1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp u tuyến vỏ thượng thận có đặc điểm mô học không điển hình

6 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết muốn nêu Một trường hợp u tuyến vỏ thượng thận có đặc điểm mô học không điển hình này lên để bàn luận và rút kinh nghiệm nhằm tránh ngưỡng chẩn đoán carcinom vỏ thượng thận và hệ quả dẫn đến những chỉ định điều trị bất lợi cho người bệnh.

Trang 1

CÓ ĐẶC ĐIỂM MÔ HỌC KHÔNG ĐIỂN HÌNH 

Trần Minh Thông*, Vương Gia Huy* 

TÓM TẮT 

U thượng thận là loại u thường gặp. Cùng với sự phát triển của chụp cắt lớp điện toán (CT scanner) và  chụp cộng hưởng từ (MRI) các khối u ở tuyến thượng thận phát hiện một cách tình cờ ngày càng cao. Hiện  nay, vấn đề bệnh lý được quan tâm nhất là xác định tính chất của khối u thượng thận là lành tính hay ác  tính.Một số tác giả đã đề nghị các tiêu chuẩn mô học để phân biệt u tuyến vỏ thượng thận và carcinom vỏ  thượng thận. Tuy nhiên, việc phân biệt biên giới lành ác vẫn là một thử thách rất lớn cho các nhà giải phẫu  bệnh đặc biệt trong các trường hợp khối u có kích thước lớn và đặc tính nhân không điển hình. Nhân một  trường hợp u tuyến vỏ thượng thận có hình ảnh mô học không điển hình; chúng tôi muốn nêu trường hợp  này lên để bàn luận và rút kinh nghiệm nhằm tránh ngưỡng chẩn đoán carcinom vỏ thượng thận và hệ quả  dẫn đến những chỉ định điều trị bất lợi cho người bệnh. 

Từ khóa: u tuyến vỏ thượng thận, carcinom vỏ thượng thận, u thượng thận 

SUMMARY 

CASE REPORT: ADRENOCORTICAL ADENOMA WITH ATYPICAL HISTOLOGICAL FEATURES 

Tran Minh Thong, Vuong Gia Huy  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2013: 600 ‐ 605 

Adrenal tumors were common neoplasms. The development of imaging studies such as CT scanner and MRI  has resulted in raising the detection of adrenal masses incidentally. The most important target was to determine  those tumors malignancies or benignancies. Currently, there were several recommended criterion to distinguish  adrenocortical adenoma from carcinoma. However, differentiated diagnosis between adenoma and carcinoma was  still a major challenge for pathologists, especially in huge tumors with atypical tumor cells. We reported a case of  adrenocortical adenoma with atypical histological features to discuss and learn for experience in order to avoid  carcinoma overdiagnosing which would lead to disadvantageous treatments for patient. 

Keywords: adrenocortical adenoma, adrenocortical carcinoma, adrenocortical tumor 

TỔNG QUAN 

Carcinôm vỏ tuyến thượng thận là loại khối 

u nội tiết hiếm gặp, có độ ác cao. Trong khi đó, u 

tuyến  thượng  thận  lành  tính  là  loại  u  thường 

gặp,  ít  gây  triệu  chứng  và  thường  được  phát 

hiện  bởi  các  phương  tiện  chẩn  đoán  hình  ảnh 

một cách tình cờ. Các khối u thượng thận được 

phát hiện tình  cờ  chiếm  2‐4%  dân  số  chung(8,12). 

Cả  u  tuyến  vỏ  thượng  thận  và  carcinom  vỏ 

thượng thận chiếm ưu thế ở giới nữ với tỉ lệ từ 

1,4:  1  đến  2,5:1(1,8,19).  Tuổi  phát  hiện  u  tuyến  vỏ  thượng thận trung bình là 62 tuổi. Trong khi đó,  carcinom  vỏ  thượng  thận  do  phần  lớn  có  biểu  hiện triệu chứng nên tuổi phát hiện bệnh trung  bình là 47 tuổi(16) . 

Phần lớn các khối u thượng thận được phát  hiện  tình  cờ  là  các  loại  u  không  có  chức  năng  sinh học và lành tính. Tuy nhiên, trong khoảng  10% số trường hợp các khối u thượng thận tăng  tiết hormone và có biểu hiện triệu chứng(9). Triệu  chứng  thường  gặp  nhất  là  hội  chứng  Cushing. 

* Khoa Giải phẫu bệnh, BV Chợ Rẫy 

Tác giả liên lạc: BSCKII. Trần Minh Thông, ĐT: 0918202941, Email: tranmthong2003@yahoo.com 

Trang 2

sẽ  biểu  hiện  triệu  chứng  nam  hóa  do  cường 

androgen  (nổi  mụn,  rậm  lông,  kinh  nguyệt 

thưa). Nếu khối u tăng tiết cortisol quá mức có 

thể dẫn đến hạ kali máu. Ở nhóm các u  không 

chức năng thì người bệnh thường đi khám vì các 

triệu  chứng  khó  chịu  ở  đường  tiêu  hóa  (buồn 

nôn, nôn, đầy bụng) hoặc đau lưng. 

Các khối u thượng thận bao gồm u vỏ tuyến 

thượng thận lành và ác tính, u tủy thượng thận 

và  các  loại  tổn  thương  lành  tính  khác.  Một 

nghiên cứu về các khối u thượng thận phát hiện 

tình  cờ  cho  thấy  tỉ  lệ  u  tuyến  vỏ  thượng  thận 

lành  nhiều  gấp  60  lần  carcinom  tuyến  nguyên 

phát ở vỏ thượng thận, do đó hầu hết các khối u 

ác tính ở vỏ thượng thận thường là di căn từ các 

nơi khác đến(15). 

Chẩn  đoán  phân  biệt  các  loại  u  vỏ  thượng 

thận chủ yếu dựa trên các đặc điểm mô học. Tuy 

nhiên,  các  nhà  giải  phẫu  bệnh  còn  đối  mặt  với 

nhiều hình ảnh mô học đa dạng vốn có của mô 

u  nên  gặp  khó  khăn  trong  chẩn  đoán.Tác  giả 

Weiss đã theo dõi 43 bệnh nhân có u vỏ thượng 

thận trong khoảng thời gian theo dõi trung bình 

là 11 năm(20). Tác giả đã đề nghị 9 tiêu chuẩn mô 

học và hình thái học đặc trưng để tiên đoán khả 

năng ác tính của khối u. Hình ảnh mô học có giá 

trị  tiên  lượng  cao  nhất  là  trên  5  nhân  chia  trên 

quang trường x500, nhân chia không điển  hình 

và  xâm  lấn  tĩnh  mạch.  Sau  đó,  Weiss  và  cộng 

sự(21)  đã  điều  chỉnh  các  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán 

nhằm  phân  biệt  u  vỏ  thượng  thận  lành  và  ác 

tính: các khối u có nhiều hơn 3 đặc tính mô học 

gợi ý ác tính được xem như ác tính. Một nghiên 

cứu gần đây đã xác định 6 yếu tố hình thái học 

giúp  tiên  lượng  khả  năng  sống  còn  của  bệnh 

nhân  carcinom  vỏ  thượng  thận:  xâm  lấn  tĩnh 

mạch, vỏ bao và các cơ quan xung quanh; hoại 

tử trong u; tỉ lệ gián phân bào và gián phân bào 

không điển hình(17). 

Về mặt hóa mô miễn dịch, một số kháng thể 

đã được sử dụng để xác định chắc chắn nguồn 

gốc  các  u  tuyến  thượng  thận  là  từ  lớp  vỏ.  Vào 

năm 1995, Sasano và cộng sự đã đề nghị SF1 là 

một dấu ấn để phân biệt u có nguồn gốc từ vỏ  thượng  thận  và  không  từ  vỏ  thượng  thận  và  trong  một  nghiên  cứu  lớn  sử  dụng  SF1  đã  cho  thấy kết quả dương tính trong hơn 95% trường  hợp u vỏ thượng thận và âm tính đối với tất cả  các  trường  hợp  u  không  nguồn  gốc  từ  vỏ  thượng thận(13,14). Một loại dấu ấn khác được sử  dụng  để  phân  biệt  u  tuyến  và  carcinôm  vỏ  thượng thận là Ki67. Trong một nghiên cứu trên 

320  bệnh  nhân  kết  hợp  cùng  với  kết  quả  của  nhiều  nghiên  cứu  khác  đã  cho  thấy  chỉ  số  nhuộm  Ki67  cao  có  liên  quan  đến  tiên  lượng  bệnh xấu(3,10,18) Tác giả Nakano đã đề nghị dùng  vimentin  để  phân  biệt  u  tuyến  vỏ  thượng  thận 

và carcinôm vỏ thượng thận. Trong nghiên cứu  của  Nakano  và  cộng  sự  đã  cho  thấy  73,2%  carcinôm  vỏ  thượng  thận  dương  tính  với  vimentin; trong khi đó, chỉ 14,0% số trường hợp 

u  tuyến  vỏ  thượng  thận  dương  rải  rảc  với  vimentin  và  86%  u  tuyến  vỏ  thượng  thận  âm  tính khi nhuộm vimentin(11). 

Sau  đây  là  một  số  hình  ảnh  mô  học  của  u  tuyến và carcinôm vỏ thượng thận 

 

Hình 1: U tuyến vỏ thượng thận H&E x200: hình 

ảnh các tế bào u xếp các dây và ổ san sát nhau. 

Nguồn: Webpathology.com 

Trang 3

Hình 2: U tuyến vỏ thượng thận H&E x 400: Các 

tế bào u có bào tương rộng, bắt màu eosin, nhân tròn 

đều. Có một vài tế bào 2 nhân hoặc nhiều nhân. 

Không có hình ảnh hoại tử hoặc gián phân bào không 

điển hình. 

 

Hình 3: Carcinôm vỏ thượng thận H&E x 200: 

Một trường hợp một bệnh nhân được chụp CT phát 

hiện khối u 12,5cm ở tuyến thượng thận trái. U 

tuyến vỏ thượng thận hiếm khi có kích thước lớn hơn 

5cm hoặc nặng hơn 50g. Trên vi thể, có hình ảnh 

gián phân bào không điển hình – một hình ảnh hiếm 

gặp trong u lành. (Nguồn: webpathology.com) 

 

Hình 4: Carcinôm vỏ thượng thận H&E x 400: 

Các tế bào u có bào tương rộng, bắt màu eosin, nhân 

tăng sắc kiềm và nhiều tế bào có hạt nhân rõ. Có 

nhiều hình ảnh nhân chia không điển hình. (Nguồn: 

webpathology.com) 

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG 

Bệnh nhân nữ, 37 tuổi, khám sức khỏe định 

kỳ, không tiền căn bệnh lý, không ghi nhận cao  huyết  áp  hay  các  triệu  chứng,  dấu  chứng  đặc  biệt.  Thầy  thuốc  đã  phát  hiện  một  khối  u  ở  tuyến thượng thận phải trong khi siêu âm tổng  quát.  

Các xét nghiệm đo nồng độ  hormone,  công  thức máu và sinh hóa máu trong giới hạn bình  thường.  Hình  ảnh  chụp  cắt  lớp  cho  thấy  một  khối choán chỗ vị trí ở hố thượng thận phải, kích  thước 3x3x3,5 cm, đường bờ rõ, đậm độ không  đồng nhất. Bắt quang không đồng nhất sau tiêm  thuốc cản quang. 

Hình 5: 

Bệnh  nhân  đã  được  phẫu  thuật  nội  soi  sau 

Trang 4

phúc  mạc  cắt  u  tuyến  thượng  thận  phải  và  gửi 

giải  phẫu  bệnh.  Mô  u  lấy  được  cố  định  trong 

formol 10%. Đường kính u sau cố định 6 giờ là 

3,0  cm,  mặt  cắt  có  màu  vàng  nghệ,  không  hoại 

tử, chảy máu.  

Hình 6: Các mẫu cắt được xử lí theo kỹ thuật thường qui giải phẫu bệnh Hematoxylin & Eosin. 

Hình 7: Hình vi thể H&E x200: Tế bào u có nhân lớn, có thể vùi trong nhân, nhiều tế bào có nhiều nhân; không 

nhân chia bất thường. Tế bào xếp theo cấu trúc bè, ổ và một số vùng mất cấu trúc. Không hoại tử, chảy máu. 

BÀN LUẬN 

Báo cáo truờng hợp lâm sàng của chúng tôi 

là một bệnh nhân nữ 37 tuổi tình cờ phát hiện u 

tuyến  thượng  thận  bằng  siêu  âm.  U  phát  hiện 

tình  cờ  ở  tuyến  thượng  thận  có  tần  suất  phát 

hiện  cao  nhất  ở  nhóm  50  –  70  tuổi.  Tuổi  người 

bệnh lúc phát hiện bệnh trung bình là 55 tuổi và 

không có sự phát biệt ở tuổi phát hiện bệnh giữa 

nam và nữ(4,6,8). Như vậy ở trường hợp chúng tôi 

người  bệnh  tình  cờ  được  phát  hiện  bệnh  ở  độ 

tuổi sớm hơn so với các báo cáo trong y văn. Cả 

u tuyến vỏ thượng thận và carcinôm vỏ thượng 

thận đều được ghi nhận chiếm ưu thế ở giới nữ 

so với nam với tỉ lệ từ 1,4:1 đến 2,5:1 theo nhiều 

nghiên cứu(1,8,19). 

Theo  y  văn,  hầu  hết  các  trường  hợp  khối  u 

tuyến thượng thận không biểu hiện triệu chứng 

lâm sàng, chỉ khoảng 10% số trường hợp có biểu  hiện  triệu  chứng  do  rối  loạn  tăng  tiết  hormone 

từ mô u và thường có liên quan đến ác tính (50 ‐  80%  số  trường  hợp  carcinôm  vỏ  thượng  thận  biểu hiện triệu chứng do tăng tiết hormone)(5,7,22)   

Chụp CT là phương pháp lựa chọn đầu tay 

để  phát  hiện  khối  u  tuyến  thượng  thận  có  kích  thuớc nhỏ từ 1.0cm trở lên với độ nhạy lên đến  100%. U tuyến thượng thận lành tính thường có  kích thước nhỏ, giới hạn rõ, mật độ đồng nhất, 

bờ  tròn  đều,  ít  bắt  thuốc  khi  tiêm  thuốc  cản  quang. Hiện tuợng lắng đọng vôi, chảy máu và  hoại  tử  hiếm  thấy.Trong  khi  đó,  hình  ảnh  điển  hình của carcinôm vỏ thượng thận là khối u có  mật độ không đồng nhất, hoại tử hoặc chảy máu  trong u, bờ khối u không đều và một số truờng  hợp xâm lấn mô xung quanh. Kích thước khối u 

Trang 5

trên  10cm  là  một  dấu  hiện  có  giá  trị  gợi  ý  ác 

tính(2)  Hình  ảnh  CT‐  scan  của  bệnh  nhân  có 

nhiều đặc điểm gợi ý u tuyến thượng thận lành 

tính: kích thước nhỏ, bờ đều, mật độ tương đối 

đồng nhất; không vôi hóa, hoại tử và chảy máu 

trong u. 

Sự phát triển của hình ảnh học đã giúp phát 

hiện  sớm  các  khối  u  ác  tính  vỏ  thượng  thận, 

nhưng  để  điều  trị  thì  cần  phải  khẳng  định  bởi 

giải  phẫu  bệnh.  Trong  trường  hợp  bệnh  nhân 

của  chúng  tôi,  về  mặt  đại  thể  u  hình  cầu  có  đường  kính  khoảng  3cm;  mặt  cắt  màu  vàng,  không hoại tử và chảy máu trong u. Tuy nhiên  khi quan sát vi thể, u có biểu hiện nhiều vùng tế  bào không điển hình, nhiều tế bào có nhân lớn,  tăng sắc kiềm, dị dạng, có hạt nhân rõ và có thể  vùi trong nhân. Một số vùng tế bào có hai hoặc  nhiều nhân. Không nhân chia không điển hình.  Những  hình  ảnh  này  rất  dễ  làm  ta  chẩn  đoán  lầm với carcinôm vỏ thượng thận.  

Hình 8: Hình ảnh nhuộm H&E x 400: nhân tế bào không điển hình: tế bào nhiều nhân 

Hình 9: Hình ảnh nhuộm hóa mô miễn dịch tế bào u âm tính với vimentin 

Từ  trước  đến  nay  đã  có  nhiều  tác  giả  đề 

nghị  các  tiêu  chuẩn  để  phân  biệt  u  tuyến  vỏ 

thượng  thận  và  carcinôm  vỏ  thượng  thận. 

Trong số đó, bảng hệ thống của Weiss được sử 

dụng  rộng  rãi  nhất.  Năm  1984,  Weiss  đưa  ra 

tiêu  chuẩn  tăng  số  lượng  nhân  chia  đặc  biệt 

khi có kèm với dạng mô học không điển hình 

và  xâm  lấn  tĩnh  mạch  là  tiêu  chuẩn  có  giá  trị 

nhất  để  chẩn  đoán  ác  tính(20).  Đến  năm  1989, 

Weiss và cộng sự đã cải biên  bảng  tiêu  chuẩn 

thành  9  tiêu  chuẩn  như  sau:  nhân  độ  mô  học 

III  –  IV,  nhân  chia  trên  5  trên  quang  trường 

500, nhân chia không điển hình, thành phần tế  bào  sáng  dưới  25%,  cấu  trúc  tế  bào  lan  tỏa,  hoại  tử,  xâm  lấn  tĩnh  mạch,  xoang  và  vỏ  bao.  Tác giả cho rằng khi có từ 4 trong 9 tiêu chuẩn 

vi thể vừa mô tả trở lên được xếp vào nhóm u 

ác  tính(21).  Như  vậy  truờng  hợp  của  chúng  tôi  không  đủ  4  trong  9  tiêu  chuẩn  kể  trên.  Chẩn  đoán  phù  hợp  với  u  tuyến  vỏ  thuợng  thận  lành tính. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có tiêu  chuẩn nào khẳng định lành tính hoàn toàn do 

Trang 6

đó  chúng  tôi  đề  nghị  chẩn  đoán  là  u  tuyến 

thuợng thận với đặc điểm mô học không điển 

hình  để  thầy  thuốc  lâm  sàng  theo  dõi  bệnh 

nhân.  Về  mặt  giải  phẫu  bệnh  chúng  tôi  thấy 

cần  thiết  phải  làm  thêm  xét  nghiệm  hóa  mô 

miễn dịch đặc biệt là Ki67 để xác định đặc tính 

ác của nhân như một số tác giả bệnh học hiện 

đại đã khuyến cáo. Ở trường hợp này, Ki67 tỉ 

lệ nhân dương tính thấp. Nó cũng phù hợp với 

sự  nhân  chia  trong  mô  bướu,  nhân  chia  rất 

hiếm  gặp.  Bên  cạnh  đó  chúng  tôi  cũng  tiến 

hàng  nhuộm  hóa  mô  miễn  dịch  với  vimentin 

để  củng  cố  chẩn  đoán  và  kết  quả  là  âm  tính 

phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới. 

KẾT LUẬN 

Hiện nay nhờ sự phát triển của các công cụ 

chẩn đoán hình ảnh đã giúp làm tăng khả năng 

chẩn đoán sớm và phát hiện các khối u ở tuyến 

thượng thận. Tuy nhiên điều này cũng mang lại 

nhiều  thử  thách  trong  chẩn  đoán  phân  biệt  u 

tuyến  vỏ  thượng  thận  và  carcinôm  vỏ  thượng 

thận  đặc  biệt  trong  trường  hợp  u  tuyến  vỏ 

thượng  thận  có  hình  ảnh  tế  bào  không  điển 

hình.  Vai  trò  của  hóa  mô  miễn  dịch  hỗ  trợ  cho 

chẩn  đoán  thuờng  qui  H  &  E  đã  giúp  cho  nhà 

giải phẫu bệnh đương đầu thử thách phân biệt 

giữa  u  lành  và  u  ác  ở  những  u  có  đường  kính 

nhỏ  dưới  10cm  và  mối  tương  quan  tuổi  người 

mắc bệnh trên 50 liên quan với u ác tính. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Ambrosi B, Peverelli S, Passini E, Re T, Ferrario R, Colombo P 

(1995),  ʺAbnormalities  of  endocrine  function  in  patients  with 

clinically  ʹsilentʹ  adrenal  massesʺ.  European  Journal  of 

Endocrinology, 132, 422‐428. 

2 Fassnacht  M,  Allolio  B  (2009),  ʺClinical  management  of 

adrenocortical carcinomaʺ. Best Pract Res Clin Endocrinol Metab, 

23, 273‐289. 

3 Fassnacht  M,  Libe  R,  Kroiss  M,  Allolio  B  (2011), 

ʺAdrenocortical  carcinoma:  a  clinicianʹs  updateʺ.  Endocrinol 7, 

323‐335. 

4 Herrera  MF,  Grant  CS,  Van  Heerden  JA,  Sheedy  PF,  Ilstrup 

DM  (1991),  ʺIncidentally  discovered  adrenal  tumors:  an 

institutional perspectiveʺ. Surgery, 110, 1014‐1021. 

5 Kendrick  ML,  Lloyd  R,  Erickson  L  (2001),  ʺAdrenocortical 

carcinoma:  surgical  progress  or  status  quo?  ʺ.  Arch Surg, 136, 

543‐549. 

6 Kloos  RT,  Gross  MD,  Francis  IR,  Korobkin  M,  Shapiro  B 

(1995),  ʺIncidentally  discovered  adrenal  massesʺ.  Endocrine 

Reviews 16, 460‐484. 

7 Koschker  AC,  Fassnacht  M,  Hahner  S,  Weisman  D,  Allolio  B  (2006), ʺAdrenocortical carcinoma ‐ improving patient care by 

establishing new structuresʺ. Exp Clin Endocrinol Diabetes, 114, 

45‐51. 

8 Mantero  F,  Arnaldi  G  (2000),  ʺManagement  approaches  to 

adrenal incidentalomas: a view from Ancona, Italyʺ. Endocrinol 

Metab Clin North Am, 29, 107‐125. 

9 Mantero  F,  Masini  AM,  Opocher  G  (1997),  ʺAdrenal  Incidentaloma:  an  overview  of  hormonal  data  from  the 

National Italian Study Groupʺ. Horm Res, 47(284‐289). 

10 Morimoto R (2008), ʺImmunohistochemistry of a proliferation  marker  Ki67/MIB1  in  adrenocortical  carcinomas:  Ki67/MIB1  labeling  index  is  a  predictor  for  recurrence  of  adrenocortical 

carcinomasʺ. Endocr J, 55, 49‐55. 

11 Nakano  M  (1988),  ʺAdrenal  cortical  carcinoma:  a  clinicopathological  and  Immunohistochemical  Study  of  91 

autopsy casesʺ. Pathology International, 38(2), 163‐180. 

12 Reincke M, Beuschlein F, Slawik M, Borm K (2000), ʺMolecular 

adrenocortical tumorigenesisʺ. Eur J Clin Invest, 30, 63‐68. 

13 Sasano  H  (1995),  ʺTranscription  factor  adrenal  4  binding 

protein as a marker of adrenocortical malignancyʺ. Hum Pathol, 

26, 1154 ‐ 1156. 

14 Sbiera  S  (2010),  ʺHigh  diagnostic  and  prognostic  value  of 

steroidogenic  factor‐1  expression  in  adrenal  tumorsʺ.  J  Clin 

Endocrinol Metab, 95, 161‐171. 

15 Schteingart  DE  (2000),  ʺManagement  approaches  to  adrenal 

incidentalomas.  A  view  from  Ann  Arbor,  Michʺ.  Endocrinol 

Metab Clin North Am, 29, 127‐139. 

16 Stojadinovic A, Brennan MF, Hoos A, Omeroglu A, Leung HY,  Dudas  ME,  et  al.  (2003),  ʺAdrenocortical  Adenoma  and  Carcinoma:  Histopathological  and  Molecular  Comparative 

Analysisʺ. Mod Pathol, 16 (8), 742‐751. 

17 Stojadinovic A, Ghossein RA, Hoos A, Nissan A, Brennan MF,  Jacques  DP  (2002),  ʺAdrenocortical  carcinoma:  clinical, 

morphologic and molecular characterizationʺ. J Clin Oncol, 20, 

941 ‐ 950. 

18 Terzolo  M  (2001),  ʺImmunohistochemical  assessment  of  Ki67 

in the differential diagnosis of adrenocortical tumorsʺ. Urology, 

57, 176‐182. 

19 Terzolo  M,  Ali  A,  Osella  G,  Mazza  E  (1997),  ʺPrevalance  of  adrenal  carcinoma  among  incidentally  discovered  adrenal 

masses.  A  retrospective  study  from  1989  to  1994ʺ.  Archives of 

Surgery, 132, 914‐919. 

20 Weiss  LM  (1984),  ʺComparative  histologic  study  of  43  metastasizing  and  nonmetastasizing  adrenocortical  tumorsʺ. 

Am J Surg Pathol, 8, 163 ‐ 169. 

21 Weiss  LM,  Medeiros  LJ,  Vickery  AL  (1989),  ʺPathologic  features  of  prognostic  significance  in  adrenocortical 

carcinomaʺ. Am J Surg Pathol, 13, 202‐206. 

22 Wooten  MD,  King  DK  (1993),  ʺAdrenal  cortical  carcinoma.  Epidermiology  and  treatment  with  mitotane  and  a  review  of 

the literatureʺ. Cancer, 72, 3145‐3155. 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w