1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát các chỉ số huyết học và thời gian đông máu trên bệnh nhân tai biến mạch máu não

6 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 191,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích 108 bệnh nhân TBMMN nằm điều trị tại khoa Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi rút ra những kết luận sau đây : - Các chỉ số về hồng cầu, hematocrit và tiểu cầu đa phần không khác biệt so với các chỉ số của người bình thường, tuy nhiên đã có sự thay đổi ít nhiều ở một số bệnh nhân. Riêng các chỉ số về bạch cầu có sự thay đổi sâu sắc, bạch cầu có khuynh hướng tăng sau đột quị biểu hiện ở cả hai nhóm nhồi máu não và xuất huyết não, trong đó sự biến thiên theo chiều hướng tăng bạch cầu của nhóm bệnh nhân xuất huyết não rõ ràng hơn.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC CHỈ SỐ HUYẾT HỌC VÀ THỜI GIAN ĐÔNG MÁU

TRÊN BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Lương Thanh Điền*, Vũ Anh Nhị**

TÓM TẮT

Phân tích 108 bệnh nhân TBMMN nằm điều trị tại khoa Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi rút

ra những kết luận sau đây :

- Các chỉ số về hồng cầu, hematocrit và tiểu cầu đa phần không khác biệt so với các chỉ số của người bình thường, tuy nhiên đã có sự thay đổi ít nhiều ở một số bệnh nhân Riêng các chỉ số về bạch cầu có sự thay đổi sâu sắc, bạch cầu có khuynh hướng tăng sau đột quị biểu hiện ở cả hai nhóm nhồi máu não và xuất huyết não, trong đó sự biến thiên theo chiều hướng tăng bạch cầu của nhóm bệnh nhân xuất huyết não rõ ràng hơn

- Bước đầu tìm ra được sự thay đổi ít nhiều về thời gian đông máu ở một bộ phận bệnh nhân, phần đông số bệnh nhân còn lại không có sự thay đổi Nếu như TQ và tỉ lệ prothrombin thay đổi nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân xuất huyết não, thì TCK lại thay đổi nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân nhồi máu não

SUMMARY

STUDY ON ALTERATIONS OF HEMATOLOGY AND COAGULATION TIME

OF CEREBROVASCULAR PATIENTS

Luong Thanh Dien, Vu Anh Nhi * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 81 – 86

Objectives : To study on alterations of hematology and coagulation time of 108 patients including 63

cerebral infarction and 45 hemorrhage at neurology department of Cho Ray Hospital

Methods : Prospectives study, hematological and coagulation parameters include erythrocytic cells, white blood cells, platelets, hematocrit, PT, prothrombine rate, APTT are evaluated

Results : There has no differency in red blood cell count, platelet count, hematocrit rate between

cerebral infarction and cerebral hemorrhage However, there is a little different in some patients White blood cell count after stroke is widely different among cerebral infarction and cerebral infarction, especially increased in hemorrhage Step by step, we find out the differency in coagulation time between cerebral infarction and cerebral hemorrhage, PT is prolonged and prothrombine rate is decreased in cerebral hemorrhage than cerebral infarction, APTT is prolonged in cerebral infarction than cerebral hemorrhage

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu não(TBMMN) là bệnh thần

kinh phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới Mỗi năm,

tại khoa Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy và các Bệnh

viện Đa Khoa các tỉnh đã tiếp nhận và điều trị cho

hàng ngàn bệnh nhân tai biến mạch máu não

Như vậy, TBMMN là một thử thách lớn với ngành

y tế, ngoài tỉ lệ tử vong cao, di chứng để lại cho người bệnh là vấn đề đáng quan tâm : thiếu sót về vận động, ngôn ngữ, về sinh hoạt hàng ngày cũng như hàng loạt các vấn đề khác

Việc điều trị TBMMN, bên cạnh việc ổn định huyết áp, chống phù não thì việc chống kết tập tiểu cầu,

* Bộ môn Thần kinh, Trường ĐH Y Khoa Cần Thơ

** Bộ môn Thần kinh, ĐHYD Tp.HCM

Trang 2

chống đông tái lập lại tuần hoàn, điều chỉnh rối loạn

huyết động học sau TBMMN là vấn đề quan trọng

Chính vì muốn tìm hiểu sự thay đổi của các chỉ

số huyết học và thời gian đông máu sau TBMMN, từ

đó có thêm thông tin về bệnh lý này và có chiến lược

điều trị hữu hiệu hơn, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài này với mục tiêu :

- Khảo sát một số đặc điểm quan trọng của

nhóm nghiên cứu

- Khảo sát các chỉ số huyết học

- Phân tích các chỉ số về thời gian đông máu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 108 bệnh nhân

TBMMN nằm điều trị tại Khoa Thần kinh bệnh viện

Chợ Rẫy từ tháng 1/2004 đến 6/2004 và thoả mãn các

tiêu chuẩn :

- Bệnh nhân thoả mãn các tiêu chuẩn lâm sàng

về chẩn đoán tai biến mạch máu não của Tổ chức Y

tế thế giới

- Bệnh nhân được nhập viện trong vòng 48 giờ

đầu sau khởi phát

- Bệnh nhân được làm CTScan hoặc MRI để chẩn

đoán xác định

- Không có những bất thường về huyết học trước đó

- Không dùng những thuốc làm thay đổi các

thành phần của các chỉ số nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân được nhập viện trễ sau 48 giờ khởi phát

- Có bằng chứng cho thấy có các nguyên nhân

gây bệnh khác như u não, xuất huyết màng não hay

các triệu chứng mất trước 24 giờ

- Những bệnh nhân đang dùng các loại thuốc

làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng1: Trị số trung bình của các chỉ số huyết học

Nhồi máu não Xuất huyết

não

Chung 2 nhóm

P

Hồng cầu (M/μL)

4,446± 0,217 4.583± 0.175 4.504 ±

0.145

p>0,05 Bạch cầu

(K/μL)

11,9 ± 2,534 10,265± 0,89 11,15 ± 1,57 p>0,05 Hematocrit

(%)

37,4 ± 1,58(%)

39,4

±1,36(%)

38,2 ± 1,09(%)

p>0,05 Tiểu cầu

(K/μL)

262,77±32,31 269,4±22,74 265,5± 20,9 p>0,05

Về các chỉ số huyết học : cả ba nhóm nghiên cứu đều không có sự khác biệt

Chỉ số hồng cầu và tiểu cầu gần với hằng số sinh lý của người Việt Nam Riêng bạch cầu: cả ba nhóm đều cao hơn hằng số sinh lý của người bình thường

Bảng 2 : So sánh tỉ lệ bệnh nhân có tế bào máu cao

Chómchung Nhóm NMN Nhóm XHN P

Hồng cầu>5.0(M/μL)

Hồng cầu

<4.0(M/μL)

Bạch cầu>10.0(K/μL)

Tiểu cầu>400(K/μL)

Từ kết quả bảng 2 ta thấy nhóm bệnh nhân XHN có bạch cầu tăng cao chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bệnh nhân NMN, điều này phù hợp với y văn

Tiểu cầu tăng trong nhóm NMN cao hơn hai nhóm còn lại, nhưng thường tiểu cầu tăng ít có ý nghĩa trên lâm sàng

Bảng 3: Thời gian TQ theo nhóm nghiên cứu

TQ giây 13,33 ± 0,32 13,51±0,475 13,09±056 p>0,05

Bảng 3, ta thấy thời gian TQ của ba nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và không có sự khác biệt với giá trị sinh lý bình thường

Cũng qua bảng trên, ta thấy số bệnh nhân XHN có thời gian TQ kéo dài hơn hơn nhóm NMN có ý nghĩa thống kê (p=0,036) Tương tự như vậy, tỉ lệ

Trang 3

prothrombin thấp hơn 70% của nhóm XHN cao hơn

nhóm NMN ở mức ý nghĩa (p=0,039)

Bảng 4: Thời gian TCK theo nhóm nghiên cứu

TCK giây 31,68 ± 0,9 32,26 ± 1,0 31,56±0,9 p>0,05

Bảng 4 cho thấy thời gian TCK trung bình của ba

nhóm không có sự khác biệt nhau và không khác biệt

so với giá trị sinh lý

Tuy nhiên, tỉ lệ bệnh nhân có thời gian TCK kéo

dài của nhóm NMN nhiều hơn nhóm XHN ở mức có

ý nghĩa thống kê (p=0,04)

Trị số trung bình TCK của nhóm nhồi máu não

có vẻ như cao hơn, tuy nhiên, sự khác biệt này không

có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

BÀN LUẬN

Đặc điểm về hồng cầu

Trị số trung bình của HC là 4,504±0,145 (M/μL)

So sánh giữa hai nhóm NMN và XHN ta thấy không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) So

sánh với công trình nghiên cứu của GS.Trần văn Bé

vàNguyễn Anh Trí, chúng tôi thấy không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Như vậy có thể

nói rằng trong TBMMN trị số của hồng cầu không

thay đổi so với người bình thường

Tuy nhiên, có khoảng 23.1% số bệnh nhân có HC

tăng hơn mức sinh lý bình thường (> 5,0 M/μL), giữa

NMN và XHN không thấy sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê(p=0,06), chúng tôi khảo sát số bệnh nhân

có HC dưới 4,0 M/μL (dưới mức sinh lý bình thường),

kết quả cho thấy, nhóm bệnh nhân NMN chiếm

(28,5%) nhiều hơn nhóm bệnh nhân XHN (13,4%)

Tuy vậy, có thể thấy rằng trong TBMMN ít nhiều

cũng ảnh hưởng đến dòng HC, cụ thể là nhóm bệnh

nhân NMN có tác động nhiều hơn, nghĩa là số bệnh

nhân có mức hồng cầu biến thiên nhiều hơn nhóm

bệnh nhân XHN, tuy nhiên sự khác biệt đó cũng chưa

ở mức có ý nghĩa thống kê (p = 0,07), vì vậy cần

tham khảo các công trình nghiên cứu khác để so

sánh kết quả

Đặc điểm về bạch cầu

Bạch cầu (BC) trong TBMMN đã được nhiều tác giã đề cập trong nhiều tài liệu khác nhau, theo sách vỡ kinh điển, cho thấy trong TBMMN thì BC tăng cao hơn bình thường, người ta cũng dựa vào BC tăng cao để chẩn đoán và tiên lượng bệnh lý này Đó cũng là ý tưởng nghiên cứu của đề tài của tác giã Nguyễn Đức Tuệ (15) Trong nghiên cứu của chúng tôi, trị số trung bình của BC là 11,97± 2,534K/μL, như vậy giá trị này cao hơn rất nhiều so với hằng số sinh lý bình thường Dùng phép kiểm T, chúng tôi không thấy sự khác biệt giữa NMN và XHN ( p > 0,05)

Tuy nhiên, Khi khảo sát số bệnh nhân có BC tăng cao hơn 10,0/ K/μL, kết quả cho thấy ở nhóm NMN có 44,4% bệnh nhân có BC tăng cao và nhóm bệnh nhân XHN có 66,6% số bệnh nhân có tăng BC, như vậy đã có sự khác biệt lớn giữa hai nhóm này, sự khác biệt này ở mức ý nghĩa có ý nghĩa thống kê ( p

= 0,022 ) Trở lại công trình nghiên cứu của tác giã Nguyễn Đức Tuệ, tác giã này chỉ nghiên cứu chỉ số

BC trong XHN, kết quả cho thấy giá trị trung bình của BC là 13,8K/μL và có 89,5% số bệnh nhân có BC cao hơn 10,0 8K/μL Tác giã đã kết luận BC tăng trong XHN, có sự liên quan giữa tăng BC và dự hậu của bệnh lý này

Như vậy, trong XHN thì BC tăng cao hơn bình thường và sự tăng cao này có ý nghĩa về mặc chẩn

đoán và dự hậu của bệnh nhân

Đặc điểm về tiểu cầu

Trị số trung bình của tiểu cầu (TC) trong nhóm nghiên cứu là 262,77 ± 32,31/ K/μL, giá trị này nằm trong giới hạn bình thường, hơn nửa khi so sánh giữa hai nhóm bệnh nhân NMN và nhóm bệnh nhân XHN

ta thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mặc khác, nếu so sánh kết quả này với các hằng số sinh lý của người Việt Nam trưởng thành , chúng tôi nhận thấy giá trị trung bình tiểu cầu trong mẫu nghiên cứu không khác biệt so với các hằng số sinh lý của người bình thường (p > 0,05)

Tuy nhiên, chúng tôi tìm tỉ lệ số bệnh nhân có

TC tăng cao hơn 400.000/mm3, kết quả có 17,5% số bệnh nhân có TC tăng hơn giá trị bình thường, giữa

Trang 4

nhồi máu não ( 23,8% ) và xuất huyết não ( 8,8%) ta

thấy không có sự khác biệt lớn ở mức có ý nghĩa

thống kê ( p = 0,446 )

Như vậy, chúng tôi có thể kết luận trong TBMMN

số lượng TC có sự thay đổi, tuy nhiên sự thay đổi này

có phải là nguyên nhân hay hậu quả của bệnh lý thì

chưa kết luận được, bởi vì tăng TC thường ít có ý

nghĩa trên lâm sàng hơn là giảm(14,22,33) Hơn thế nửa,

ngoài số lương TC người ta còn phải khảo sát thêm

chất lượng của nó

Đặc điểm về hematocrit

Trị số trung bình của hematocrit (HCT) là 37,4 ±

1,58 (%), giữa nhóm bệnh nhân NMN và XHN, ta

thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >

0,05), không có sự khác biệt so với các hằng số sinh

lý ( p > 0,05)

Tuy nhiên, số bệnh nhân có HCT tăng cao hơn

42%, ta thấy nhóm bệnh nhân NMN có 23,23% và

nhóm bệnh nhân XHN là 28,8%, không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giửa hai nhóm ( p = 0,43)

Như vậy, có thể kết luận trong phạm vi nghiên

cứu này: trong TBMMN, HCT có giá trị trung bình

nằm trong giới hạn bình thường, tuy nhiên có một số

bệnh nhân có xu hướng tăng HCT cao hơn bình

thường, sự thay đổi này giống nhau trên hai nhóm

bệnh nhân NMN và nhóm bệnh nhân XHN

Thời gian TQ

Trị số trung bình của thời gian TQ là 13,334 ±

0,32 giây, nhóm bệnh nhân NMN là 13,51 ±,0,475

giây, nhóm bệnh nhân XHN là 13,09±056 giây Các

kết quả này vẫn nằm trong giới hạn sinh lý bình

thường Mặt khác, nếu so sánh các giá trị này với các

hằng số sinh lý của người Việt Nam trưởng thành, kết

quả cho thấy giá trị trung bình này không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê( p > 0,05), giữa nhóm bệnh

nhân NMN và nhóm bệnh nhân XHN, không có sự

khác biệt ( p > 0,05)

Tìm tỉ lệ bệnh nhân có TQ kéo dài 15 giây, cho

thấy ở nhóm bệnh nhân NMN có 12,6% và nhóm bệnh

nhân XHN có 26,6%, , ta thấy có sự khác biệt lớn ở

mức ý nghĩa có ý nghĩa thống kê (p=0,036), như vậy

thì trong XHN, tỉ lệ bệnh nhân có thời gian TQ kéo dài chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bệnh nhân NMN

Tỉ lệ prothrombin

Tỉ lệ prothrombin sẽ biến thiên theo thời gian TQ, tương ứng với thời gian TQ từ 12-14 giây thì tỉ lệ prothrombin từ 80-100% Soi sánh tỉ lệ bệnh nhân có tỉ lệ prthrombin <70%, kết quả cho thấy nhóm NMN có 15,8%, trong khi đó nhóm bệnh nhân XHN chiếm tới 33,34%, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p = 0,039 ) Như vậy, TQ và tỉ lệ prothrombin một lần nửa bổ sung cho nhau, từ đó ta đi đến kết luận trong TBMMN có rối loạn về thời gian đông máu, trong đó nhóm bệnh nhân XHN có thay đổi nhiều hơn nhóm bệnh nhân NMN, điều này cũng phù hợp với sách vỡ đã đề cập

Thời gian TCK

Trị số trung bình của thời gian TCK là 31,68 ± 0,9 giây

Giá trị này nằm trong giới hạn bình thường Trị số trung bình của nhóm bệnh nhân NMN là 32,226

±1,0 giây, của nhóm bệnh nhân xuất huyết não là 31,562±0,9 giây

Các kết quả này vẫn nằm trong giới hạn sinh lý bình thường Mặt khác, nếu so sánh các giá trị này với các hằng số sinh lý của người Việt Nam trưởng thành, kết quả cho thấy giá trị trung bình này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê( p > 0,05), giữa nhóm bệnh nhân NMN và nhóm bệnh nhân XHN, không có sự khác biệt ( p > 0,05)

Nếu so sánh kết quả này với đề tài của tác giã Nguyễn Anh Trí, ta có những nhận xét sau đây : thời gian TCK của công trình này là 24-35 giây, chúng tôi nhận thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng giống như kết quả của đề tài này (p>0,05)

Tìm tỉ lệ bệnh nhân có thời gian TCK kéo dài 35 giây, kết quả cho thấy ở nhóm bệnh nhân NMN có 30,1% và nhóm bệnh nhân XHN có 13,6%, ta thấy có sự khác biệt lớn ở mức ý nghĩa có ý nghĩa thống kê (p=0,04), như vậy thì trong NMN, tỉ lệ bệnh nhân có thời gian TCK kéo dài chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bệnh nhân XHN

Trang 5

Chính vì vậy chúng tôi rút ra kết luận : trong

TBMMN có rối loạn về thời gian đông máu (TCK),

trong đó nhóm bệnh nhân NMN có thay đổi nhiều

hơn nhóm bệnh nhân XHN

KẾT LUẬN

Qua phađn tích 108 bệnh nhân tai biến mạch

máu não tại khoa Thần Kinh Bệnh Viện Chợ Rẫy,

chúng tôi rút ra những kết luận sau:

- Các chỉ số về hồng cầu, hematocrit và tiểu cầu

đa phần không khác biệt so với các chỉ số của người

bình thường, tuy nhiên đã có sự thay đổi ít nhiều ở

một số bệnh nhân Riêng các chỉ số về bạch cầu có sự

thay đổi sâu sắc, bạch cầu có khuynh hướng tăng sau

đột quị biểu hiện ở cả hai nhóm nhồi máu não và

xuất huyết não, trong đó sự biến thiên theo chiều

hướng tăng bạch cầu của nhóm bệnh nhân xuất

huyết não rõ ràng hơn

- Bước đầu tìm ra được sự thay đổi ít nhiều về

thời gian đông máu ở một bộ phận bệnh nhân, phần

đông số bệnh nhân còn lại không có sự thay đổi Nếu

như TQ và tỉ lệ prothrombin thay đổi nhiều hơn ở

nhóm bệnh nhân xuất huyết não, thì TCK lại thay đổi

nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân nhồi máu não

Qua kết quả nghiên cứu này, chúng tôi thấy rõ

hơn về vai trò của các xét nghiệm huyết học và các

xét nghiệm đông cầm máu trên bệnh nhân tai biến

mạch máu não Cần chỉ định xét nghiệm về huyết

học và đông cầm máu rộng rãi hơn trên bệnh nhân

tai biến mạch máu Từ đó chúng ta có thể phát hiện

sớm và ngăn ngừa được những hậu quả gây ra do các

trường hợp thay đổi về huyết học cũng như đông cầm

máu trên bệnh nhân tai biến mạch máu não

Tuy nhiên đề tài này được thực hiện trong một

thời gian ngắn và với quy mô chưa đủ lớn nên còn vài

vấn đề chưa thấy rõ như mọi người đang mong đợi ví

dụ như các xét nghiệm cao hơn về tăng đông, tiền

đông máu Chúng tôi hy vọng thời gian tới khi có

điều kiện sẽ thực hiện với quy mô rộng hơn để góp

phần vào việc phát hiện và ngăn chặn những hậu quả

do rối loạn các chỉ số huyết học và đông máu gây ra

Từ đó góp phần làm sinh động thêm bức tranh của

bệnh lý TBMMN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Thị Lan Vi, Khảo sát tần suất các yếu tố nguy cơ

tai biến mạch máu não, Luận văn Thạc sỹ y học năm

2004

2 Đào Thị Hồng Nga và CS, Thay đổi đông máu ở những

bệnh nhân tăng lipid máu, Tại hội nghị khoa học về

Huyết học - Truyền máu lần thứ 5, 10- 2003

3 Hoàng Khánh, Một số yếu tố nguy cơ của tai biến

mạch máu não ở người lớn tại Huế, Tạp chí Y học

TP.HCM, chuyên đề Thần kinh học số 2, tập 3 số 3,

9-1999

4 Lê Văn Tuấn, Lê Minh, Huyết khối tĩnh mạch não, Báo cáo sinh hoạt khoa học kỷ thuật Thần kinh học lần thứ 15, 9- 2000

5 Nguyễn Đệ, Thái Thị Hồng, Phạm Ngọc Lân và CS,

Tình hình tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Đa

khoa Quảng Ngãi,Tập san Nội khoa 3-2000

6 Nguyễn Anh Trí và CS,Kết quả nghiên cứu các chỉ số

xét nghiệm đông máu vòng đầu ở người Việt Nam

bình thường, Tại hội nghị KH về Huyết học - Truyền

máu lần thứ năm,10 – 2003

7 Nguyễn Anh Trí, Đông máu ứng dụng trong lâm sàng, Nhà xuất bản Y Học 2000,7-64, 82-214

8 Nguyễn Văn Đăng, Tai biến mạch máu não, Nhà xuất bản y học , 2000,9 -33,66 -113,156-213

trênnbệnh nhân đột quị thiếu máu não cấp, Tạp chí Y

học TP.HCM, Hội nghị KHKT lần thứ 21, chuyên đề

Thần kinh học, tập 8, phụ bản số 1, 3-2004

10 Phạm Thanh Phong, Vũ Anh Nhị, Khảo sát rối loạn

lipid máu trên bệnh nhân tai biến mạch máu não, Tạp

chí y học TP.HCM, Hội nghị KHKT lần thứ 20,

chuyên đề Thần kinh, tập 7, phụ bản số 1, 3-2003

11 Trần Công Thắng, Lê Văn Thành, Điều trị kháng

huyết khối trong thiếu máu não cục bộ, Báo cáo sinh

hoạt khoa học kỷ thuật Thần kinh học lần thứ 16, 12-

2000

12 Vũ Anh Nhị và CS, Sổ tay đột qụi, Nhà xuất bản TP.HCM, 2004

13 Guberman A, Cerebrovascular Disorders, An

introduction to Clinical Neurology, 373-411

14 Warlow C.P., Dennis M.S., Van Gijin J., Stroke, A

pratical guide to management, 2001, 230-240

15 Charmers J, Macmahon S, Blood pressure and stroke

prevention, science press, 1997,50-70

16 Tagliasacchi D and Carboni G, Blood Cells, April 1997

- Greenberg DA., Aminoff MJ., Simon RP., Stroke,

Clinical Neurology, second Edition, 250-281

17 Doug Tollefsen, Blood Coagulation

18 http://Tollefsen.Wustl.Edu/Projects/Coagulation/Coagul ation.Html

19 Davies-Jones G.A.B, Sussman J.D., Neurological

Manifestation of Hematological Disorders, Neurology

and General Medicine, The third Edition, Churchill Livingstone, 201-225

20 Arnold JL, Ischemic Stroke, 2-10

21 Saver JL., Acute ischemic Stroke, Current therapy in

Neurologic disease,2002, 200-205

Trang 6

22 Jesty J, Nemerson Y, The pathway of blood

coagulation, Hematology, Fifth edition, Mc Graw -

Hill, 1995, 1227-1235

23 Miletich JP., Prothrombin time - Activated partial

thromboplastin time, Hematology, Fifth edition, Mc

Graw - Hill, 1995, L82-L86

24 Simon LA, Risk factor for ischemic stroke, Stroke

1998, 1340-1345

25 Lenore NJ Risk factor modification in Stroke

prevention, Stroke 1999, 10-20

26 Delio PR., Albers GW., Stroke as a Complication of

General Medical Disorders, Neurology and General

Medicine, The 3 rd Ed, Churchill Livingstone,

1029-1046

27 Adams RD., Victor M, Ropper AH., Cerebrovascular

777-840

28 Tohgi H, Takahashi H, Utsugisawa K And Sasaki K

Antithrombotic Treatment In Ischemic Cerebrovascular Disease

Ngày đăng: 20/01/2020, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w