Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của chương trình giáo dục sức khỏe răng miệng thích hợp cho học sinh khuyết tật trí tuệ từ 6-18 tuổi tại trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu là những mẫu nghiên cứu gồm 60 học sinh khuyết tật trí tuệ có IQ từ 20.
Trang 1HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI TRƯỜNG NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Tố Trâm*, Ngô Đồng Khanh**
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả của chương trình giáo dục sức khỏe răng miệng thích hợp cho học
sinh khuyết tật trí tuệ (KTTT) từ 6 - 18 tuổi tại trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Củ Chi, TP HCM
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 60 học sinh KTTT có IQ từ 20 đến 70, được
chia làm 2 nhóm, nhóm 1 gồm 21 học sinh KTTT, nhóm 2 gồm 39 học sinh KTTT vừa và nặng Những học sinh này được áp dụng một phương pháp giáo dục sức khoẻ răng miệng (SKRM) thích hợp hàng tuần và được đánh giá lại kết quả sau 6 tháng can thiệp Tình trạng mảng bám được đánh giá bằng chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI-S)
Kết quả: Tình trạng vệ sinh răng miệng tốt tăng từ 3,3% trước giáo dục lên 46,7% sau 6 tháng can thiệp
Qua 6 tháng giáo dục SKRM, điểm chỉ số mảng bám của nhóm 1 giảm từ 2,24 ± 0,54 còn 0,74 ± 0,45 Điểm chỉ
số mảng bám của nhóm 2 giảm từ 2,43 ± 0,46 còn 1,15 ± 0,62 (p<0,001) Tỉ lệ % học sinh nhóm 1 có kiến thức đúng về thức ăn tốt cho răng và nướu là 100%, nhóm 2 là 51,3% Tỉ lệ học sinh thực hành chải răng đạt của nhóm 1 là 100%, nhóm 2 là 33,3%
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy phương pháp giáo dục SKRM cho học sinh KTTT có hiệu quả đối với học
sinh nhóm 1, nhóm học sinh có mức độ KTTT nhẹ Cho thấy cần tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục SKRM đối với các trường có học sinh KTTT
Từ khóa: Giáo dục sức khỏe răng miệng, khuyết tật trí tuệ, người chăm sóc/ nuôi dạy, tình trạng SKRM
ABSTRACT
RESULTS OF ORAL HEALTH EDUCATION PROGRAM FOR MENTAL RETARDED CHILDREN
ATTENDING A SPECIAL SCHOOL IN CU CHI DISTRICT, HO CHI MINH CITY
Huynh To Tram, Ngo Dong Khanh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 223 - 228
Objectives: To test an appropriate oral health education program for mental retarded children by evaluating
their plaque removal efficacy when trained weekly for six months and the effectiveness of this program, 6 months after training
Method: The sample consisted of 60children with intellectual impairment, IQ 20 to 70 and age 6 to
18-years-old, who attended a special school in Cu chi, Ho Chi Minh City and whom it was thought could be trained in oral appropriate oral health education program For 6 months, children watched a weekly oral health presentation, practised brushing on model teeth, had their plaque disclosed and recorded by the simplified oral hygiene index (OHI-S) and then brushed their own teeth under supervision Plaque was re-evaluated 6 months after training
Results: Good oral hygiene status increased from 3.3% to 46.7% The OHI-S before and after training was
2.24 and 0.74 respectively for group 1; was 2.43 and 1.15 for group 2, respectively This improvement was
* Học viên Cao học- Khóa 2012 - 2014 Khoa Răng Hàm Mặt- Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
** Khoa Răng Hàm Mặt- Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: ThS Huỳnh Tố Trâm ĐT: 0985921909 Email: totram_6686@yahoo.com
Trang 2statistically significant (p<0.001) The prevalence of good knowledge was 100% for group 1 and 51.3% for group
2 100% children of group 1 cleaned their teeth well while 33.3% of the subjects were found in group 2
Conclusion: This weekly, school-based oral health programme has been effective in improving the oral
hygiene of children with mild intellectual impairment However, to be effective long-term it has to be delivered continuously
Key words: Oral health education, mental retardation/ intellectual disability, caregiver, oral health status
MỞ ĐẦU
Theo Hiệp hội Khuyết tật trí tuệ Mỹ (AAMR,
1992), trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT) có những hạn
chế lớn về khả năng thực hiện chức năng với các
đặc điểm như hoạt động trí tuệ dưới mức trung
bình, khả năng tư duy chậm Khả năng học tập
của trẻ chậm hơn so với các bạn cùng lứa tuổi
Hạn chế các kỹ năng như giao tiếp, tự định
hướng, tự chăm sóc sức khoẻ, Hiện tượng
KTTT này bắt đầu xuất hiện từ khi trẻ còn nhỏ,
trước 18 tuổi(1, 3, 5, 6)
Chăm sóc răng miệng cho trẻ em KTTT
thường gặp nhiều khó khăn do sự hợp tác của
các em hoặc do người nuôi dạy không đủ kiến
thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe răng miệng
(SKRM) Đây là rào cản đối với việc chăm sóc
răng miệng tốt nhất cho đối tượng trên, làm trầm
trọng hơn các bệnh về răng miệng mà cụ thể là
sâu răng và viêm nướu(2,7)
Những năm gần đây tại Việt Nam các
nghiên cứu về vấn đề răng miệng ở nhóm trẻ
KTTT còn quá ít, những thông tin về tình trạng
bệnh răng miệng của trẻ KTTT cũng như sự hiểu
biết, kỹ năng thực hành chăm sóc sức khỏe răng
miệng của người nuôi dạy trẻ là cần thiết và rất
có ý nghĩa nhân đạo
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết
quả của chương trình giáo dục sức khỏe răng
miệng thích hợp cho học sinh khuyết tật trí tuệ
từ 6 - 18 tuổi thông qua việc đánh giá tỉ lệ sâu
răng, trung bình răng sâu mất trám của học sinh
Đánh giá tình trạng vệ sinh răng miệng (OHI-S)
của học sinh trước và sau 6 tháng can thiệp
Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thói quen
chăm sóc SKRM của học sinh sau 6 tháng thực
hiện phương pháp giáo dục SKRM thích hợp
Đánh giá sự thay đổi kiến thức, cách chăm sóc
SKRM của giáo viên và phụ huynh đối với học sinh KTTT trước và sau tập huấn chương trình chăm sóc SKRM (7, 10)
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu
Gồm 60 học sinh KTTT từ 6 – 18 tuổi đang học tại trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Củ Chi,
TP HCM Mẫu nghiên cứu được chia làm 2 nhóm, nhóm 1 gồm 21 học sinh KTTT nhẹ, nhóm
2 gồm 39 học sinh KTTT vừa và nặng Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 10/ 2013 đến tháng 4/ 2014
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp cộng đồng Quy trình
nghiên cứu bao gồm trước nghiên cứu chính
thức và thực hiện nghiên cứu chính thức
Trước nghiên cứu chính thức
Giai đoạn 1: Khảo sát tình hình thực tế của
trường để biết được số lượng học sinh và giáo viên, giờ giấc học tập và chương trình dạy học
tại trường
Giai đoạn 2: Soạn thảo tài liệu tập huấn và
bảng câu hỏi đánh giá kiến thức, cách chăm sóc SKRM cho giáo viên, phụ huynh Soạn thảo giáo án; chọn lọc, chuẩn hóa bộ giáo cụ; soạn thảo bảng câu hỏi đánh giá kiến thức, thói quen chăm sóc SKRM của học sinh
Giai đoạn 3: Tập huấn định chuẩn cho
điều tra viên, phỏng vấn viên Tập huấn triển khai giáo án, giáo cụ cho tất cả giáo viên Tập huấn kiến thức chăm sóc SKRM cho phụ
huynh học sinh
Giai đoạn 4: Thử nghiệm và điều chỉnh bộ
giáo án giáo dục SKRM cho học sinh KTTT
Trang 3Thực hiện nghiên cứu chính thức
Nhân lực: Đội điều tra viên gồm có: 2 điều
tra viên khám lâm sàng răng miệng học sinh, 2
thư ký ghi chép, 1 trợ thủ chuẩn bị khâu
phỏng vấn, khám và tiệt khuẩn dụng cụ
Phỏng vấn viên: áp dụng theo hình thức
phỏng vấn “cặp đôi” Điều tra viên là người
trình bày nội dung câu hỏi Giáo viên là người
truyền đạt lại cho học sinh
Phương tiện nghiên cứu: Phiếu thu thập dữ
liệu khám lâm sàng theo mẫu của WHO 1997;
bảng câu hỏi đánh giá kiến thức, cách chăm sóc
răng miệng dành cho giáo viên và phụ huynh;
bảng câu hỏi phỏng vấn học sinh; bộ dụng cụ
khám; thuốc nhuộm mảng bám Tri Plaque ID;
các phương tiện khử khuẩn và tiệt khuẩn
Tiến hành khám răng miệng học sinh và thực
hiện phỏng vấn học sinh lần thứ nhất (dữ liệu
nền) Tình trạng răng miệng của học sinh được
ghi nhận theo tiêu chí của WHO năm 1997 Sau
đó giáo viên triển khai chương trình giáo dục
SKRM cho học sinh KTTT 2 buổi/ tuần liên tục
trong vòng 6 tháng Mỗi buổi giáo dục kéo dài 30
phút Sau 3 tháng thực hiện phỏng vấn lại học
sinh lần 2 để đánh giá kiến thức, thói quen chăm
sóc răng miệng
Tiến hành khám tình trạng vệ sinh răng
miệng và thực hiện phỏng vấn học sinh lần thứ
hai (sau 6 tháng) Đánh giá lại kiến thức, thói
quen chăm sóc răng miệng của học sinh bằng
bảng câu hỏi phỏng vấn và ghi nhận lại tình
trạng vệ sinh răng miệng sau 6 tháng thực hiện
chương trình giáo dục SKRM
KẾT QUẢ
Tình trạng răng miệng: Tỉ lệ sâu răng rất
cao: 91,7%, trong đó 76,7% sâu răng vĩnh viễn
Trung bình sâu mất trám răng sữa là 3,1; trung
bình sâu mất trám răng vĩnh viễn là 3,2
Thay đổi tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh trước và sau 6 tháng GDSKRM
Biểu đồ 1 cho thấy sau 6 tháng giáo dục SKRM tình trạng vệ sinh răng miệng tốt tăng từ 3,3% trước giáo dục lên 46,7% sau 6 tháng can thiệp Số học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng kém tuy có giảm nhưng vẫn còn cao (15%) Qua 6 tháng, chỉ số mảng bám của 2 nhóm học sinh KTTT giảm (p<0,001) (bảng 1)
Biểu đồ 1: Tình trạng vệ sinh răng miệng của học
sinh trước và sau giáo dục SKRM
Bảng 1: Chỉ số mảng bám của học sinh trước và sau
giáo dục SKRM
DI
Trước giáo dục SKRM
Sau giáo dục
Nhóm 2 2,43 ± 0,46 1,15 ± 0,62 <0,001
p*: kiểm định Mann – Whitney, p**: kiểm định dấu và hạng
Wilcoxon
Thay đổi kiến thức và thói quen chăm sóc SKRM của học sinh trước và sau giáo dục SKRM
Sau 6 tháng giáo dục SKRM, tỉ lệ % học sinh
có kiến thức đúng về thức ăn tốt cho răng và nướu tăng đáng kể (p<0,05) (bảng 2) Học sinh nhóm 1 có kiến thức đúng cao hơn học sinh nhóm 2.100% học sinh nhóm 1 thực hành chải răng đạt, nhóm 2 chỉ 33,3% (p<0,05) (bảng 3)
Trang 4Bảng 2: So sánh sự thay đổi kiến thức của học sinh về SKRM trước và sau giáo dục
học sinh
Trước giáo dục Sau giáo dục 3 tháng Sau giáo dục 6 tháng
p **
Thức ăn tốt cho răng và nướu
Thức ăn không tốt cho răng và
nướu
Biết sử dụng bàn chải và kem
đánh răng để làm sạch răng
p*: kiểm định c 2 , p**: kiểm định Mc Nemar, (a): kiểm định chính xác Fisher
Bảng 3: Tỉ lệ học sinh thực hành đạt việc chải răng
trên mẫu hàm
Học sinh
Tỉ lệ học sinh thực hành được việc chải răng
trên mẫu hàm Sau giáo dục 3
tháng
Sau giáo dục 6
p*: kiểm định c 2 , p**: kiểm định Mc Nemar, (a) : kiểm định
chính xác Fisher
Thay đổi thói quen chải răng
Thói quen chải răng đúng của học sinh nhóm
1 và nhóm 2 gia tăng sau 6 tháng giáo dục SKRM
(p<0,001) Số lượng học sinh nhóm 1 có thói quen
chải răng đúng cao hơn học sinh ở nhóm 2
(p<0,001) (bảng 4)
Bảng 4: So sánh sự thay đổi thói quen chải răng của
học sinh trước và sau giáo dục SKRM
Thói
quen
chải
răng
Nhóm
học
sinh
Trước giáo dục
Sau giáo dục 3 tháng
Sau giáo dục 6
Chải
răng buổi
sáng
Nhóm 1 6 (28,6) 9 (42,9) 18 (85,7) <0,001
Nhóm 2 0 (0) 10 (25,6) 16 (41) <0,001
p* 0,001(a) 0,172 0,001
Chải
răng buổi
tối
Nhóm 1 1(4,8) 12 (57,1) 17 (81) <0,001
Nhóm 2 0 (0) 8 (20,5) 14 (35,9) <0,001
p* 0,35(a) 0,004 0,001
p*: kiểm định c 2 , p**: kiểm định Mc Nemar, (a): kiểm định chính xác Fisher
Có sự thay đổi kiến thức và cách chăm sóc răng miệng của phụ huynh trước và sau tập huấn giáo dục SKRM Sau tập huấn, kiến thức
của phụ huynh về mối liên quan giữa tình trạng SKRM và trẻ KTTT được cải thiện một cách đáng
kể (p<0,05) 100% phụ huynh biết chăm sóc răng
miệng đúng cách cho học sinh hơn so với ban
đầu (p<0,001)
Có sự thay đổi kiến thức và cách chăm sóc răng miệng của giáo viên; giáo viên có thể thực hiện tốt công tác giáo dục và chăm sóc SKRM cho học sinh tại trường Sau tập huấn có 100%
giáo viên có điểm kiến thức, cách chăm sóc răng
miệng đạt yêu cầu (p<0,05)
BÀN LUẬN
Tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh
có sự thay đổi sau 6 tháng giáo dục SKRM Học sinh nhóm KTTT nhẹ có cải thiện tình trạng vệ sinh răng miệng nhiều hơn so với nhóm vừa và nặng Tình trạng vệ sinh răng miệng tốt tăng và chủ yếu sự thay đổi này xuất phát từ học sinh nhóm KTTT nhẹ Kết quả này cho thấy phương pháp giáo dục SKRM cho học sinh KTTT có hiệu quả đối với nhóm học sinh KTTT nhẹ
Dựa vào chỉ số mảng bám cho thấy tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh KTTT sau giáo dục SKRM tuy có cải thiện và thấy được phần nào hiệu quả nhưng vẫn nằm trong giới hạn tình trạng vệ sinh răng miệng trung bình
Trang 5theo phân loại của Green - Vermillion Do đó,
đối tượng KTTT này cần phải có thời gian thực
hiện giáo dục SKRM một cách lâu dài (4, 8, 9)
Thay đổi kiến thức chăm sóc SKRM của
học sinh
Trong quá trình thực hiện giáo dục SKRM
cho các em KTTT dựa vào vai trò của thầy cô
tại trường và phụ huynh tại gia đình cho thấy
kiến thức chăm sóc SKRM của các em đã có
phần nào cải thiện Đặc biệt, học sinh nhóm
KTTT nhẹ đáp ứng tốt hơn với phương pháp
giáo dục SKRM này qua 6 tháng can thiệp Vì
vậy, các em sẽ làm gương mẫu giúp học sinh
nhóm vừa và nặng tiếp tục cải thiện kiến thức
chăm sóc răng miệng Học sinh nhóm nhẹ sau
khi được giáo viên hướng dẫn, các em có thể
bắt chước theo từng bước và lặp lại dần dần
đúng phương pháp chải răng Học sinh nhóm
vừa và nặng chưa tự chải răng được trên mô
hình trong vòng thời gian 6 tháng Kết quả
này cho thấy cần có một chương trình dạy chải
răng đơn giản, phù hợp, thời gian lâu hơn
dành cho các em KTTT mức độ vừa và nặng
Thay đổi thói quen chải răng của học sinh
Phần lớn những thay đổi trong thói quen
chải răng xuất phát từ thay đổi nhận thức của
các học sinh KTTT nhẹ qua các buổi giáo dục
SKRM tại trường, cộng với sự tác động của
thầy cô giáo và cha mẹ Đối với nhóm học sinh
KTTT mức độ nhẹ, việc áp dụng một phương
pháp giáo dục SKRM thích hợp với đặc điểm
trí tuệ của học sinh sẽ giúp cải thiện được tình
trạng răng miệng của các em Ngược lại, học
sinh ở nhóm vừa và nặng, các em có khả năng
tư duy thấp, chủ yếu là bắt chước làm theo
thầy cô, các bạn và cha mẹ (8, 9) Do đó, những
thay đổi về thói quen trên phần lớn xuất phát
từ tác động của giáo viên và phụ huynh học
sinh Phụ huynh và giáo viên là người có vai
trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức
khỏe cho các em KTTT mức độ vừa và nặng
Điều cần thiết trong phương pháp giáo dục
SKRM cho đối tượng học sinh nhóm này là
tăng cường kiến thức và kỹ năng chăm sóc SKRM cho giáo viên và phụ huynh học sinh
KẾT LUẬN
Sau 6 tháng triển khai chương trình giáo dục SKRM thích hợp cho học sinh Trường nuôi dạy trẻ em khuyết tật huyện Củ Chi TP
Hồ Chí Minh, nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sâu răng của học sinh rất cao Đối với nhóm học sinh KTTT ở mức nhẹ có thể nắm bắt được một số kiến thức chăm sóc răng miệng cơ bản
và có thể tự thực hiện dưới sự quan sát và động viên của cha mẹ, thầy cô Điều này cho thấy phương pháp giáo dục SKRM cho học sinh KTTT có hiệu quả đặc biệt là học sinh có mức độ KTTT nhẹ Nghiên cứu cho thấy cần tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục SKRM cho các học sinh KTTT Cần nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc SKRM của giáo viên và phụ huynh Nhấn mạnh vai trò của giáo viên tại trường học và vai trò của phụ huynh tại gia đình trong việc chăm sóc SKRM cho học sinh KTTT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 DeBiase C B (2009), "The Disabled", Dental Health Education
Theory and Practice, Williams & Wilkins, Vest Virginia, 2nd edition, pp.163-191
2 Fickert N A., Ross D (2012), "Effectiveness of a caregiver education program on providing oral care to individuals
with intellectual and developmental disabilities", Intellect
Dev Disabil, 50 (3), pp.219-232
3 Huỳnh Thị Thu Hằng (2008), Đại cương về giáo dục trẻ chậm
phát triển trí tuệ, Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng, Khoa
Tâm Lý- Giáo Dục, Đà Nẵng, tr.3-18
4 Kavvadia K., Taoufik K (2009), "Oral hygiene education programme for intellectually impaired students attending a
special school", Journal of Disability and Oral Health, pp.1-7
5 King B H., Toth T E., Hodapp R M., Dykens E M (2010),
"Intellectual Disability", Textbook of Psychiatry, Lippincont Williams and Wilkin, Philadelphia, pp.3444- 3474
6 Nguyễn Thị Xuyên, Trần Trọng Hải, Trần Quý Tường
(2008), "Phục hồi chức năng trẻ chậm phát triển trí tuệ", Phục
hồi chức năng dựa vào cộng đồng- tài liệu số 14, tr.11-18
7 Norwood K W., Slayton R L (2013), "Oral health care for
children with developmental disabilities", Pediatrics, 131 (3),
pp.614-619
8 Shyama M., Al-Mutawa S A., Honkala S., Honkala E (2003), "Supervised toothbrushing and oral health education program in Kuwait for children and young adults with
Down syndrome", Spec Care Dentist, 23 (3), pp.94-99
Trang 69 Stefanovka E., Nakova M., Radoijkova V., Ristoska S (2010),
"Tooth- brushing intervention programme among children
with mental handicap", Bratisl Lek Listy, 111 (5), pp.299-302
10 WHO (1997), Oral Health Survey - Basic methods, Geneva,4th
Ngày nhận bài báo: 02/02/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/03/2015 Người phản biện: TS Trần Thu Thủy Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015