1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng suy thận cấp ở người lớn tuổi

9 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 551,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu với 2 mục tiêu: (1) xác định tỉ lệ suy thận cấp ở bệnh nhân trên 60 tuổi nhập khoa thận bệnh Viện Chợ Rẫy trong thời gian từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011. (2) khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của suy thận cấp trước thận, tại thận và sau thận ở đối tượng này.

Trang 1

SUY THẬN CẤP Ở NGƯỜI LỚN TUỔI  

 Nguyễn Ngọc Lan Anh*, Trần Thị Bích Hương* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Tác động của quá trình lão hóa cùng với những bệnh lý nội khoa mạn tính làm tăng nguy cơ 

bị suy thận cấp ở người lớn tuổi. Suy thận cấp ở người lớn tuổi có thể có những đặc điểm lâm sàng và cận  lâm sàng khác với những đối tượng khác.  

Mục tiêu: (1) Xác định tỉ lệ suy thận cấp ở bệnh nhân trên 60 tuổi nhập khoa Thận Bệnh Viện Chợ Rẫy 

trong thời gian từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011. (2) Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm  sàng của suy thận cấp trước thận, tại thận và sau thận ở đối tượng này. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 

Kết  quả: Trong 130 bệnh nhân ≥ 60 tuổi với nồng độ creatinin huyết thanh ≥ 1,5 mg/dL, có 90 bệnh 

nhân ≥ 60 tuổi (69,2%) được xác định là suy thận cấp theo AKIN 2006 (Acute Kidney Injury Network). Có 

37 bệnh nhân suy thận cấp trước thận (41,1%), 13 bệnh nhân suy thận cấp tại thận (14,4%) và 40 bệnh  nhân  suy  thận  cấp  sau  thận  (44,4%).  Suy  thận  cấp  trước  thận  thường  do  giảm  nhập  (40,5%),  mất  nước  (32,4%); 80,6% không thiểu niệu. Phần lớn bệnh nhân có biểu hiện của hội chứng trung gian. Hoại tử ống  thận cấp chiếm 92,3% suy thận cấp tại thận, trong đó trụ hạt nâu bùn chiếm 84,6%. Cặn lắng nước tiểu  sạch loại trừ suy thận cấp tại thận với giá trị tiên đoán âm là 100%. Các nguyên nhân suy thận cấp sau  thận bao gồm bế tắc đường tiểu dưới (60%) và bế tắc đường tiểu trên (40%). STC tại thận có tỉ lệ lọc máu, 

tỉ lệ tử vong cao hơn, thời gian nằm viện kéo dài hơn cũng như tỉ lệ hồi phục chức năng thận thấp hơn so  với STC trước thận và sau thận. 

Kết  luận: Suy thận cấp ở người lớn tuổi rất thường gặp, chủ yếu là suy thận cấp trước thận và sau 

thận. Nhận biết những khác biệt về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng suy thận cấp ở người lớn tuổi hỗ trợ  cho việc chăm sóc sức khỏe đặc biệt ở đối tượng này. 

Từ khóa: Tổn thương thận cấp, suy thận cấp, bệnh thận mạn, thiểu niệu, vô niệu, người lớn tuổi, cặn 

lắng nước tiểu.  

ABSTRACT  

CLINICAL AND LABORATORY FEATURES OF ACUTE RENAL FAILURE IN THE ELDERLY 

Nguyen Ngoc Lan Anh, Tran Thi Bich Huong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 159 ‐ 167 

Background: The effect of aging and the comorbid conditions increase the risk of acute renal failure in the 

elderly. The acute renal failure (ARF) in the elderly might have different clinical and laboratory features from  others.  

Objectives:(1)To determine the incidence of acute renal failure in the elderly over 60 year old admitted to 

the Nephrology Department, Cho Ray Hospital from November 2010 to July 2011; (2)To evaluate the clinical  and laboratory features of prerenal, intrinsic and post renal acute renal failure in these patients.  

Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Ngọc Lan Anh  ĐT: 0915513178,   Email: caramelchrist@yahoo.com 

Trang 2

Results:  Among  130  over  60  year‐old  patients  with  serum  creatinine  over  1.5  mg/dL,  90  of  them  were 

diagnosed acute renal failures (69.2%) depending on AKIN criteria (Acute Kidney Injury Network 2006). Acute  renal failure was prerenal in 37 (41.1%), intrarenal in 13 (14.4%) and postrenal in 40 (44.4%). For prerenal  ARF, main causes were low intake (40.5%) and volume depletion (32.4%), 80.6% were non‐oliguria, and the  majority had intermediate syndrome. Acute tubular necrosis occurred in 92.3% intrarenal ARF, in which 84.6%  had muddy brown casts. A bland sediment excluded intrarenal ARF with negative predictive value 100%. In  postrenal  failure,  60%  due  to  upper  and  40%  to  lower  urinary  obstructions.  Intrarenal  ARF  had  higher  hemodialysis and mortality, lower recovery rate and shorter length of stay than prerenal and postrenal ARF.  

Conclusion: The incidence of acute renal failure in the hospitalized elderly patients was high, most often 

prerenal and postrenal ARF. The different clinical features and lab tests led to special cares for them.  

Keywords: Acute kidney injury, acute renal failure, chronic kidney disease, oliguria, anuria, elderly, urine 

sediment.  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Quá trình lão hóa gây ra những biến đổi về 

cấu  trúc  và  chức  năng  của  nhiều  hệ  cơ  quan, 

trong đó có thận và hệ niệu. Khi tuổi ngày càng 

tăng,  độ  lọc  cầu  thận  cũng  giảm  dần  theo  sinh 

lý, mỗi năm mất 1ml/phút, do xơ hóa cầu thận, 

xơ hóa ống thận làm giảm khả năng cô đặc nước 

tiểu,  xơ  vữa  mạch  máu  thận  ở  người  lớn  tuổi. 

Ngoài  ra,  người  lớn  tuổi  luôn  tiềm  ẩn  những 

bệnh lý nội khoa mạn tính khác như tăng huyết 

áp,  đái  tháo  đường,  bệnh  lý  tim  mạch…,  gây 

bệnh  thận  mạn  và  phối  hợp  với  tình  trạng  suy 

giảm  chức  năng  thận  sinh  lý  làm  cho  thận  của 

người lớn tuổi dễ nhạy cảm với tình trạng thiếu 

nước,  hạ  huyết  áp  hoặc  độc  chất  gây  suy  thận 

cấp. Từ những nhận xét ban đầu qua báo cáo 10 

trường hợp suy thận cấp ở người lớn tuổi điều 

trị  thành  công  tại  khoa  Thận,  bệnh  viện  Chợ 

Rẫy,  với  những  đặc  điểm  khác  với  người  trẻ, 

nay chúng tôi mở rộng nghiên cứu nhằm trả lời 

2 câu hỏi: (1) Tỉ lệ suy thận cấp ở người trên 60 

tuổi trong nhóm bệnh nhân nhập viện với chẩn 

đoán  suy  thận;  (2)  Đặc  điểm  lâm  sàng  và  cận 

lâm  sàng  của  suy  thận  cấp  trước  thận,  tại  thận 

và sau thận ở nhóm bệnh nhân mở rộng này.  

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu  

Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 

Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh  

Mọi bệnh  nhân  (bn)  ≥  60  tuổi  nhập  viện  tại  khoa  Nội  Thận  Bệnh  Viện  Chợ  Rẫy  từ  tháng  11/2010  đến  tháng  7/2011,  có  nồng  độ  creatinin  huyết thanh (CreHT) lúc nhập viện ≥ 1,5 mg/dL  được đưa vào nghiên cứu. Các bn này được lặp  lại xét nghiệm CreHT trong vòng 48 giờ. Nếu bn 

có  CreHT  tăng  ≥  0,3mg/dL  (≥  26,4  umol/L)  với  CreHT ≤ 2 mg/dL hoặc tỷ lệ tăng CreHT lớn hơn  50% (hoặc tăng gấp 1,5 lần so với giá trị CreHT 

cơ  bản),  hoặc  giảm  thể  tích  nước  tiểu  <  0,5mg/Kg/giờ  trong  hơn  6giờ,  được  chẩn  đoán  suy thận cấp (STC), còn gọi là tổn thương thận  cấp (Bảng 1).  

Bảng 1. Các giai đoạn tổn thương thận cấp theo 

AKIN 2006 (11)  

Giai

1 Tăng CreHT > 0,3mg% hoặc tăng > 50-199% < 0,5ml/kg/h x 6h

2 Tăng CreHT> 200-300% < 0,5ml/kg/h x 12h

3 Tăng CreHT > 4mg% hoặc tăng > 300% Hoặc vô niệu x 12h < 0,5ml/kg/h x 24h

Tiêu chuẩn loại trừ  

(1)  Trong  thời  gian  nằm  viện  bn  không  có  nước  tiểu  để  xét  nghiệm,  (2)  Bn  được  điều  trị  thay thế thận trước khi nhập viện,(3) Bn xin về  khi  chưa  có  đủ  kết  quả  xét  nghiệm.(4)  Bn  suy  thận mạn giai đoạn cuối. 

Trang 3

Các bn được khám và theo dõi diễn tiến lâm 

sàng:  sinh  hiệu,  đánh  giá  bilan  xuất  nhập  mỗi 

ngày và điều trị (bao gồm điều trị thay thế thận). 

Tiến  hành  làm  xét  nghiệm  sinh  hóa  máu  và 

nước  tiểu  để  phân  biệt  tổn  thương  thận  cấp 

trước  thận  và  tại  thận,  bao  gồm  BUN,  CreHT, 

ion đồ máu, urê niệu, creatinin niệu, ion đồ niệu, 

áp lực thẩm thấu niệu, tổng phân tích nước tiểu, 

soi tươi nước tiểu. 

BUN, urê niệu được đo bằng phương pháp 

đo  màu  (colorimetric  method);  CreHT  và 

creatinin  niệu  được  đo  bằng  phương  pháp 

Jaffé;  natri  máu,  natri  niệu  được  đo  bằng 

phương  pháp  điện  cực  chọn  lọc  ion  (Ion 

Selective  Electrodes),  áp  lực  thẩm  thấu  niệu 

được  đo  bằng  phương  pháp  đo  độ  hạ  băng 

điểm, tổng phân tích nước tiểu được thực hiện 

bằng  que  nhúng  dipstick.  Từ  đó  tính  được 

phân suất thải natri (FeNa), phân suất thải urê 

(FeUN), chỉ số suy thận theo công thức sau: 

Phân  suất  thải  Natri  (FeNa  %)  = 

 x 100   Phân  suất  thải  Urê  (FeUN  %)  = 

 x 100 

 

Hình 1. Trụ hạt nâu bùn qua soi tươi cặn lắng nước 

tiểu trong nghiên cứu 

Quy trình soi tươi nước tiểu  

Lấy 10ml nước tiểu bất kì và khảo sát tươi  trong  vòng  1  giờ  sau  khi  đi  tiểu,  quay  li  tâm  nước  tiểu  với  tốc  độ  2000  vòng/phút  trong  5  phút.  Bỏ  9ml,  lấy  1ml  cặn  lắng  đem  soi  dưới  kính  hiển  vi  quang  học.  Cặn  lắng  nước  tiểu  được khảo sát trung bình 10‐20 quang trường,  với quang trường 10 để đánh giá số lượng trụ  niệu và quang trường 40 để đánh giá bản chất  trụ  niệu  và  tế  bào  trong  nước  tiểu.  Chúng  tôi  trực tiếp quan sát nước tiểu tại khoa sinh hóa  Bệnh Viện Chợ Rẫy. Những mẫu nước tiểu bất  thường được một kĩ thuật viên xét  nghiệm  có  kinh nghiệm về cặn lắng nước tiểu kiểm chứng  lại.  Trụ  hạt  nâu  bùn  là  đặc  trưng  của  họai  tử  ống  thận  cấp  được  lưu  tâm  tìm  qua  soi  cặn  lắng, chúng tôi đếm và ghi nhận số lượng, kèm  những trụ niệu khác (xem hình).  

Các định nghĩa được sử dụng trong nghiên  cứu 

Tổn thương thận cấp sau thận Postrenal AKI) (19) : 

Tổn  thương  thận  cấp  và  có  bằng  chứng  tắc  nghẽn đường tiểu như thận ứ nước trên siêu âm 

hệ niệu, CT Scan bụng…  

Tổn  thương  thận  cấp  trước  thận  (Prerenal  AKI) (19) : Tổn thương thận cấp và chức năng thận 

cải thiện ít nhất 10% so với chức năng thận trước 

đó sau khi bù đủ dịch hay ổn định huyết động  học trong vòng 48 giờ. 

Tổn  thương  thận  cấp  tại  thận (Intrinsic  AKI)(19): chẩn đoán dựa vào loại trừ tổn thương  thận cấp trước và sau thận.  

Tổn thương thận cấp tại thận còn phân biệt  với  trước  thận  dựa  vào  đặc  điểm  lâm  sàng,  nguyên nhân kết hợp với các xét nghiệm máu 

và nước tiểu như bảng 2.  

Bảng 2. Xét nghiệm phân biệt tổn thương thận cấp 

trước thận và tại thận (120)  

Xét nghiệm STC trước thận STC tại thận Natri niệu (mEq/L) <20 >40

Áp lực thẩm thấu niệu (mosm/kg H2O) >500 <350

Tỉ trọng nước tiểu >1,018 <1,010

Trang 4

Xét nghiệm STC trước thận STC tại thận

Phân suất thải natri (FeNa) (%) <1 >1

Phân suất thải urê (FeUN) (%) <35 >50

Creatinin niệu/CreHT >40 <20

Urê niệu/UrêHT >8 <3

BUN/CreHT >20 <20

Chỉ số suy thận (Renal Index) <1 >1

Cặn lắng nước tiểu có trụ trong Sạch, hạt nâu bùnDơ, có trụ

Viêm ống thận mô kẽ cấp:  khi  thỏa  tiêu  chuẩn 

tổn  thương  thận  cấp  tại  thận  và  có  các  tiêu 

chuẩn  sau:  (1)  có  tiền  sử  dùng  thuốc  độc  thận; 

(2) có biểu hiện dị ứng trên lâm sàng như đỏ da, 

nổi hồng ban, ngứa, sốt, đau khớp; (4) soi nước 

tiểu  có  tiểu  máu,  tiểu  bạch  cầu  hoặc  trụ  bạch 

cầu; (5) công thức máu có bạch cầu ái toan tăng 

cao.  

Hoại tử ống thận cấp: khi thỏa tiêu chuẩn tổn 

thương thận cấp tại thận và loại trừ bệnh lý cầu 

thận, viêm ống thận mô kẽ cấp, mạch máu thận, 

và trong nước tiểu có trụ hạt nâu bùn.  

Thể tích nước tiểu: (1)Thiểu niệu: Thể tích nước 

tiểu 24 giờ <400ml. (2) Vô niệu: Thể tích nước tiểu 

24 giờ < 100ml. (3) Đa niệu: Thể tích nước tiểu 24 

giờ > 3000ml.  

Tăng huyết áp: huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg 

và/hoặc  huyết  áp  tâm  trương  ≥  90  mmHg  theo 

tiêu chuẩn JNC VII.  

Sinh hiệu tư thế   (postural vital signs): Đo mạch, 

huyết áp ở tư thế nằm. Cho bn ngồi dậy, sau 2 

phút  đo  lại  mạch,  huyết  áp  tư  thế  ngồi  với  tay 

ngang  tim.  Gọi  là  sinh  hiệu  tư  thế  dương  tính 

khi ở tư thế ngồi, huyết áp tâm thu giảm hơn 10 

mmHg  và/hoặc  mạch  tăng  hơn  20  lần/phút  so 

với tư thế nằm. Sinh hiệu tư thế dương tính có ý 

nghĩa cơ thể mất 20‐25% thể tích dịch lưu thông.  

Dấu mất nước nặng:  khi  bn  có  dấu  hiệu  mất 

nước  qua  khám  lâm  sàng  và  sinh  hiệu  tư  thế  dương tính.  

Hồi phục chức năng thận:  thỏa  1  trong  3  tiêu 

chí  sau:  (1)  không  lệ  thuộc  lọc  máu,  nếu  trong  thời  gian  nằm  viện  bn  cần  lọc  máu,  (2)  CreHT  trở về giá trị nền tảng (nếu có), (3) thể tích nước  tiểu  gia  tăng  từng  ngày,  kèm  giảm  hoặc  không  tăng BUN và CreHT so với nhập viện. 

Xử lý số liệu 

Các  số  liệu  được  xử  lý  và  kiểm  định  thống 

kê  bằng  phần  mềm  SPSS  19.0.  Các  biến  số  liên  tục được trình bày dưới dạng số trung bình ± độ  lệch chuẩn (nếu là phân phối chuẩn), hoặc trung 

vị  (khoảng  tứ  phân  vị)  nếu  không  phải  phân  phối chuẩn. Các biến số định tính trình bày dưới  dạng số lượng và tỉ lệ phần trăm. p < 0,05 được  xem là có ý nghĩa thống kê.  

KẾT QUẢ 

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2010  đến tháng 7/2011, với 130 bn ≥ 60 tuổi nhập viện 

có CreHT ≥ 1,5 mg/dL, chúng tôi  có  90  bn  ≥  60  tuổi  đủ  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  tổn  thương  thận  cấp. Như vậy, tỉ lệ STC ở bn ≥ 60 tuổi trong thời  gian  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  69,2%.  Trong 

đó, có 37 bn STC trước thận (41%), 13 bn STC tại  thận  (15%)  và  40  bn  STC  sau  thận  (44%).  Khảo  sát  tính  chuẩn  của  các  biến  số,  chúng  tôi  nhận  thấy  ngoại  trừ  tuổi,  huyết  áp  động  mạch  trung  bình,  BUN,  CreHT  có  phân  phối  chuẩn  được  trình  bày  dưới  dạng  số  trung  bình  ±  độ  lệch  chuẩn, các biến số còn lại không có tính chuẩn,  được  trình  bày  bằng  số  trung  vị  [khoảng  tứ  phân  vị].  Đặc  điểm  lâm  sàng  và  cận  lâm  sàng  của các bn này được trình bày trong bảng 3.  

Bảng 3. Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bn trong nghiên cứu  

Đặc điểm Tổng số N = 90 STC trước thận N=37 STC tại thận N=13 STC sau thận N=40

Tuổi (năm) 76,9 ± 9,1 77,7 ± 9,4 73,7 ± 8,6 73,9 ± 8,7 Nam giới (n,%) 54 (60) 24 (66,7) 7 (50) 23 (57,5) Thể tích nước tiểu lúc nhập viện trong 24h (ml) 500 [275-1000] 500 [400-1000] 200 [30-400] 600 [400-1425] Thể tích nước tiểu lúc nhập viện theo cân nặng và giờ

(ml/kg/giờ) 0,4 [0,2-0,8] 0,5 [0,3-0,9] 0,2 [0-0,4] 0,5 [0,3-1] Thiểu niệu và/hoặc vô niệu (n,%) 24 (26,7) 7 (19,4) 9 (64,3) 8 (20)

Trang 5

Đặc điểm Tổng số N = 90 STC trước thận N=37 STC tại thận N=13 STC sau thận N=40

Huyết áp tâm thu lúc nhập viện (mmHg) 120 [108-140] 110 [100-135] 130 [115-160] 120 [110-140] Huyết áp tâm trương lúc nhập viện (mmHg) 70 [60-80] 70 [60-80] 80 [70-85] 70 [60-80] Huyết áp động mạch trung bình lúc nhập viện (mmHg) 88,7 ± 16,1 86,8 ± 15,9 94,2 ± 15,8 90,6 ± 13,5

Tăng huyết áp lúc nhập viện (n,%) 29 (32,2) 9 (24,3) 5 (38,5) 15 (37,5) Huyết áp tâm thu ≤ 90mmHg (n,%) 6 (6,7) 5 (13,5) 1 (7,7) 0 (0)

Lâm sàng có dấu mất nước (n,%) 46 (51,1) 24 (64,9) 4 (30,8) 18 (45) Sinh hiệu tư thế dương tính (n,%) (*) 32 (35,6) 19 (51,4) 3 (23,1) 10 (25) BUN nhập viện (mg/dL) 78,6 ± 34,9 79,6 ± 34,4 76,5 ± 36,9 75,5 ± 32,6 Creatinin HT nhập viện (mg/dL) 4,3 ± 2,5 3,9 ± 2,2 5,5 ± 3,0 6,1 ± 5,4 eGFR lúc nhập viện (ml/phút/1,73m2 da) 14,2 [7,9-24,2] 19,3 [12,7-26,9] 9,2 [6,6-14,8] 13,5 [6,6-21,4]

(*): Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở 3 nhóm STC trước thận, tại thận và  sau thận ngoại trừ sinh hiệu tư thế dương tính (p=0,032).  

Các  bn  STC  trước  thận  đa  số  nhập  viện 

(72,2%)  vì  rối  loạn  tiêu  hóa  như  nôn  ói,  tiêu 

chảy, ăn kém; triệu chứng suy tim như khó thở 

hay phù toàn thân chiếm 11,1%; xuất huyết tiêu 

hóa 5,5%; rối loạn tri giác 5,5% và phù không do 

tim  (5,5%).  Mặc  dù  trong  bệnh  cảnh  mất  nước 

hoặc  giảm  thể  tích  tuần  hoàn  nhưng  đa  số 

(30/37) bn (81%) STC trước thận đều ở thể không 

thiểu  niệu.  Tình  trạng  tăng  huyết  áp  lúc  nhập 

viện có thể làm cho bác sĩ lâm sàng bỏ qua dấu 

hiệu  mất  nước  nặng.  Trong  nhóm  bn  có  tăng 

huyết áp lúc nhập viện, dấu mất nước có ở 7/9 

(77,8%) bn STC trước thận; 2/5 (40%) bn STC tại 

thận;  5/15  (33,3%)  bn  STC  sau  thận.  Ngoài  ra, 

sinh hiệu tư thế dương tính ở 7/7 (100%) bn STC 

trước  thận;  2/2  (100%)  bn  STC  tại  thận  và  2/5 

(40%) bn STC sau thận. 

Tương  tự,  tình  trạng  phù  cũng  có  thể  che 

lấp dấu  hiệu  thiếu  nước  trên  lâm  sàng.  Trong 

nhóm bn có biểu hiện phù trên lâm sàng, dấu 

mất  nước  dương  tính  ở  4/9  (44,4%)  bn  STC 

trước thận; 1/8 (12,5%) bn STC tại thận và 4/10 

(40%) bn STC sau thận.  

Nguyên  nhân  của  STC  cũng  như  các  xét 

nghiệm  giúp  phân  biệt  STC  trước  thận  và  tại 

thận được ghi nhận trong bảng 4 và bảng 5.  

Bảng 4. Nguyên nhân suy thận cấp ở người lớn tuổi  

STC trước thận N=37

STC tại thận

N = 13

STC sau thận N=40 Nguyên

nhân N,%

Nguyên nhân N,%

Nguyên nhân N,%

1) Giảm thể tích nội mạch

32 (86,5)

1)Hoại tử ống thận cấp (*)

12 (92,3)

Bế tắc đường tiểu dưới 24 (60) -Giảm nhập (40,5)15 cản quang -Do thuốc (7,7) 1 quang giảm -Bàng

trương lực

4 (10) -Mất dịch

qua đường tiêu hóa

12 (32,4) -Do ong đốt

3 (23,1)

-U xơ tiền liệt tuyến 4 (10)

-Mất máu 2 (5,4) nước kéo - Do mất

dài

5 (38,5) -Hẹp niệu đạo 1 (2,5) -Mất dịch

vào khoang thứ ba 3 (8,1)

Do thuốc không rõ loại

3 (23,1)

-Không rõ nguyên nhân

15 (37,5) 2) Giảm

cung lượng tim

3 (8,1) 2) Viêm ống thận mô kẽ cấp do nhiễm trùng (*)

1 (7,7)

2)Bế tắc đường tiểu trên

16 (40)

3) Choáng nhiễm trùng 1 (2,7)

-Sỏi niệu 9 (22,5)

- Bệnh lý ác tính xâm lấn 2 niệu quản

7 (17,5) 4) Hội

chứng gan thận 1 (2,7)

(*): Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và nước tiểu không dựa  vào sinh thiết thận 

Ngoại  trừ  tỷ  lệ  BUN/creatinine  >  20  và  cặn  lắng nước tiểu sạch hoàn toàn, các bn STC trước  thận ít đạt các tiêu chuẩn cận lâm sàng khác của  STC trước thận theo kinh điển (bảng 5). Nhưng,  hầu  hết  các  bn  này  lại  thỏa  các  tiêu  chuẩn  của  STC tại thận (bảng 6) và được gọi là hội chứng  trung gian.  

Trang 6

STC trước thận (*) 

STC trước thận N Kết quả (n,%)

Natri niệu < 20 mEq/L 32 2 (6,3)

Áp lực thẩm thấu niệu >500 mosm/kg H2O 33 2 (6,1)

Tỉ trọng nước tiểu >1,018 33 9 (27,3)

Phân suất thải natri (FeNa) <1% 32 0 (0)

Phân suất thải urê (FeUN) <35% 32 11 (34,4)

STC trước thận N Kết quả (n,%) Creatinin niệu/CreHT > 40 32 2 (6,3)

Urê niệu/UrêHT >8 32 11 (34,4)

BUN/CreHT > 20 37 23 (62,2)

Chỉ số suy thận (Renal Index) <1 32 4 (12,5)

Cặn lắng nước tiểu sạch hoàn toàn 37 19 (51,4)

(*): các mẫu nước tiểu không lấy được hết nên tổng số bn ở  từng nhóm xét nghiệm không giống nhau.  

Bảng 6. Đặc điểm cận lâm sàng của STC tại thận ở nhóm bn STC tại thận và STC trước thận 

Các chỉ số sinh hóa máu và nước tiểu STC tại thận STC trước thận

N Kết quả (n,%) N Kết quả (n,%)

Áp lực thẩm thấu niệu < 350 mosm/kg H 2 O 9 7 (77,8) 33 23 (69,7)

Tỉ trọng nước tiểu <1,010 13 6 (46,2) 33 3 (9,1)

Phân suất thải natri (FeNa) >1% 9 6 (66,7) 32 32 (100)

Phân suất thải urê (FeUN) >50% 9 5(55,6) 32 14 (43,8)

Creatinin niệu/CreHT < 20 10 9 (90) 32 27 (84,4)

Chỉ số suy thận (Renal Index) >1 9 7 (77,8) 32 28 (87,5)

Bảng 7. Các kết cuộc chính của bệnh nhân STC trong nghiên cứu đến thời điểm xuất viện (*) 

Kết cục Tổng số N = 90 STC trước thận N=37 STC tại thận N=13 STC sau thận N=40

Thời gian nằm viện (ngày) 11 [8-18] 11 [7-15] 16 [9-26] 11 [9-22]

Thể tích nước tiểu (ml/24 giờ) 1500 [1000-2000] 1500 [1000-2000] 800 [100-2000] 1900 [1125-2000]

Đa niệu (n,%) 55 (61,1) 24 (64,9) 7 (53,8) 24 (60)

BUN (mg/dL) ( ** ) 46,4 ± 31,5 49 ± 33 72,7 ± 27,6 35,5 ± 25,3

Mức độ giảm BUN (%) 47 [19,8 - 72] 38 [18,5 - 67,5] 34 [17,5 - 71,5] 58 [25 - 77,5] CreatininHT (mg/dL) (**) 2,5 ± 1,9 2,2 ± 1,7 4,6 ± 2,1 2,1 ± 1,7

Mức độ giảm CreatininHT (%) ( ** ) 48 [31,5 - 71,3] 45 [34,5 - 59,5] 23 [11,5 - 49] 58 [35 - 80]

STC cần lọc máu (n,%) 23 (25,6) 0 (0) 11 (84,6) 12 (30)

Số lần lọc máu (n,%) 4 [1 - 6] 0 (0) 6 [1 - 14] 3 [1 - 5]

Hồi phục chức năng thận (n,%) 74 (82,2) 31 (83,8) 6 (46,2) 37 (92,5)

(*): Không có sự khác biệt có ý nghĩa về các kết cuộc chính ở 3 nhóm STC trước thận, tại thận và sau thận, ngoại trừ tỉ lệ  STC cần lọc máu, tỉ lệ hồi phục chức năng thận, BUN, CreatininHT và mức độ giảm CreatininHT lúc xuất viện (p<0,05).  

Ở  nhóm  37  bn  STC  trước  thận,  hầu  hết  bn 

(35,94,6%)  cần  phải  truyền  dịch,  trong  đó  19 

(54,3%) bn chỉ cần bù dưới 1500ml/24 giờ là đủ 

để cải thiện chức năng thận. Có 4 bn không đáp 

ứng với bù dịch và 2 bn (5,4%) cần phải hạn chế 

dịch truyền do tình trạng phù toàn thân. Bảy bn 

STC  trước  thận  tử  vong  do  nguyên  nhân  sau: 

xuất  huyết  tiêu  hóa  trên  mức  độ  nặng  (2bn), 

viêm  phổi  nặng  có  suy  hô  hấp  (2bn),  choáng 

nhiễm trùng (2bn), nhồi máu cơ tim cấp (1bn).  

Ở nhóm bn STC sau thận, tất cả bn đều được  can thiệp ngoại khoa để giải quyết bế tắc đường  tiểu. Tuy nhiên vẫn có 2bn tử vong do viêm phổi  nặng có suy hô hấp. Nguyên nhân tử vong của  3bn STC tại thận bao gồm 2bn viêm  phổi  nặng 

có  suy  hô  hấp,  1bn  choáng  nhiễm  trùng  từ  đường tiêu hóa.  

BÀN LUẬN 

Suy thận cấp (STC) rất thường gặp, đặc biệt  đối với những NLT nhập viện. Tỉ lệ STC ở bn ≥ 

Trang 7

là 69,2%. Tỉ lệ STC hiện nay trên thế giới rất thay 

đổi  do  có  nhiều  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán,  mỗi 

nghiên  cứu  chọn  điểm  cắt  quy  ước  NLT  khác 

nhau (nước đã phát triển chọn 65 tuổi, chúng tôi 

chọn 60 tuổi theo Pháp lệnh người cao tuổi Việt 

Nam  năm  2000).  Sự  khác  biệt  giữa  các  kết  quả  nghiên  cứu  được  trình  bày  trong  bảng  8.  Tuổi  trung bình của nghiên cứu chúng tôi cao hơn các  nghiên cứu khác (bảng 8) có thể do khác biệt về 

cỡ mẫu và tiêu chuẩn chẩn đoán suy thận cấp.  

Bảng 8. Tỉ lệ STC ở NLT qua các nghiên cứu 

Tác giả N Tỉ lệ STC (%) Tiêu chuẩn STC Đối tượng Tuổi trung bình

Mehran R(10) (2004) 5571 13,1 CreHT tăng trên 0,5mg/dL hoặc 25% STC do thuốc cản quang 63,6 Hoste EA (7) (2006) 5383 67,2 RIFLE STC khoa ICU 63,4 Cruz DN (5) (2007) 2164 10,8 RIFLE STC khoa ICU 68,5 Bagshaw SM(2Error! Reference

Pickering JW(21) (2010) 224 42 AKIN STC khoa ICU 63 (nam)

60 (nữ) Che M(3) (2011) 1056 31,1 AKIN STC sau phẫu thuật tim 65,8 Garzotto F(6) (2011) 576 65,8 RIFLE STC khoa ICU 66

Chúng tôi nhận thấy nguyên nhân STC sau 

thận chiếm tỉ lệ cao nhất (44,4%). Kết quả này 

không tương đồng với các nghiên cứu trên thế 

giới khi hầu hết tác giả đều nhận thấy STC tại 

thận là nguyên nhân hàng đầu ở NLT(0,23). Tuy 

nhiên, chúng tôi có kết quả tương tự Pedro khi 

tiến  hành  mẫu  nghiên  cứu  trên  66  bn  trên  65 

tuổi  (tuổi  trung  bình  là  74,8)  có  STC  và  cần 

điều trị thay thế thận, với bế tắc đường tiểu là 

nguyên nhân hàng đầu của STC (59%)(18). Theo 

Lameire(90), STC sau thận ở người lớn tuổi ngày 

càng gia tăng do đối tượng này có nguy cơ cao 

mắc  các  bệnh  lý  ác  tính  hệ  niệu  hoặc  có  bàng 

quang  giảm  trương  lực.  Tiên  lượng  khả  năng 

hồi  phục  STC  sau  thận  do  bế  tắc  đường  tiểu 

tùy  thuộc  việc  chẩn  đoán  sớm  bằng  siêu  âm 

bụng thường quy. Chúng tôi ghi nhận có 10 bn 

STC  trước  thận  có  kèm  STC  sau  thận  và  3  bn 

STC trước thận có kèm STC tại thận. Tỷ lệ này 

tương tự của Baraldi với tỷ lệ STC do đa yếu tố 

là 15,9%(2).  

STC trước thận và STC tại thận có điều trị và 

tiên  lượng  khác  nhau,  nhưng  trên  thực  tế  lâm 

sàng cũng không dễ dàng trong việc phân biệt 2 

nguyên  nhân  này.  Nguyên  nhân  thường  gặp 

của  STC  trước  thận  trong  nhóm  nghiên  cứu 

chúng  tôi  là  giảm  thể  tích  nội  mạch  (86,1%),  tương  tự  với  các  tác  giả  Akposso,  Lameire,  Pascual,  Rosner(0,9,17,22).  Theo  Musso,  NLT  dễ  bị  STC  trước  thận  hơn  các  đối  tượng  khác  do  tổn  thương cơ chế tự điều hòa tại cầu thận, kèm theo  tăng nguy cơ bị giảm thể tích tuần hoàn do rối  loạn cảm giác khát, bệnh lý cơ xương khớp làm  giới hạn vận động, chế độ ăn tiết chế muối, bệnh 

lý  đường  tiểu  làm  giảm  uống  nước,  sử  dụng  thuốc  lợi  tiểu,  thuốc  ảnh  hưởng  cơ  chế  tự  điều  hòa  (ức  chế  men  chuyển,  ức  chế  thụ  thể  angiotensin II, kháng viêm không steroid…) làm  giảm  tưới  máu  thận(1617).  Hơn  nữa,  STC  trước  thận  ở  NLT  dễ  bị  bỏ  qua  vì  những  dấu  hiệu  thiếu nước như da khô, dấu véo da dương tính 

có thể nhầm lẫn do tình  trạng  lão  hóa  da  niêm  bình thường. Trong một nghiên cứu của Musso  trên  63  bn  STC  cần  lọc  máu  (68,5%  bn  trên  65  tuổi), với 43,4% là do STC trước thận, mất nước  chiếm 66,6%, tụt huyết áp chiếm 12,1%, suy tim  chiếm  6,1%  và  nhiễm  trùng  huyết  chiếm 

thận,  trong  đó  tỉ  lệ  bn  STC  trước  thận  có  dấu  mất nước chiếm 64,9% và 51,4% có hạ huyết áp 

tư  thế  mặc  dù  trị  số  huyết  áp  lúc  nhập  viện  có  thể  bình  thường  hoặc  cao;  STC  trước  thận  còn 

Trang 8

do  giảm  cung  lượng  tim  (8,1%)  và  do  choáng 

nhiễm trùng (2,7%).  

Đối  với  nhóm  STC  tại  thận,  chúng  tôi  ghi 

nhận  thường  gặp  nhất  là  hoại  tử  ống  thận  cấp 

(92,3%),  tương  tự  với  tác  giả  Pascual  và 

Thadhani(17,24). Đa số 9/13 (64,3%) bn STC tại thận 

của  chúng  tôi  nhập  viện  trong  tình  trạng 

thiểu/vô niệu, cao hơn kết quả của Miller, trong 

một nghiên cứu trên 256 bn STC do hoại tử ống 

thận cấp có 23% bn thiểu niệu(13).  

STC ở NLT có đặc điểm cận lâm sàng khác 

với kinh điển. Theo Lameire(90), thận ở NLT giảm 

khả  năng  cô  đặc  nước  tiểu,  giảm  khả  năng  tái 

hấp  thu  muối  natri  chlorua,  chế  độ  ăn  hạn  chế 

muối, sử dụng lợi tiểu… những yếu tố này ảnh 

hưởng  đến  kết  quả  xét  nghiệm,  làm  cho  việc 

phân biệt STC trước thận và tại thận trở nên khó 

khăn hơn. Những trường hợp NLT có biểu hiện 

STC  trước  thận  trên  lâm  sàng,  nhưng  cận  lâm 

sàng lại biểu hiện của  STC  tại  thận  được  gọi  là 

“hội  chứng  trung  gian”  (“Intermediate 

syndrome)(16).  Trong  trường  hợp  này,  việc  điều 

trị tương tự như điều trị STC trước thận và chức 

năng thận thường sẽ hồi phục sau 1 tuần, chậm 

hơn  so  với  STC  trước  thận  kinh  điển.  Theo 

Musso, những nguyên nhân làm cho NLT dễ bị 

hội chứng trung gian, bao gồm: (1) Hiện tượng 

giảm  số  lượng  cầu  thận  cùng  với  xơ  hóa  mạch 

máu  thận  theo  quá  trình  lão  hóa  làm  cho  thận 

tăng nhạy cảm với những tổn thương cấp tính; 

(2) Rối loạn cơ chế tự điều hòa tại thận làm cho 

lưu  lượng  máu  đến  thận  cũng  như  độ  lọc  cầu 

thận  không  được  duy  trì  hằng  định  khi  có  sự 

thay  đổi  lớn  về  áp  lực  tưới  máu  thận;  (3)  Các 

bệnh  lý  nội  khoa  mạn  tính  làm  cho  NLT  có 

khuynh hướng tiết chế muối nước; (4) NLT giảm 

khả  năng  tái  hấp  thu  natri  và  tăng  yếu  tố  bài 

niệu từ tâm nhĩ lam tăng bài tiết natri qua nước 

tiểu; (5) Thận NLT cũng giảm khả năng tái hấp 

thu  nước  do  giảm  trương  lực  ở  vùng  tủy  thận 

cũng như giảm đáp ứng của thận với hormone 

ADH; (6) Ống thận dễ bị tổn thương, đặc biệt là 

ở các ty thể làm giảm dự trữ năng lượng có thể 

đề kháng với tình trạng thiếu máu thận. Chúng 

tôi nhận thấy ở nhóm STC trước thận, không có 

bn nào có FeNa <1% và chỉ có dưới 50% bn thỏa  các  tiêu  chuẩn  của  STC  trước  thận  theo  kinh  điển, ngoại trừ tỉ lệ BUN/CreHT > 20 và cặn lắng  nước tiểu sạch hoàn toàn (62,2% và 51,4%). Cặn  lắng nước tiểu sạch, không có trụ nâu bùn, giúp  loại trừ STC tại thận với giá trị tiên đoán âm là  100%.  Trong  một  nghiên  cứu  trên  102  người  trưởng  thành  có  STC,  Christos  nhận  thấy  ở  nhóm STC trước thận có 92% bn FeNa < 1%, 89% 

bn có FeUN <35%. Tuy nhiên ở cả 2 nhóm STC  trước thận có hoặc không dùng lợi tiểu, ông đều  nhận  thấy  tỉ  lệ  BUN/CreHT  >15  chiếm  tỉ  lệ  cao  hơn  có  ý  nghĩa  so  với  nhóm  hoại  tử  ống  thận  cấp (88% và 85% so với 20%)(4). 

Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận trụ hạt nâu  bùn chiếm 84,6% trong nhóm STC tại thận. Theo  Perazella(2021),  khi  khảo  sát  249  mẫu  nước  tiểu  của bn STC, ông ghi nhận cặn lắng nước tiểu với 

sự hiện diện trụ hạt nâu bùn có giá trị tiên đoán  rất cao cho chẩn đoán hoại tử ống thận cấp với tỉ 

lệ chẩn đoán ng 86%.  

 STC  tại  thận  có  tỉ  lệ  lọc  máu,  tỉ  lệ  tử  vong  cao  hơn,  thời  gian  nằm  viện  kéo  dài  hơn  cũng  như  tỉ  lệ  hồi  phục  chức  năng  thận  thấp  hơn  so  với  STC  trước  thận  và  sau  thận.  Kết  quả  của  chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của tác  giả Musso, Pedro, Santacruz (16,18,23). STC tại thận 

có tiên lượng xấu có thể do tỉ lệ bn STC thiểu‐vô  niệu  cao  (64,3%).  Thiểu  niệu  đã  được  chứng  minh là một yếu tố nguy cơ tử vong trong STC  qua  nhiều  nghiên  cứu.  Thiểu  niệu  làm  tăng  nguy cơ lọc máu cấp cứu (70,7 so với 22,4%, p =  0,001),  lọc  máu  dài  hạn  >  90  ngày  (15  so  với  1,9%,  p  =  0,006),  cũng  như  tử  vong  trong  bệnh  viện (tỉ số nguy cơ = 3.33, 95% CI, p = 0,001) hơn  STC không thiểu niệu(14). Tỉ lệ tử vong của chúng  tôi thấp hơn Akposso (13,3% so với 40%, p<0,05), 

có thể do Akposso nghiên cứu trên bn STC lớn  hơn  80  tuổi  nhập  vào  khoa  ICU(0).  Theo  Pascual(17),  tỉ  lệ  tử  vong  ở  NLT  có  STC  vẫn  còn  cao do nhiều yếu tố phối hợp như bệnh thận nền  tảng,  nguyên  nhân  STC,  sự  can  thiệp  điều  trị  cũng như bn phải trải qua những phẫu thuật có 

Trang 9

bn lớn tuổi nhập viện, tỉ lệ tử vong ở nhóm NLT 

có  STC  cao  gấp  đôi  so  với  NLT  không  STC 

(25,4% so với 12,5%)(8).  

Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế 

như: (1) Thời gian nghiên cứu ngắn, cỡ mẫu nhỏ 

(2)  CreHT  không  nhạy  trong  chẩn  đoán  STC, 

nên  với  creHT>1,5mg/dL,  chúng  tôi  dễ  bỏ  sót 

những bn NLT suy kiệt.  

KẾT LUẬN 

Người  lớn  tuổi  nhập  khoa  Thận,  bệnh  viện 

Chợ Rẫy được chẩn đoán suy thận cấp chiếm tỉ 

lệ  cao  (69,2%),  trong  đó  chủ  yếu  là  STC  trước 

thận  và  STC  sau  thận.  Hầu  hết  bn  STC  trước 

thận  có  hội  chứng  trung  gian,  Tỷ  lệ 

BUN/creatinineHT và cặn lắng nước tiểu giữ vai 

trò  quan  trọng  trong  phân  biệt  giữa  STC  trước 

thận  và  tại  thận.  Phần  lớn  bn  STC  tại  thận  cần 

lọc máu. Nhận biết những khác biệt về đặc điểm 

lâm sàng, cận lâm sàng của STC ở người lớn tuổi 

so  với  người  trẻ  hỗ  trợ  cho  việc  chăm  sóc  sức 

khỏe ở đối tượng này. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

failure  in  patients  over  80  years  old:  25‐yearsʹ  experience. 

Intensive Care Med. 26(4): p. 400‐406. 

the  RIFLE  and  AKIN  criteria  for  acute  kidney  injury  in 

critically ill patients. Nephrol Dial Transplant. 23(5): p. 1569‐

1574. 

failure of medical type in an elderly population. Nephrol Dial 

Transplant. 13 Suppl 7: p. 25‐29. 

injury  following  cardiac  surgery  and  related  risk  factors  in 

Chinese patients  Nephron Clin Pract. 4(111): p. c305‐311. 

the fractional excretion of urea in the differential diagnosis of 

acute renal failure. Kid International. 62: p. 2223‐2229. 

Italian Prospective Hospital Renal Outcome Survey on Acute 

Kidney Injury (NEiPHROS‐AKI): targeting the problem with 

the RIFLE Criteria. Clin J Am Soc Nephrol. 2(3): p. 418‐425. 

collection/management  system  applied  to  a  prospective 

cohort multicenter Italian study on the epidemiology of acute 

kidney injury in the intensive care unit  Blood Purif. 1‐3(31): 

p. 159‐171. 

for acute kidney injury are associated with hospital mortality 

in critically ill  patients:  a  cohort  analysis.  Crit  Care.  10(3):  p.  R73. 

Treatment‐related acute renal failure in the elderly: a hospital‐ based  prospective  study.  Nephrol  Dial  Transplant.  15(2):  p.  212‐217. 

Pathophysiology, causes, and prognosis of acute renal failure 

in the elderly. Ren Fail. 18(3): p. 333‐346. 

risk  score  for  prediction  of  contrast‐induced  nephropathy  after  percutaneous  coronary  intervention:  development  and  initial validation. J Am Coll Cardiol. 44(7): p. 1393‐1399. 

Injury Network: report of an initiative to improve outcomes 

in acute kidney injury. Crit Care. 11(2): p. R31. 

(2007), in The Kidney, Editor: Brenner. Saunders Elservier. p.  943‐975. 

diagnostic indices in acute renal failure: a prospective study.  Ann Intern Med. 89(1): p. 47‐50. 

oliguric severe acute kidney injury according to the risk injury  failure  loss  end‐stage  (RIFLE)  criteria.  Nephron  Clin  Pract.  115(1): p. c59‐65. 

Aging  Kidney  in  Health  and  Disease.  Springer  Science  +  Business Media, LLC: New York, USA. 

failure  in  the  very  old.  Madrid  Acute  Renal  Failure  Study  Group. J Am Geriatr Soc. 46(6): p. 721‐725. 

in elderly patients. Geriatr Nephrol Urol. 3: p. 133‐137. 

microscopy  is  associated  with  severity  and  worsening  of  acute  kidney  injury  in  hospitalized  patients.  Clin  J  Am  Soc  Nephrol. 5(3): p. 402‐408. 

value  of  urine  microscopy  for  differential  diagnosis  of  acute  kidney injury in hospitalized patients. Clin J Am Soc Nephrol.  3(6): p. 1615‐1619. 

creatinine with MDRD misclassifies acute kidney injury in the  intensive care unit. Clin J Am Soc Nephrol. 5(7): p. 1165‐1173. 

American Society of Nephrology. 

Elderly  Patients  with  Acute  Renal  Failure.  Renal  Failure.  18(4): p. 601‐605. 

failure. N Engl J Med. 334: p. 1448‐1460. 

Tạp chí Y Học TPHCM. 14: p. 190‐198. 

 

Ngày nhận bài báo     01‐05‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  30‐05‐2013  Ngày bài báo được đăng:     15–07‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 22:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w