật Bản là nguyên nhân chính gây tăng tỷ lệ đột quỵ nhồi máu(12)

Mục tiêu của chúng tôi là xác định tăng homocysteine huyết tương vừa phải là yếu tố nguy cơ độc lập của nhồi máu não Kết quả phân tích nồng độ homocysteine không có tương quan với các biến liên tục như cholesterol, LDL, HDL, creatinine hay các biến định tính như lớn tuổi, tiểu đường và cao huyết áp Ngoài ra không có sự khác biệt mức độ cholesterol, LDL, HDL trong bệnh nhân tăng hay không tăng homocysteine Phân tích hồi quy log đơn biến nguy cơ nhồi máu não do tăng vừa homocysteine huyết tương lúc đói cao hơn 8,4 lần, sau điều chỉnh tuổi, phái và các yếu tố nguy cơ mạch máu nguy cơ nhồi máu não cao hơn 5,3 lần Nguy cơ nhồi máu cho tăng 5μmol/L (từ 10 đến 15μmol/L) cao hơn 2,11 lần sau điều chỉnh

Một số tác giả đề nghị tác động homocysteine sẽ nhiều hơn khi có mặt các yếu tố nguy cơ khác, trong nghiên cứu ECAP(5) nguy cơ xơ vữa mạch phối hợp tăng homocysteine tăng lên nhiều lần nếu có tăng huyết áp hay dùng thuốc lá Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận bệnh nhân cao huyết áp, tăng homocysteine giữa nhóm bệnh và nhóm chứng không khác biệt có

ý nghĩa (p=0,08) Chúng tôi không tìm thấy tương tác giữa cao huyết áp và tăng homocysteine, tương tự số liệu trong nghiên cứu sức khoẻ thầy thuốc(19), ngược lại tăng homocysteine vừa gia tăng nguy cơ nhồi máu não ở huyết áp bình thường

Ở bệnh nhân nhồi máu não có hút thuốc homocysteine trung bình 15,15μmol/L (95%CI 12,98-17,33) cao hơn bệnh nhân không hút thuốc 11,07μmol/L (95% CI,65-11,49) mức ý nghĩa p<0,001 Có tương tác giữa hút thuốc và tăng homocysteine, bệnh nhân hút thuốc lá có tăng homocysteine nguy cơ nhồi máu cao hơn so với không hút thuốc OR=7,33 (95% CI 3,49 - 15,38) p<0,001

131

Trang 6

cơ nhồi máu não cho các đối tượng tăng vừa

homocysteine huyết tương lúc đói cao hơn 5,3 lần và

là yếu tố nguy cơ độc lập cho nhồi máu não không tử

vong, không có sự tương tác giữa tăng homocysteine

và các yếu tố nguy cơ mạch máu truyền thống ngoại

trừ hút thuốc lá Tuy nhiên vẫn còn cần phải xác định

giảm nồng độ homocysteine huyết tương sẽ phòng

ngừa được nhồi máu não nguyên phát hay thứ phát

Trong tương lai cần có nghiên cứu đa trung tâm

với cỡ mẫu lớn hơn, xác định giá trị homocysteine

bình thường của người Việt Nam, cần có các phương

pháp nghiên cứu tốt hơn để đánh giá ảnh hưởng của

phái, cao huyết áp, thuốc, chế độ ăn và các bệnh lý

phối hợp, ước lượng chính xác hơn mối quan hệ giữa

tăng homocysteine vừa và bệnh lý xơ vữa động mạch

não

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Brattstrom L, Lindgren A, Israelsson B, Malinow MR,

Norrving B,Upson B, Hamfelt A

Hyperhomocysteinaemia in stroke: prevalence, cause,

and relationships to type of stroke and stroke risk

factors Eur J Clin Invest 1992;22:214 –221

2 Coull BM, Malinow MR, Beamer N, Sexton G, Nordt

F, Garmo PD Elevated plasma homocyst(e)ine

concentration as a possible independent risk factor for

stroke Stroke 1990;21:572-576)

3 Eikelboom JW, Hankey GJ, Anand SS,et al

Association between high homocyst(e)ine and

ischaemic stroke due to large-and small artery disease

but not other etiological subtypes of ischaemic stroke

Stroke 2000;31:1069-1075

4 Evers S, Koch H-G, Grotemeyer K-H, Lange B, Deufel

T, Ringelstein E-B Features, symptoms, and

neurophysiological findings in stroke associated with

hyperhomocysteinemia Arch Neurol 1997;54:1276 –

1282

5 Graham IM, Daly LE, Refsum HM, et al Plasma

homocysteine as a rick factor for vascular disease: the

European Concerted Action Project JAMA.1997;

277:1775-1781

6 Hughes K, Ong CN Homocysteine, folate, vitamin B B 12

and cardiovascular rish in Indians, Malays and

Hyperhomocyst(e)inemia as a risk factor for occlusive vascular disease Annu J Pathol.1969;56:111-128

8 Kay-Sin Tan, Toong- Chow Lee, Chong-Tin Tan

Hyperhomocysteinemia in patients with acute ischaemic stroke in Malaysia.Neurol J Southeast Asia 2001;6:113-119

9 Lindgren A, Brattstrom L, Norrving B, Hultberg A, Andersson A, Johansson B Plasma homocysteine in the acute and convalescent phases after stroke Stroke 1995;26:795-800

10 Mainow MR, Nieto JN, Szklo M, Chambless LE, Bond

G Carotid artery intimal-medial wall thickening and plasma homocyst(e)ine in asymptomatic adults: the Atherosclerotic Risk in Communities Study

Circulation 1993;87:1107–1113

11 Mereau-Richard C, Muller JP, Favre E, Ardouin P, Rousseaux J Total plasma homocysteine determination in subjects with premature cerebral vascular disease Clin Chem.1991; 37:126

12 Morita H, Kurihara H, Tsubaki S, Sugiyama T, Hamada C, Kurihara Y, Shindo T, Oh-hashi Y, Kitamura K, Yazaki Y Methylenetetrahydrofolatereductase gene polymorphism and ischemic stroke in Japanese

Arterioscler Thromb Vasc Biol 1998;18:1465–1469

13 Peng Hai, Huang Qian, Li Yuefen et al Study on the relationship between plasma homocysteine and acute cerebral vascular disease J Tonji Med University 2000;20(4):330-331

14 Perry IJ, Refsum H, Morris RW, Ebrahim SB, Ueland

PM, Shaper AG Prospective study of serum total homocysteine concentration and risk of stroke in middle- aged Bristish men Lancet

1995;346:1395-1398

15 Selhub J, Jacques PF, Bostom AG, et al:Association between plasma homocysteine concentrations and extracranial carotid-artery stenosis N Engl J Med.1995, 322:286-291

16 Yin JH, Peng GS, Shyu HY, et al Association between hyperhomocysteinemia and ischaemic stroke in Taiwan Neurology 2001;56(supple 3):A109-10

17 Yoo J-H, Chin- Sang Chung, Soo- Sang Kang Relation

of homocyst(e)ine to cerebral infarction and cerebral atherosclerosis Stroke 1998;29: 2478-2483

18 Yoo J-H Hyperhomocyst(e)inemia as a Risk Factor of Coronary Artery Disease in Koreans (dissertation)

Seoul, Korea: Seoul National University;1997

19 Verhoef P, Hennekens CH, Malinow MR, Kok FJ, Willett WC, Stampfer MJ A prospective study of plasma homocyst(e)ine and risk of ischemic stroke

Stroke 1994; 25:1924-1930

Ngày đăng: 20/01/2020, 23:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w