1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận

6 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 408,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu: Nghiên cứu kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận. Nghiên cứu tình trạng kháng insulin ở 124 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận so với 113 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 không tổn thương thận và 51 người khỏe mạnh, đang điều trị tại bệnh viện Nguyễn Trãi.

Trang 1

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 CÓ TỔN THƯƠNG THẬN 

Nguyễn Thị Thanh Nga*, Hoàng Trung Vinh**, Nguyễn Thị Bích Đào*** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Nghiên cứu kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả, tình trạng kháng insulin ở 124 bệnh nhân đái tháo 

đường typ 2 có tổn thương thận so với 113 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 không tổn thương thận và 51 người khỏe  mạnh, đang điều trị tại bệnh viện Nguyễn Trãi. 

Kết quả:Chỉ số kháng insulin ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có tổn thương thận là 3,76 ± 2,08, tăng cao 

hơn so với nhóm ĐTĐ typ 2 không có tổn thương thận (2,83 ± 1,81); so nhóm chứng khỏe mạnh (1,43 ± 0,49) có 

ý nghĩa p< 0,01. Không thấy sự khác biệt giữa độ nhạy insulin và chức năng tế bào beta giữa nhóm bệnh nhân  ĐTĐ typ 2 có và không có tổn thương thận, p> 0,05. Kháng insulin tương quan nghịch, độ nhạy insulin và chức  năng tế bào beta tương quan thuận, mức độ vừa có ý nghĩa với MLCT ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có tổn thương  thận, r lần lượt – 0,39 ; 0,41 ; 0,43, p< 0,05. 

Kết  luận:  Chỉ số  kháng insulin ở BN ĐTĐ typ 2 có tổn thương thận tăng cao hơn so với bệnh nhân đái 

tháo đường typ 2 không có tổn thương thận. 

Từ khóa: Đái tháo đường typ 2, tổn thương thận, kháng insulin 

ABSTRACT 

STUDYING ON INSULIN RESISTANCE OF TYPE 2 DIABETIC MELLITUS  

WITH KIDNEY LESION 

Nguyen Thi Thanh Nga, Hoang Trung Vinh, Nguyen Thi Bich Đao 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 3513 ‐ 356 

Background  and  Objective:  To  study  insulin  resistance  in  patients  with  type  2  diabetic  with  kidney  lesion. 

Patients  and  methods:  A prospective study description  insulin resistance of 124 type 2 diabetic mellitus  with kidney lesion compared that of 113 type 2 diabetic mellitus without kidney lesion and of 51 healthy people. 

Results:  Insulin  Resistance  Index  of  type  2  diabetic  mellitus  with  kidney  lesion  is  3.76  ±  2.08,  higher 

significantly than that of type 2 diabetic mellitus without kidney lesion (2.83 ± 1.81); of healthy control (1.43 ±  0.49), p< 0.01. We not find significant difference of insulin sensitivity, beta cell function between patients of type 

2 diabetic mellitus with or without kidney lesion, p> 0.05. We also find a negative correlation between insulin  resistance;  positive  correlations  between  insulin  sensitivity;  beta  cell  function  and  glomerular  filtration  rate  of  type 2 diabetic mellitus with kidney lesion, r= ‐ 0.39; 0.41; 0.43, p< 0.05  

Conclusion: The insulin resistance in patients with type 2 diabetes and nephropathy higher than patients 

with type 2 diabetes without kidney damage  

Key words: Type 2 diabetic mellitus, kidney lesion, insulin resistance. 

Trang 2

Kháng insulin là cơ chế quan trọng nhất của 

bệnh ĐTĐ typ 2, nó thể hiện bằng tăng nồng độ 

insulin để bù trừ cho tình trạng giảm nhạy cảm 

của  insulin  đối  với  các  mô  đích.  Đánh  giá  có 

kháng  insulin  dựa  vào  sự  xuất  hiện  của  một 

hoặc nhiều đặc điểm sau:  tăng  nồng  độ  insulin 

máu,  gia  tăng  các  chỉ  số  đề  kháng  insulin  và 

giảm độ nhạy cảm của insulin. Tình trạng kháng 

hoặc  nhạy  cảm  của  insulin  có  thể  được  lượng 

hóa dựa vào mối liên quan giữa nồng độ insulin 

hoặc C‐peptid với glucose máu(1). Kháng insulin 

không  chỉ  là  cơ  chế  bệnh  sinh  quan  trọng  của 

bệnh ĐTĐ typ 2 mà còn là yếu tố liên quan đến 

sự xuất hiện biến chứng cơ quan đích, cơ sở để 

lựa chọn biện pháp điều trị phù hợp và đánh giá 

hiệu quả của việc kiểm soát các chỉ số. Trong số 

các biến chứng cơ quan đích thì tổn thương thận 

là  biến  chứng  có  liên  quan  mật  thiết  nhất  theo 

quan hệ nhân ‐ quả thuận và nghịch với kháng 

insulin.  Mức  độ  kháng  insulin  có  ảnh  hưởng 

trực  tiếp  đến  sự  xuất  hiện,  tiến  triển  của  biến 

chứng  ĐTĐ  typ  2.  Vì  vậy,  nhóm  nghiên  cứu 

thực hiện đề tài này với 2 mục tiêu: 

1. Khảo sát tình trạng kháng insulin ở bệnh 

nhân đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận. 

2. Tìm mối liên quan giữa kháng insulin với 

mức  độ  và  giai  đoạn  tổn  thương  thận  ở  bệnh 

nhân đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Đối tượng nghiên cứu là 288 người gồm 237 

bệnh  nhân  đái  tháo  đường  typ  2  và  51  người 

khỏe  mạnh  tương  đồng  về  tuổi  và  giới  làm 

nhóm  chứng  (ký  hiệu  nhóm  N1).  Bệnh  nhân 

được  chia  làm  2  nhóm:  nhóm  chưa  có  tổn 

thương  thận  113  bệnh  nhân  được  ký  hiệu  N2, 

nhóm  có  tổn  thương  thận  124  bệnh  nhân  được 

ký hiệu N3. 

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân  

Bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường 

Bệnh nhân có hoặc chưa có biến chứng.  Bệnh nhân hợp tác, tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Đái  tháo  đường  typ  1,  thai  kỳ  hoặc  có  nguyên nhân. 

Đang có hôn mê do tăng glucose máu.  Mắc ung thư giai đoạn cuối kèm theo.  Đang  mắc  các  bệnh  cấp  tính  như:  Nhiễm  khuẩn,  nhồi  máu  cơ  tim,  suy  tim  cấp,  đột  quị  não… 

Bệnh  nhân  nghi  ngờ  mắc  bệnh  ngoại  khoa,  hoặc  bệnh  nhân  đã  có  can  thiệp  phẫu  thuật  trong 1 tháng. 

Không hợp tác nghiên cứu. 

Nội dung và phương pháp nghiên cứu 

Tiến  cứu,  cắt  ngang,  mô  tả,  so  sánh  với  nhóm chứng khỏe mạnh.  

Bệnh nhân được khám lâm sàng, làm các xét  nghiệm cận lâm sàng về huyết học và sinh hóa 

máu thường qui. 

Các chỉ số đánh giá kháng insulin bao gồm:  nồng  độ  insulin,  c‐peptid  huyết  thanh  lúc  đói,  các  chỉ  số  kháng  insulin  (HOMA‐IR),  độ  nhạy  cảm insulin (HOMA‐%S), chức năng tiết insulin  của  tế  bào  ß  (HOMA‐%B).  Đánh  giá  tăng  hoặc  giảm  các  chỉ  số  này  dựa  vào  các  chỉ  số  nhóm  chứng.  

Đánh giá tổn thương thận qua một trong các  chỉ tiêu sau: 

Microalbumin  niệu  (+)  (MAU)  và  không  có  suy thận mạn. 

Macroalbumin  niệu  (MAC)  (+)  và  không  có  suy thận mạn. 

Suy  thận  mạn  tính  các  giai  đoạn  (mức  lọc  cầu thận < 60ml/phút/1,73 m2). 

Xử  lý  số  liệu  bằng  phần  mềm  SPSS  16.  xác  định:  giá  trị  trung  bình,  so  sánh  giá  trị  trung  bình, tỷ lệ phần trăm. Vẽ đồ thị tương quan trên  Ecxel. 

Trang 3

Trong  tổng  số  237  bệnh  nhân  có  tỷ  lệ  nam 

chiếm 26,6% và nữ chiếm 73,4%, tuổi trung bình 

nhóm  N2  là  65,9  tuổi,  nhóm  N3  là  69,4  tuổi. 

Nhóm  chứng  có  tỷ  lệ  nam  là  21,6%  và  nữ  là  78,4%, tuổi trung bình là 66,4 tuổi, không có sự  khác biệt giữa các nhóm, p> 0,05. 

Bảng 1. So sánh giá trị trung bình các chỉ số giữa 3 nhóm 

Insulin (µmol/ml) 6,99 ± 3,3 10,42 ± 6,13 15,8 ± 9,2 p ANOVA < 0,01

C-peptid (nmol/l) 0,77 ± 0,41 1,05 ± 0,6 1,44 ± 0,77 p ANOVA < 0,01

HOMA2 IR 1,43 ± 0,49 2,83 ± 1,81 3,76 ± 2,08 pANOVA < 0,01

HOMA2 %S 75,78 ± 33,36 48,78±30,13 49,26 ±38,03 p P 1&31&2 < 0,01 < 0,01

P 2&3 > 0,05

HOMA2%B 151,56±62,51 78,91±47,54 80,32±48,69

P 1&2< 0,01

p 1&3 < 0,01

P 2&3 > 0,05

Giá trị trung bình nồng độ insulin, c‐peptid, 

chỉ số kháng insulin ở BN ĐTĐ đều cao hơn có ý 

nghĩa so với nhóm chứng khỏe mạnh, trong đó 

ở BN ĐTĐ có tổn thương thận là cao nhất. 

Độ nhạy insulin và chức năng tế bào β ở BN  ĐTĐ  typ  2  đều  giảm  hơn  so  với  nhóm  chứng  khỏe  mạnh  song  giữa  2  nhóm  BN  thì  sự  khác 

biệt không có ý nghĩa thống kê. 

Bảng 2. So sánh tỷ lệ bệnh nhân giữa 2 nhóm dựa vào mức độ của các chỉ số. 

n (%) n (%)

Tăng Insulin (> 10,29 µmol/ml) 46 40,7 101 81,5 < 0,01

C-peptid (> 1,18 nmol/l) 39 34,5 77 62,1 < 0,01

HOMA2%B (< 89,05%) 51 45,1 100 80,6 < 0,01

BN  có  tổn  thương  thận  có  tăng  insulin,  c‐

peptid,  HOMA2‐IR  đều  chiếm  tỷ  lệ  cao  hơn  so 

với BN ĐTĐ typ 2 không có tổn thương thận. 

BN  tổn  thương  thận  có  giảm  độ  nhạy  insulin,  chức  năng  tiết  insulin  của  tế  bào  β  đều  chiếm tỷ lệ cao hơn so với BN ĐTĐ typ 2 không 

có tổn thương thận. 

Bảng 3. So sánh giá trị trung bình các chỉ số ở bệnh nhân theo thể lâm sàng tổn thương thận. 

Insulin (µmol/ml) 12,15 ± 7,04 15,51 ± 8,86 18,54 ± 11,28 < 0,01

C-peptid (nmol/l) 1,12 ± 0,45 1,53 ± 0,61 1,86 ± 1,33 < 0,05

HOMA2 %S 54,74 ± 29,9 48,7 ± 24,12 42,3 ± 24,26 < 0,05

HOMA2%B 88,7 ± 45,78 81,4 ± 57,52 73,3 ± 34,76 < 0,05

Khi mức độ tổn thương thận nặng dần thì: 

Nồng độ insulin,  c‐peptid,  HOMA2‐IR  tăng 

dần có ý nghĩa thống kê. 

GTTB độ nhạy insulin, chức năng tiết insulin 

của tế bào β giảm dần (p< 0,05). 

Bảng 4. Tương quan chỉ số kháng insulin và chức 

năng tế bào beta với mức lọc cầu thận 

Chỉ số MLCT (ml/phút/1,73m 2 )

r p Phương trình

HOMA2-IR - 0,39 < 0,05 y = -0,0262x + 4,3803 HOMA2%S 0,41 < 0,05 y = 0,5066x + 25,029 HOMA2%B 0,43 < 0,05 y = 0,7246x + 33,555

Trang 4

nghĩa  với  MLCT.  Độ  nhạy  insulin,  CNTB  β 

tương quan thuận có ý nghĩa với MLCT. 

 

Đồ thị 1. Tương quan giữa chỉ số HOMA2 IR với 

mức lọc cầu thận ở bệnh nhân đái tháo đường có tổn 

thương thận 

Đồ thị 2. Tương quan giữa chỉ số HOMA2 %S với 

mức lọc cầu thận ở bệnh nhân đái tháo đường có tổn  thương thận 

BÀN LUẬN 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  nhóm 

bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) typ2 có  hoặc 

chưa có biến chứng tổn thương thận đều có tỷ lệ 

nam  nữ  và  trung  bình  tuổi  tương  đương  với 

nhóm chứng. Nồng độ insulin và c‐peptid nhóm 

bệnh nhân cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa, đặc 

biệt nhóm bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có biến chứng 

thận cao hơn nhóm chưa có biến chứng thận có 

ý nghĩa, p< 0,01. Chúng tôi cho rằng kết quả này 

hợp lý theo cơ chế bệnh sinh và phù hợp với các 

nghiên cứu trong và ngoài nước. Nhiều nghiên 

cứu cho thấy tiết insulin ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 

có những bất thường. Những bất thường về tiết 

insulin được mô tả ở người bị rối loạn dung nạp 

glucose cũng có ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2, nhưng 

ở mức độ nặng hơn. Chức năng tế bào beta tiếp 

tục  bị  suy  trong  quá  trình  diễn  biến  của  bệnh 

ĐTĐ týp 2. Sự suy giảm chức năng tế bào beta 

này  là  tồn  tại  ở  không  chỉ  trong  giai  đoạn  tiến 

triển  từ  kháng  insulin  còn  bù  thành  rối  loạn 

dung nạp glucose và tiếp đó là ĐTĐ týp 2 rõ rệt 

mà  còn  trong  giai  đoạn  ĐTĐ  týp  2  đã  xuất 

viện(356). Chỉ số kháng insulin ở nhóm bệnh nhân 

ĐTĐ  chưa  tổn  thương  thận  cao  hơn  nhóm 

chứng  có  ý  nghĩa  thống  kê  và  đặc  biệt  trong 

nhân ĐTĐ typ 2 có tổn thương thận lại cao hơn  nhóm chưa có tổn thương thận rất nhiều và có ý  nghĩa(1).  Độ  nhạy  insulin  và  chức  năng  tế  bào  beta  nhóm  bệnh  nhân  giảm  hơn  so  với  nhóm  chứng có ý nghĩa, p< 0,01, tuy nhiên chưa thấy 

sự  khác  biệt  giữa  nhóm  ĐTĐ  chưa  có  tổn  thương  thận  và  nhóm  có  tổn  thương  thận.  Kháng  insulin  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  việc xuất hiện vữa xơ động mạch(2). Biến chứng  mạch máu các cơ quan đích ở BN ĐTĐ typ 2 chủ  yếu thông qua cơ chế vữa xơ động mạch. Vì vậy 

sự  hiện  diện  và  mức  độ  kháng  insulin  sẽ  tác  động  lên  quá  trình  vữa  xơ  động  mạch.  Kháng  insulin  gây  rối  loạn  tế  bào  nội  mạc  mạch  máu  dẫn  đến  tăng  tính  thấm  thành  mạch,  tăng  endothelin 1 gây co thắt và tiểu đạm vi thể. Mối  liên  quan  qua  lại  giữa  kháng  insulin  và  tổn  thương thận do ĐTĐ typ 2 xuất hiện và đã được  khẳng định, tồn tại trong tất cả các giai đoạn tiến  triển  của  biến  chứng  thận.  Các  biện  pháp  can  thiệp  nhằm  giảm  mức  độ  kháng  insulin  đồng  thời  cũng  là  biện  pháp  dự  phòng  hoặc  điều  trị  bệnh thận mạn ở BN ĐTĐ typ 2. Kháng insulin 

ở BN ĐTĐ typ 2 có tổn thương thận còn được bổ  sung bằng sự tích lũy các sản phẩm chuyển hóa 

từ  đạm,  giảm  tiết  adiponectin,  viêm  mạn  tính, 

HOMA2-IR

HOMA2%B

Trang 5

cũng  được  xác  định  có  vai  trò  trong  kháng 

insulin. Nhiều tác giả đã nhận thấy: khi nồng độ 

ure  máu  tăng  mạn  tính  thì  các  chất  có  gốc  ure 

cyanat  tương  tác  với  các  acid  amin  tạo  ra 

carbamoyl.  Về  phần  mình  carbamoyl  có  ảnh 

hưởng  đến  khả  năng  gắn  kết,  lưu  hành  và 

chuyển hóa glucose. 

Nồng  độ  insulin,  C‐peptid,  kháng  insulin, 

chức  năng  tế  bào  beta  liên  quan  đến  thể  tổn 

thương  thận  ở  bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  có  tổn 

thương  thận.  Kết  quả  cho  thấy  nồng  độ 

insulin, C‐peptid và kháng insulin tăng dần từ 

nhóm  bệnh  nhân  tổn  thương  thận  mức  độ 

MAU  đến  suy  thận  mạn  tính  (STMT).  Ngược 

lại,  chức  năng  tế  bào  beta  lại  giảm  dần  từ 

nhóm  bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  có  tổn  thương 

thận  nhẹ  (MAU)  đến  tổn  thương  thận  nặng 

(STMT).  Kết  quả  này  của  chúng  tôi  cũng  phù 

hợp với các tác giả nước ngoài. Kháng insulin 

là cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh ĐTĐ typ 

2  đồng  thời  cũng  là  yếu  tố  đóng  vai  trò  quan 

trọng  trong  sự  xuất  hiện  biến  chứng  cơ  quan 

đích  trong  đó  có  BTM.  Hơn  thế  nữa,  kháng 

insulin  còn  là  chỉ  số  có  ảnh  hưởng  đến  tiến 

triển, hiệu quả điều trị của bệnh nói chung và 

biến chứng nói riêng. Kết quả nghiên cứu cho 

thấy:  kháng  insulin  xuất  hiện  từ  10‐12  năm 

trước  khi  bệnh  ĐTĐ  typ  2  biểu  hiện  trên  lâm 

sàng. Trong thời gian trên tuy nồng độ glucose 

máu  vẫn  bình  thường  hoặc  thuộc  giai  đoạn 

tiền lâm sàng của bệnh song đã xuất hiện  tổn 

thương  thận  chủ  yếu  biểu  hiện  bằng  MAU. 

Những trường hợp tiền ĐTĐ có MAU (+) nếu 

sau  đó  chuyển  sang  giai  đoạn  lâm  sàng  của 

bệnh thì MAU vẫn tồn tại và sau đó tiến triển 

sang  giai  đoạn  tiếp  theo.  Ngược  lại,  nếu  tình 

trạng trên không phát triển thành bệnh thật sự 

thì  MAU  cũng  có  thể  vẫn  tồn  tại  hoặc  trở  về 

bình  thường.  Kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng 

tôi  còn  cho  thấy  kháng  insulin  tương  quan 

nghịch  có  ý  nghĩa  với  MLCT  và  độ  nhạy 

insulin,  chức  năng  tế  bào  beta  tương  quan 

thuận có ý nghĩa với MLCT. Mức lọc cầu thận 

đánh  giá  chức  năng  thận  ở  những  bệnh  nhân 

bệnh thận mạn tính nguyên phát và thứ phát. 

Những  bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  có  tổn  thương  thận  thường  mức  lọc  cầu  thận  tăng  trước  khi 

có tổn thương thực thể mà lâm sàng biểu hiện  bằng  MAU  hoặc  MAC.  Qua  giai  đoạn  này,  MLCT  giảm  dần  theo  mức  độ  tổn  thương.  Bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  có  suy  thận  mạn  tính  MLCT  giảm  dần.  Việc  giảm  lọc  các  chất  độc,  rối  loạn  nhiều  cơ  quan  ở  bệnh  nhân  tổn  thương  thận  làm  cho  tăng  mức  độ  kháng  insulin  và  giảm  độ  nhạy  insulin,  giảm  chức  năng  tế  bào  beta(5,8).  Chính  cơ  chế  này  khiến  các  nhà  lâm  sàng  cần  coi  việc  dùng  insulin  thay thế ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có tổn thương  thận là cần thiết. 

KẾT LUẬN 

Nghiên cứu kháng insulin ở 124 bệnh nhân  đái tháo đường typ 2 có tổn thương thận so với 

113  bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  không  tổn  thương  thận  và  51  người  khỏe  mạnh,  chúng  tôi  rút  ra  một số nhận xét sau: 

Tăng  nồng  độ  insulin,  C‐peptid,  kháng  insulin là thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có  tổn  thương  thận.  Kháng  insulin  ở  nhóm  bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  có  tổn  thương  thận  là  3,76  ±  2,08,  tăng  cao  hơn  so  với  nhóm  ĐTĐ  typ  2  không có tổn thương thận (2,83 ± 1,81), tăng so  nhóm chứng khỏe mạnh (1,43 ± 0,49) có ý nghĩa  p<  0,01.  Không  thấy  sự  khác  biệt  giữa  độ  nhạy  insulin  và  chức  năng  tế  bào  beta  giữa  nhóm  bệnh  nhân  ĐTĐ  typ  2  có  và  không  có  tổn  thương thận, p> 0,05.  

Kháng insulin tăng dần, độ nhạy insulin và  chức  năng  tế  bào  beta  giảm  dần  theo  thể  lâm  sàng từ MAU đến MAC và suy thận mạn tính.  Kháng  insulin  tương  quan  nghịch,  độ  nhạy  insulin  và  chức  năng  tế  bào  beta  tương  quan  thuận, mức độ vừa có ý nghĩa với MLCT ở bệnh  nhân ĐTĐ typ 2 có tổn thương thận, r lần lượt –  0,39; 0,41; 0,43, p< 0,05. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Atkins  RC,  Briganti  EM,  Lewis  JB  et  al.  (2005),  ʺProteinuria  reduction  and  progression  to  renal  failure  in  patients  with 

type 2 diabetes mellitus and overt nephropathyʺ. Am J Kidney 

Dis, 45(2), pp. 281‐287. 

Trang 6

2 Bash  L,  Selvin  E,  Steffes  M  et  al  (2008),  ʺPoor  G;ycemic 

Control in Diabetes and the Risk of Incident Chronic Kidney 

Disease Even in the Absence of Albuminuria and Retinopathy 

Atherosclerosis  Risk  in  Communities  (ARIC)  Studyʺ.  Arch 

Intern Med 168(22), pp. 2440‐2447. 

3 Christensen  PK,  Larsen  S,  Horn  T  et  al  (2000),  ʺCauses  of 

albuminuria in patients with type 2 diabetes without diabetic 

retinopathyʺ. Kidney Int, 58(4), pp. 1719‐1731. 

4 Hawkins  M  and  Rosseti  L  (2005)  “Insulin  Resistance  and  Its 

Role in the Pathogenesis of Type 2  Diabetes,  Fourteenth  Edition”, 

Joslin Diabetes Center, pp. 426‐442. 

5 Kramer  HJ,  Nguyen  QD,  Curhan  G,  Hsu  CY  (2003),  ʺRenal 

Insuffciency in the Absence of Albuminuria and Retinopathy 

Among  Adults  With  type  2  Diabetes  Mellitusʺ,  JAMA, 

289(24), pp. 3273‐3277. 

6 Nguyễn  Đức  Ngọ  (2007)  “Nghiên  cứu  tình  trạng  kháng 

insulin và mối tương quan với C peptide huyết thanh ở bệnh 

nhân  ĐTĐ  typ  2”.  Hội  nghị  khoa  học  toàn  quốc  chuyên  ngành nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3”. Nhà xuất bản y học. 

Tr 796‐803. 

7 Nguyễn Hải Thủy, Nguyễn Đức Quang (2004). “Nghiên cứu 

chức năng tế bào beta tụy và kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ 

phát hiện sau 40 tuổi”. Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học‐ Hội 

nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa lần 2.  Nhà xuất bản y học. Tr 323 ‐332. 

8 Rossing K, Christensen PK, Hovind P et al (2004), ʺProression 

of  nephropathy  in  type  2  diabetic  patientsʺ,  Kidney 

International 66, pp. 1596‐1605. 

 

Ngày nhận bài báo      01‐7‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:  01‐8‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 21:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w