1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tạo hình bàng quang tân tạo trong nội soi ổ bụng cắt bàng quang tận gốc

4 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 230,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc điều trị chuẩn cho những trường hợp ung thư bàng quang tế bào chuyển tiếp xâm lấn lớp cơ và đánh giá kết quả của phẫu thuật tạo hình bàng quang tân tạo sau phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt bàng quang tận gốc tại Bệnh viện Bình Dân.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 1 * 2014

TẠO HÌNH BÀNG QUANG TÂN TẠO TRONG NỘI SOI Ổ BỤNG

CẮT BÀNG QUANG TẬN GỐC

Nguyễn Tiến Đệ*, Vũ Lê Chuyên*, Trần Ngọc Khắc Linh*, Trần Thanh Nhân*, Chung Tuấn Khiêm*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc là điều trị chuẩn cho những trường hợp ung thư bàng

quang tế bào chuyển tiếp xâm lấn lớp cơ Phẫu thuật để chuyển lưu nước tiểu là một bước kế tiếp bắt buộc sau phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả của phẫu thuật tạo hình bàng quang tân tạo sau phẫu thuật nội soi

ổ bụng cắt bàng quang tận gốc tại Bệnh viện Bình Dân

Đối tượng & phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên các trường hợp có chỉ định phẫu thuật

nội soi ổ bụng cắt bàng quang tận gốc và chuyển lưu nước tiểu bằng ruột tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 10/2007 đến tháng 5-2013

Kết quả nghiên cứu: Có tổng cộng 14 trường hợp, trong đó đa số các trường hợp là nam, tuổi trung

bình là 56,8 tuổi Chẩn đoán trước phẫu thuật ở giai đoạn T2-3a trong 100% trường hợp, 50% có độ biệt hóa vừa và 35,7% có độ biệt hóa kém Có 6 trường hợp (42,9%) tạo hình bàng quang trực vị qua đường mổ nhỏ 5-6 cm trên và dưới rốn và 1 trường hợp bằng nội soi toàn bộ Chuyển lưu Bricker qua đường mổ nhỏ được thực hiện trên 3 trường hợp (21,4%) Thời gian phẫu thuật trung bình là 363,2 phút, lượng máu mất trong mổ là 607,1 ml Tỉ lệ truyền máu trong phẫu thuật là 42,9% Thời gian cắt bàng quang trung bình khoảng 148 phút Bệnh nhân bắt đầu ăn lại trung bình vào ngày hậu phẫu thứ 4 Các ống dẫn lưu được rút vào ngày hậu phẫu trung bình 9,7 Thời gian nằm viện trung bình là 10,3 ngày Các dẩn lưu rút toàn bộ sau trung bình 15,3 ngày Không có trường hợp tắc ruột hậu phẫu Trung bình giảm đau tĩnh mạch trong 4 ngày hậu phẫu đầu tiên Biến chứng hậu phẫu có 3 trường hợp còn rò nước tiểu kéo dài trên 10 ngày qua dẫn lưu Tỷ lệ ước tính sống không ung thư sau 5 năm là 75%

Kết luận: Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt bàng quang tận gốc là phương pháp lựa chọn an toàn và hiệu quả

cho các trường hợp bướu bàng quang xâm lấn lớp cơ sâu hoặc bướu tái phát nhiều lần có độ ác cao

Từ khóa: Tạo hình bàng quang tân tạo, phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc, chuyển lưu nước tiểu bằng ruột,

ABSTRACT

NEOBLADDER SUBSTITUTION IN LAPAROSCOPIC RADICAL CYSTECTOMY

Vu Le Chuyen, Nguyen Tien De, Tran Ngoc Khac Linh,Tran Thanh Nhan, Chung Tuan Khiem

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 1 - 2014: 336 - 339

Introduction: laparoscopic radical cystectomy is the standard treatment of muscle-invasive bladder cancer

Urinary diversion is the next important step in order to re-establish the normally anatomical and physiological function of urinary system

Aims: to evaluate the results of neobladder substitution after laparoscopic radical cystectomy in Binh Dan

hospital

Research Methods: we selected the patients who have the indication of radical cystectomy and ileal

diversion from 10/2007 to 05/2003 in Binh Dan hospital

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 1 * 2014 Nghiên cứu Y học

Results: in total of 14 cases, 92.8% was represented for male patients The mean age was 56.8 years old

There were six cases which were performed extracoporeal ileal conduct and orthotopic bladder substitution and 1 case full lap The mean operation time was 148 minuites The bowel movement was recovered at day 3rd -4th post-operation The drains were completely removed in day 9th post-post-operation There were 3 cases with urine leakage,

in which one needed the re-opration to correct the leakage According to Kaplan Meier survial model, the free cancer survival rate after 5 year was approximately 75%

Conclusion: laparocopic radical cystectomy for bladder cancer is safe and effective technique

Keywords: neobladder substitution, ileal diversion, radical cystectomy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc bao gồm

bàng quang, tuyến tiền liệt và túi tinh ở nam

hoặc tử cung và phần phụ ở nữ là điều trị chuẩn

cho những trường hợp ung thư bàng quang tế

bào chuyển tiếp xâm lấn lớp cơ(2) Gần đây, với

những tiến bộ về mặt kỹ thuật lẫn hiệu quả về

mặt ung thư học trong phẫu thuật nội soi cắt tiền

liệt tuyến, phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt bàng

quang đã dần được thực hiện phổ biến nhiều nơi

trên Thế giới Mặc dù còn có những hạn chế về

thời gian phẫu thuật kéo dài cũng như yêu cầu

về kinh nghiệm phẫu thuật viên, những kết quả

ban đầu đã cho thấy phẫu thuật nội soi những

ưu điểm như giảm lượng máu mất trong phẫu

thuật, giảm đau hậu phẫu, hiệu quả thẩm mỹ và

thời gian trở lại sinh hoạt bình thường sớm

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm

bước đầu đánh giá kết quả của phẫu thuật tạo

hình bàng quang tân tạo sau phẫu thuật nội

soi ổ bụng cắt bàng quang tận gốc tại Bệnh

viện Bình Dân

Đối tượng - phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt trường hợp - tiến cứu

Thời gian thực hiện

Tháng 10-2007 đến 5-2013,

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán bướu bàng

quang xâm lấn lớp cơ (T2) trở lên, chưa có dấu

hiệu xâm lấn ra ngoài bàng quang trên chẩn

đoán lâm sàng và giải phẫu bệnh trước khi phẫu

thuật cắt bàng quang tận gốc

Phương pháp tiến hành

Tư thế bệnh nhân, vị trí đặt trocar và tạo khoang:

Chúng tôi đặt từ 4 đến 5 trocars (2 trocars 10mm, 2 trocars 5mm) ở các vị trí dưới rốn, hố chậu 2 bên tạo thành hình vòng cung giữa rốn và gai chậu trước trên hai bên

Nạo hạch chậu 2 bên

Cắt bàng quang

Phẫu thuật chuyển lưu nước tiểu: theo 2 cách Tái tạo lưu thông ruột bằng Stapler kiểu bên – bên

Trong trường hợp chuyển lưu nước tiểu ra

da (Bicker hoặc túi Kock)

KẾT QUẢ

Từ tháng 10-2007 đến 5-2013, có 14 trường hợp được phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc do ung thư bàng quang tại khoa Niệu C bệnh viện

Bình Dân

Đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trước phẫu thuật

Tuổi trung bình (năm) 56,8 ± 6,4 BMI trung bình 22,4 ± 1,0

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 1 * 2014

Phương pháp phẫu thuật

Phương

pháp (n=14)

Số trường hợp

Tỷ lệ (%)

Cắt nối ruột Stapler qua đường mổ nhỏ 12 85,7

Stapler – nội soi toàn bộ 2 14,3

Chuyển lưu

nước tiểu

Bàng quang tân tạo – qua

Bàng quang tân tạo –

đường mổ mở cổ điển 2 14,3

Chuyển lưu Bricker qua

Chuyển lưu túi Kock qua

Bàng quang tân tạo – Nội

Chuyển lưu Bricker – Nội

Kết quả phẫu thuật

(95%)

Số ca Tỷ lệ (%)

Thời gian cắt bàng quang (phút) 147,8 ± 27,5

Thời gian cắt và nối

ruột (Stapler)

(phút)

Qua Nội Soi Ổ Bụng (n=1)

100 <

0,05 Qua đường mổ

nhỏ và cổ điển (n=13)

45 ± 32,1

Thời gian tạo hình

bàng quang tân tạo

(n=7) (phút)

Qua Nội Soi Ổ Bụng (n=1)

120 <0,05

Qua đường mổ nhỏ (n=6)

88,3 ± 14,7

Thời gian khâu nối cổ bàng quang

tân tạo – niệu đạo (n=7)

51,7 ± 13,7

Tổng thời gian PT (phút) (n=14) 363,2 ± 63

Máu mất (ml) 607,1 ± 373,6

Truyền máu trong

PT

Theo dõi kết quả gần trong thời gian hậu

phẫu

Đặc điểm (n=14)

Trung bình

± đlc

Số

ca

Tỷ lệ (%)

Thời gian nằm ICU (ngày) 1,1 ± 0,3

Ngày hậu phẫu nuôi ăn tĩnh mạch (ngày) 4,5 ± 2,5

Thời gian giảm đau tĩnh mạch (ngày) 3,9 ± 1

Thời gian rút dẫn lưu cạnh vết mổ (ngày) 9,7 ± 5,5

Thời gian rút thông niệu quản (ngày) 15,5 ± 3,8

Thời gian rút thông niệu đạo (ngày) 16,7 ± 3,5

Thời gian rút thông bàng quang ra da (ngày) 26,4 ± 5,9

Thời gian nằm viện (ngày) 15,3 ± 6,1

Truyền máu

sau PT

Đặc điểm (n=14)

Trung bình

± đlc

Số

ca

Tỷ lệ (%)

Biến chứng hậu phẫu

Dò nước tiểu từ bàng quang tân tạo vào ổ bụng 1 7,1

Xì nước tiểu kéo dài qua dẫn lưu (>10 ngày) 2 14,3 Tắc ống dẫn lưu niệu quản 4 28,6

Rò ruột – âm đạo (bệnh nhân

BÀN LUẬN

Cho đến nay, phẫu thuật mổ mở cắt bàng quang tận gốc vẫn còn là điều trị chuẩn cho các trường hợp bướu bàng quang xâm lấn lớp cơ sâu, tuy nhiên đây cũng là phẫu thuật có nhiều biến chứng nhất trong Tiết Niệu cho dù với phẫu thuật viên kinh nghiệm, một phần do những nguyên nhân như đường mổ dài kèm thời gian căng kéo lâu, thời gian bộc lộ nội tạng kéo dài và tầm quan sát các tạng phủ trong vùng chậu có phần hạn chế Phẫu thuật nội soi ra đời nhằm khắc phục những vấn đề trên mà không ảnh

hưởng đến hiệu quả về mặt ung thư học

Phẫu thuật nội soi cắt bàng quang kèm tạo hình bàng quang thay thế là một phẫu thuật khó, các kỹ thuật vẫn còn đang được chuẩn hóa, vì vậy việc lựa chọn bệnh trước mổ đóng vai trò rất quan trọng Bước đầu, chúng tôi lựa chọn các trường hợp có chẩn đoán giai đoạn trước mổ là T2b-3aNoMo và ít bệnh phối hợp khác đi kèm Tuy nhiên, ở các trung tâm Niệu Khoa lớn, các tác giả đã thực hiện phẫu thuật nội soi cắt bàng quang tận gốc trên các trường hợp ung thư xâm lấn tại chỗ hoặc di căn hạch (T3b-4N0-1M0) với kết quả tương đương với mổ mở sau 2 năm(3)

Phương pháp chuyển lưu nước tiểu

Hiện nay, chỉ định lựa chọn phương pháp chuyển lưu nước tiểu còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Các yếu tố xem xét có thể bao gồm: giai đoạn và độ biệt hóa, tuổi, tổng trạng, bệnh đi kèm, giới, tâm lí, vị trí ung thư và niệu đạo đi kèm Có thể tóm lược một số nhóm chính

như sau:

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 1 * 2014 Nghiên cứu Y học

- Mở niệu quản ra da: đây là hình thức

chuyển lưu ra da đơn giản nhất Mặc dù tỷ lệ

biến chứng liên quan đến phẫu thuật mở niệu

quản ra da thấp hơn phẫu thuật chuyển lưu ra

da bằng ruột, nghiên cứu của các tác giả cho thấy

phẫu thuật này về lâu dài có tỷ lệ hẹp miệng nối

niệu quản và nhiễm trùng đường Tiết Niệu trên

cao hơn so với chuyển lưu bằng ruột

- Chuyển lưu nước tiểu ra da bằng ruột –

không kiểm soát: đây là kỹ thuật được sử dụng

nhiều, thậm chí là trên những bệnh nhân già yếu

và lớn tuổi Tuy nhiên, có đến khoảng 48% các

trường hợp là có biến chứng như: viêm đài – bể

thận, rò và hẹp miệng nối niệu quản – ruột theo

kết quả nghiên cứu của Nieuwenhuijzen và cộng

sự Ngoài ra, biến chứng xa thường gặp trên

miệng nối lên đến 20% và khả năng tạo sỏi cũng

thường gặp Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

biến chứng thường gặp nhất của chuyển lưu

Bricker là nhiễm trùng niệu tái đi tái lại (2/4

trường hợp)

- Chuyển lưu nước tiểu ra da bằng ruột –

kiểm soát: nhiều đoạn ruột được sử dụng như dạ

dày, hồi manh tràng, đại tràng signma đã được

nhiều tác giả nghiên cứu Tỷ lệ kiểm soát nước

tiểu ngày và đêm cũng trên 90% và tỷ lệ hẹp

miệng túi thấp dưới 20%(1)

- Tạo hình bàng quang tân tạo trực vị: đây là

kỹ thuật ngày càng được sử dụng nhiều hơn

Đoạn ruột hồi – manh tràng và đoạn cuối hồi

tràng được sử dụng nhiều nhất Việc đi tiểu

được thực hiện nhờ áp lực ổ bụng, nhu động

ruột và sự dãn nở của sàn chậu Tỉ lệ tai biến –

biến chứng chung ở cả giai đoạn sớm và muộn

vào khoảng 22%, tỉ lệ tiểu không kiểm soát ban

ngày khoảng 8-10%, tiểu không kiểm soát ban

đêm khoảng 20-30%, hẹp chỗ cắm niệu quản vào bàng quang từ 3-18% và tiểu không hết dưới 12% Hơn nữa, trong cùng một gia đoạn bệnh, nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn phương pháp chuyển lưu nước tiểu không ảnh hưởng đến kết quả ung thư học Vì vậy, phẫu thuật viên cần lựa chọn phương pháp chuyển lưu nước tiểu phù hợp nhất, trong đó ưu tiên phương pháp tạo hình bàng quang đúng vị trí và chuyển lưu nước tiểu có kiểm soát nhằm nâng cao chất lượng

sống của bệnh nhân

KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt bàng quang tận gốc là phương pháp lựa chọn an toàn và hiệu quả cho các trường hợp bướu bàng quang xâm lấn lớp cơ sâu hoặc bướu tái phát nhiều lần có độ ác cao Tạo hình bàng quang tân tạo trực vị hoặc bàng quang thay thế chuyển lưu ra da theo ngả ngoài ổ bụng, qua đường mổ nhỏ là phương pháp lựa chọn an toàn và hiệu quả, có thể kế thừa tốt ưu điểm

của phẫu thuật nội soi cắt bàng quang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

orthotopic ileal neobladder with serous-lined extramural ureteral reimplantation: experience with 450 patients J Urol, 165(5), 1427-1432

PM, Tabernero Gómez A, Cansino Alcaide R, Cisneros Ledo J,

De la Peña Barthel JJ (2008) Laparoscopic urinary diversions Actas Urol Esp, 32(9), 908-915

3 Aron M, Colombo JR, Jr., Haber GP, Campbell SC & Gill IS (2007) Laparoscopic radical cystectomy BJU Int, 100(2),

455-476

Ngày nhận bài báo: 05/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/12/2013 Ngày bài báo được đăng: 20/02/2014

Ngày đăng: 20/01/2020, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm