1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của siêu âm xuyên sọ trong chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ ở bệnh nhân nhồi máu não cấp trên lều

6 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 352,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Siêu âm xuyên sọ là kỹ thuật đơn giản, rẻ tiền, không xâm lấn, có thể lặp lại nhiều lần và có thể làm tại giường. Nghiên cứu vai trò của siêu âm xuyên sọ trong chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ giúp ứng dụng kỹ thuật này rộng rãi trong chẩn đoán, theo dõi bệnh lý mạch máu não.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM XUYÊN SỌ TRONG CHẨN ĐOÁN HẸP ĐỘNG MẠCH

NỘI SỌ Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP TRÊN LỀU

Nguyễn Thị Bích Hường*, Lê Văn Tuấn **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hẹp động mạch nội sọ là bệnh lý chiếm tỷ lệ cao trên thế giới và là một gánh nặng về tàn phế

sau đột quỵ Hiện nay có nhiều kỹ thuật để chẩn đoán Siêu âm xuyên sọ là kỹ thuật đơn giản, rẻ tiền, không xâm lấn, có thể lặp lại nhiều lần và có thể làm tại giường Nghiên cứu vai trò của siêu âm xuyên sọ trong chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ giúp ứng dụng kỹ thuật này rộng rãi trong chẩn đoán, theo dõi bệnh lý mạch máu não

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Để khảo sát vai trò của siêu âm xuyên sọ chúng tôi tiến hành

đánh giá độ chính xác của siêu âm xuyên sọ so với cộng hưởng từ mạch máu não trong chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ ở tuần hoàn trước, đồng thời cũng xác định tỷ lệ hẹp động mạch nội sọ trong mẫu nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành trên 120 bệnh nhân nhồi máu não cấp trên lều; siêu âm xuyên sọ (TCD) và cộng hưởng từ mạch máu não (MRA) được thực hiện sau 48 giờ từ lúc khởi bệnh và thời gian thực hiện giữa 2 kỹ thuật này không quá

24 giờ Chúng tôi đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương của TCD so với MRA và chỉ số Kappa

Kết quả: Tỷ lệ hẹp động mạch nội sọ là 48,3% Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên

đoán âm, chỉ số Kappa của siêu âm xuyên sọ so với cộng hưởng từ mạch máu lần lượt trên động mạch não giữa đoạn M1 là 82,86%, 97,97%, 82,86%, 97,07%, 0,799; đoạn M2 là 80%, 98,29%, 50%, 99,57%, 0,605; động mạch não trước là 40%, 99,57%, 66,67%, 98,73%, 0,49; và động mạch cảnh trong đoạn trong sọ là 68,42%, 99,55%, 92,86%, 97,35%, 0,773

Kết luận: Siêu âm xuyên sọ là kỹ thuật đơn giản, giá thành rẻ, độ chính xác chấp nhận được Nên thực hiện

siêu âm xuyên sọ ở tất cả các bệnh nhân nhồi máu não đặc biệt là nhồi máu não cấp trên lều để tầm soát nguyên nhân hẹp động mạch nội sọ

Từ khóa: Siêu âm xuyên sọ, hẹp động mạch nội sọ, nhồi máu não cấp trên lều

ABSTRACT

ROLE OF TRANSCRANIAL ULTRASOUND IN THE DIAGNOSIS OF INTRACRANIAL ARTERY STENOSIS IN PATIENTS WITH ACUTE SUPRATENTORIAL ISCHEMIC STROKE

Nguyen Thi Bich Huong, Le Van Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 251 - 257

Background: Intracranial arterial stenosis is one of the most common causes of stroke worldwide and is a

burden on disability after stroke Nowadays, there are many techniques for diagnosis Transcranial ultrasound is a simple, inexpensive, non-invasive technique, can be repeated many times and can do in bed Research the role of transcranial ultrasound in the diagnosis of intracranial arterial stenosis help technique applied widely in the diagnosis and monitoring of cerebrovascular disease

Methodology: To explore the role of transcranial ultrasound we evaluated the accuracy of TCD compared

with MRA in the diagnosis of intracranial artery stenosis in the anterior circulation, and also determine rate of intracranial artery stenosis in the study sample The study was conducted on 120 patients with acute

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thị Bích Hường ĐT: 0989689525 Email: bichhuong.medic@gmail.com

Trang 2

supratentorial ischemic stroke; TCD and MRA were performed after 48 hours from the time of onset and duration between the 2 techniques are not more than 24 hours We assessed the sensitivity, specificity, negative predictive value, positive predictive value of TCD compared with MRA, and Kappa index

Results: The rate of intracranial artery stenosis was 48.3% Sensitivity, specificity, positive predictive value,

negative predictive value, Kappa index of transcranial ultrasound versus magnetic resonance imaging turn on middle cerebral artery M1 segment was 82.86%, 97.97%, 82.86%, 97.07%, 0.799; M2 segment was 80%, 98.29%, 50%, 99.57%, 0.605; anterior cerebral arteries was 40%, 99,57%, 66.67%, 98.73%, 0.49; and internal carotid artery segment in the skull is 68.42%, 99.55%, 92.86%, 97.35%, 0.773

Conclusion: Transcranial ultrasound is a simple, inexpensive, acceptable accuracy technique Should

transcranial ultrasound performed in all patients with cerebral infarction especially acute supratentorial cerebral infarction on screening the cause intracranial arterial stenosis

Key words: transcranial ultrasound, intracranial artery stenosis, acute supratentorial ischemic stroke

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ não đang là vấn đề thời sự ở cả các

nước phát triển và đang phát triển bởi hậu quả

tàn phế nặng nề và tử vong Hẹp động mạch nội

sọ do xơ vữa là bệnh chiếm tỷ lệ cao đáng kể trên

thế giới, đồng thời là một trong những gánh

nặng về tàn phế sau đột quỵ Tỷ lệ nhồi máu não

do xơ vữa động mạch lớn ở châu Âu chiếm

khoảng 15,3%(6) Tỷ lệ này ở châu Á cao hơn, ước

tính khoảng 33-50% ở Trung Quốc, 47% ở Thái

Lan, 48% ở Singapore, và 10-25% ở Hàn Quốc(7)

Hẹp động mạch nội sọ cũng là một trong những

cơ chế gây đột quỵ phổ biến nhất, tỷ lệ tái phát

cao khoảng 15-20% trong năm đầu sau đột quỵ

thiếu máu não Do đó việc chẩn đoán nguyên

nhân này rất cần thiết Hiện nay có nhiều

phương pháp để chẩn đoán, trong đó siêu âm

xuyên sọ (TCD) là một phương pháp rẻ tiền hơn,

an toàn, không xâm lấn, có thể thực hiện được

nhiều lần và có thể làm tại giường (đặc biệt đối

với bệnh nhân cấp cứu, bệnh nhân phẫu thuật,

bệnh nhân nặng không thể di chuyển được) Vai

trò của siêu âm xuyên sọ cũng được một số

nghiên cứu gần đây quan tâm Do đó, chúng tôi

thực hiện nghiên cứu này với với mong muốn

xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán

âm, giá trị tiên đoán dương của siêu âm xuyên sọ

so với cộng hưởng từ mạch máu (MRA) trong

chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ ở tuần hoàn

trước, và khảo sát tỷ lệ hẹp động mạch nội sọ

trong mẫu nghiên cứu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cắt ngang mô tả hàng loạt ca

Một trăm hai mươi bệnh nhân nhồi máu não cấp trên lều nhập bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2013 được đưa vào nghiên cứu Tất cả các bệnh nhân nhập vào khoa được hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và chụp CT scan não Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được làm TCD và MRA với khoảng cách thời gian giữa 2 kỹ thuật này không quá 24h và cả 2

kỹ thuật được thực hiện ở thời điểm sau 48 giờ

từ lúc khởi bệnh Các trường hợp CT scan não có hình ảnh xuất huyết, bệnh nhân được điều trị tiêu sợi huyết, không có cửa sổ thái dương 1 hoặc 2 bên trên siêu âm xuyên sọ đều bị loại ra khỏi nghiên cứu Tất cả bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ mạch máu não và siêu âm xuyên

sọ Siêu âm xuyên sọ được thực hiện bởi các bác

sĩ khoa Bệnh lý mạch máu não Các bác sĩ siêu

âm được làm mù về kết quả MRA mạch máu não MRA mạch máu não thực hiện bởi máy cộng hưởng từ Seimen 1.5 Tesla Nhiều chuỗi xung được thực hiện: T1 sagittal, Flair axial, T2

GRE axial, Diffusion, ADC (Axial apparent diffusion coefficient map), T2 coronal, MRA Các

bác sĩ đọc MRA cũng được làm mù về kết quả siêu âm xuyên sọ Thu thập các dữ liệu về lâm sàng (tuổi, giới, điểm NIHSS (thang điểm về đột quỵ của viện sức khỏe Hoa Kỳ) lúc nhập viện, các yếu tố nguy cơ mạch máu: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, tiền

Trang 3

sử cơn thoáng thiếu máu não hay đột quỵ trước

đó, bệnh lý tim mạch), các dữ liệu cận lâm sàng

(đường huyết, lipid máu siêu âm mạch máu

ngoài sọ) và các dữ liệu từ TCD (tốc độ dòng

chảy trung bình từng động mạch, hình dạng

sóng, vị trí tắc hẹp và mức độ hẹp), MRA (vị trí

tắc hẹp, mức độ hẹp)

Hẹp động mạch nội sọ trên MRA đánh giá

theo phương pháp đánh giá trong nghiên cứu

WASID «warfarin và aspirin trong hẹp động

mạch nội sọ có triệu chứng»: % hẹp = (1- d1/d2)x

100%(10) Trong đó, d1: đường kính đoạn hẹp

nhất, d2: đường kính động mạch bình thường

d2 có 3 lựa chọn: (1) đường kính đoạn gần động

mạch, (2) nếu đoạn gần động mạch bị bệnh thì vị

trí được chọn là đoạn động mạch xa ở vị trí có

đường kính lớn nhất, (3) đường kính của động

mạch nuôi, nếu toàn bộ động mạch đều bị bệnh

Đối với động mạch não giữa, nếu mất hoàn toàn

tín hiệu dòng chảy ở M1, M2 và không thấy

được các nhánh xa thì được xem như tắc hoàn

toàn Tín hiệu flow void khu trú thấy được được

xem như là hẹp nặng Độ hẹp động mạch nội sọ

trên MRA được đo bằng phần mềm PACS trên

máy tính, phân loại các mức độ hẹp: (0) Không

hẹp hoặc hẹp dưới 50%, (1) hẹp từ 50% đến 90%,

(2) hẹp nặng 90 – 99 %, (3) tắc hoàn toàn 100%

Mức độ hẹp mạch máu trên TCD được chẩn

đoán dựa vào tiêu chuẩn Alexandrov về vận tốc

và hình dạng sóng, và được phân loại như sau:

(0) không hẹp; (1) hẹp mức độ trung bình 50%

đến 70% khi vận tốc trung bình của động mạch

não giữa lớn hơn 100 cm/s, động mạch não trước

và động mạch cảnh đoạn trong sọ hơn 90 cm/s,

các động mạch còn lại vận tốc lớn hơn 80 cm/s

hoặc dạng sóng doppler TIBI 4; (2) hẹp nặng 70%

đến 99% khi vận tốc trung bình lớn hơn 119 cm/s

hoặc giảm hơn 30% so với đối bên hoặc dạng

sóng doppler là TIBI 1, 2, 3;(3) tắc hoàn toàn động

mạch khi không phát hiện được tín hiệu dòng

chảy trong khi đó vẫn ghi nhận được tín hiệu

của các động mạch khác cùng bên(1,2,11)

Hình 1 : Phân độ TIBI

Phương pháp thống kê

Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 Phân tích mối liên quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc bằng phép kiểm t

và phép kiểm chi bình phương Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương, tỷ số khả dĩ âm, tỷ số khả dĩ dương, chỉ

số Kappa được tính theo công thức sau, dựa vào bảng 2x2:

Độ nhạy = a/(a+c)

Độ đặc hiệu = d/ (b+d)

Giá trị tiên đoán dương = a/ (a+b) Giá trị tiên đoán âm = d/(c+d)

Tỷ số khả dĩ dương (LR+)= độ nhạy /(1 – độ đặc hiệu)

Tỷ số khả dĩ âm (LR-) = (1- độ nhạy)/ độ đặc hiệu

Chỉ số KAPPA được dùng để đánh giá sự phù hợp chẩn đoán của 2 kỹ thuật, và được tính theo công thức sau :

Với Pr(a) = ( số đối tượng quan sát được thống nhất giữa 2 kỹ thuật)

Chỉ số K dao động từ 0 đến 1 và giá trị chỉ số Kappa được chia làm 5 phân loại (Atman 1991):

< 0,20 : phù hợp rất yếu

Trang 4

0,21 – 0,40 :phù hợp yếu

0,41 – 0,60 : phù hợp vừa

0,61 – 0,80 : phù hợp cao

0,81 – 1,0 : phù hợp rất cao

KẾT QUẢ

Mẫu nghiên cứu gồm có 120 bệnh nhân, có

85% là nam, 15% là nữ, tuổi trung bình là 51,64

tuổi ( 18 – 82) được thực hiện TCD và MRA ở

thời điểm sau 48 giờ từ lúc khởi bệnh Thời gian

trung bình giữa 2 kỹ thuật là 6 giờ 30 phút ( 6

phút – 23 giờ 15 phút)

Bảng 1 : Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Tuổi Trung bình : 51,64 ± 12,745

Nữ :15%

Thời gian cách nhau giữa 2

kỹ thuật

Trung bình : 6 giờ 30 phút

Tỷ lệ hẹp động mạch nội sọ MRA : 48,3% TCD : 42,5%

Đái tháo đường 19,17%

Rối loạn lipid máu 80%

Tiền căn TIA hoặc NMN 21,67%

Kết quả TCD đã phát hiện được 51 trường

hợp có tắc hẹp động mạch nội sọ ở tuần hoàn

trước ( 42,5%): đoạn M1 MCA ( 14,59%), đoạn

M2 MCA (3,33%), đoạn ACA (1,25%), và ICA

(5,84%) Trong khi đó tỷ lệ hẹp động mạch nội sọ

phát hiện trên MRA là 48,3%

Khi so sánh với MRA, giá trị chẩn đoán của

TCD trên từng động mạch được trình bày trong

bảng 2

Bảng 2: Tóm tắt giá trị chẩn đoán của TCD so với

MRA

Độ nhạy 82,86% 80% 40% 68,42%

Độ đặc hiệu 97,07% 98,29% 99,57% 99,55%

Giá trị tiên

đoán dương

82,86% 50% 66,67% 92,86%

Giá trị tiên đoán âm 97,07% 99,57% 98,73% 97,35%

Chỉ số KAPPA 0,799 0,605 0,49 0,773

Khi khảo sát trên đoạn M1 động mạch não

giữa, TCD đã phát hiện được 9 trường hợp

hẹp trung bình, 22 trường hợp hẹp nặng và 4 trường hợp tắc hoàn toàn Trong 8 trường hợp tắc hoàn toàn trên MRA, siêu âm xuyên sọ ghi nhận 2 trường hợp tắc hoàn toàn, không có dòng chảy, MFV =0; và 6 trường hợp còn lại hẹp nặng, chiếm tỷ lệ 17,14% So sánh với MRA, TCD cho kết quả 29 trường hợp dương tính thật, 6 trường hợp dương tính giả và 6 trường hợp âm tính giả ( độ nhạy là 82,86%,

độ đặc hiệu 97,07%, giá trị tiên đoán dương 82,86%, giá trị tiên đoán âm 97,07% và chỉ số Kappa là 0,799) Độ chính xác chung của kỹ thuật là 95% Nếu ta loại những trường hợp có tắc hẹp động mạch cảnh ngoài sọ thì độ nhạy của TCD là 84,62%, độ đặc hiệu 97,71%

Trên đoạn M2 động mạch não giữa TCD ghi nhận 2 trường hợp hẹp trung bình, 4 trường hợp hẹp nặng và 2 trường hợp tắc hoàn toàn Có 4 trường hợp dương tính giả, TCD ghi nhận có hẹp nhưng kết quả MRA không có tắc hẹp Trong đó, cả 4 trường hợp động mạch não giữa đoạn M2 bên chẩn đoán hẹp có vận tốc trung bình thấp hơn 30% so với đối bên TCD cho kết quả 4 trường hợp dương tính thật, 4 trường hợp dương tính giả và 1 trường hợp âm tính giả ( độ nhạy là 80%, độ đặc hiệu 98,29%, giá trị tiên đoán dương 50%, giá trị tiên đoán âm 99,57%, chỉ số Kappa là 0,605, độ chính xác chung là 97,92%) Nếu ta loại những trường hợp có tắc hẹp mạch máu ngoài sọ thì độ nhạy của TCD là 80%, độ đặc hiệu 98,48%, giá trị tiên đoán dương 57,14%

Ở động mạch não trước, TCD phát hiện được 2 trường hợp hẹp động mạch nội sọ trong tổng số 5 trường hợp Độ nhạy của TCD là 40%,

độ đặc hiệu là 99,57%, giá trị tiên đoán dương 66,67%, giá trị tiên đoán âm 98,73%, chỉ số Kappa

là 0,49, độ chính xác chung là 98,33%

Đối với đoạn trong sọ của động mạch cảnh trong, TCD phát hiện được 13 trường hợp có hẹp hoặc tắc động mạch So sánh với cộng hưởng từ mạch máu, độ nhạy của siêu âm xuyên sọ là 68,42 %, độ đặc hiệu 99,55%, giá trị tiên đoán dương 92,86%, giá trị tiên đoán âm là 97,35% và

Trang 5

chỉ số Kappa là 0,773, độ chính xác chung là

97,08% Nếu như ta loại những trường hợp có

tắc hẹp mạch máu ngoài sọ đi kèm thì độ nhạy,

độ đặc hiệu khi đánh giá động mạch cảnh trong

đoạn trong sọ lần lượt là 75%, 99,94%

BÀN LUẬN

Tỷ lệ tắc hẹp động mạch nội sọ

Nghiên cứu cho thấy được hẹp động mạch

nội sọ là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao ở các

bệnh nhân nhồi máu não cấp (48,3%), tỷ lệ này

cũng tương đương với tần suất lưu hành của

bệnh ở khu vực Châu Á(33-50% ở Trung

Quốc, 47% ở Thái Lan và 48% ở Singapore)(7)

Kết quả này tương đương với trong nghiên

cứu CICAS thực hiện ở Trung Quốc (46,6%)(13)

Khi phân tích riêng từng vị trí động mạch cả

trên MRA và TCD đều cho thấy M1 động

mạch não giữa là nơi có tỷ lệ tắc hẹp cao nhất,

tiếp theo đó là động mạch cảnh trong đoạn

trong sọ Theo y văn, trong dân số chung vị trí

xơ vữa động mạch thường gặp nhất là ở động

mạch cảnh trong, sau đó mới đến động mạch

não giữa, động mạch não trước Tuy nhiên đối

với chủng tộc da đen, người Trung Quốc,

Nhật Bản thì bệnh của động mạch não giữa

thường gặp hơn động mạch cảnh trong(4) Vì

vậy đã có nhiều công trình tập trung nghiên

cứu bệnh của động mạch não giữa(3,5,8) Nghiên

cứu của chúng tôi thực hiện tại Việt Nam trên

chủng tộc châu Á, do đó kết quả của chúng tôi

tỷ lệ tắc hẹp động mạch não giữa cao nhất so

với các vị trí khác là phù hợp Động mạch não

trước trong nghiên cứu này có tỷ lệ tắc hẹp

thấp nhất 2,08% phát hiện trên cộng hưởng từ

và 1,25% khi chẩn đoán bằng siêu âm xuyên

sọ

Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán

dương, giá trị tiên đoán âm

TCD tương đối chính xác so với MRA trong

chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ ở tuần hoàn

trước, đặc biệt là đoạn gần động mạch não giữa

Chúng tôi nhận thấy siêu âm xuyên sọ có độ đặc

hiệu khá cao, độ nhạy tương đối chấp nhận được

với vai trò là một xét nghiệm sàng lọc ban đầu Gía trị chẩn đoán cao nhất là ở động mạch não giữa, nhất là đoạn M1 với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương khá cao 82,86%, 97,97%, 82,86%, 97,07%; giá trị của TCD thấp nhất trên động mạch não trước trong nghiên cứu này Đối với những trường hợp TCD cho kết quả dương tính giả, TCD không phát hiện được dòng chảy hoặc dòng chảy có vận tốc rất thấp nên người làm siêu âm kết luận là hẹp nặng hoặc có tắc mạch Ở những trường hợp này chúng tôi nhận thấy có thể do cửa sổ xương khảo sát không tốt (suboptimal window), do kỹ thuật của người làm siêu âm không lấy được góc doppler nhỏ nhất, nơi đó dòng chảy có vận tốc tối đa dẫn đến việc lầm tưởng không có cửa sổ xương và không phát hiện được dòng chảy do tắc động mạch; cửa sổ khảo sát không tốt làm cho việc xác định vận tốc dòng chảy không đạt được tối đa Có một số trường hợp âm tính giả, TCD bỏ sót chẩn đoán Lý do TCD không phát hiện được trong những trường hợp này có thể giải thích do tuần hoàn bàng hệ tốt ở những bệnh nhân này; đối với những trường hợp động mạch ngoằn ngoèo, dòng chảy cuộn xoáy, hẹp nhiều nơi trên cùng động mạch (tandem stenosis), độ phát hiện của TCD không cao Đặc biệt trong trường hợp có tắc hoặc hẹp động mạch cảnh trong đi kèm, khi mức độ hẹp > 70%

sẽ dẫn đến giảm vận tốc, lưu lượng mạch máu nội sọ, do đó TCD cho giá trị vận tốc động mạch nội sọ là bình thường thay vì tăng vận tốc như thông thường Khi loại bỏ những trường hợp có tắc hẹp mạch máu ngoài sọ đi kèm, giá trị chẩn đoán của TCD tăng lên ở động mạch cảnh trong (độ nhạy 75%) và động mạch não giữa (đoạn M1: độ nhạy 84, 62%, đoạn M2: giá trị tiên đoán dương 57,14%) Một số trường hợp sai lệch giữa

2 kỹ thuật được giải thích là có thể có liên quan đến sự tái thông tự phát của dòng máu não Tỷ lệ tái thông tự phát cao nhất xảy ra trong 7 ngày đầu, đặc biệt trong vòng 24-48 giờ(12) Theo một nghiên cứu tổng hợp của Joung-Ho Rha và Jeffrey LS tỷ lệ này là 24,1% trong 24 giờ đầu(9)

Trang 6

Trong nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Quỳnh

Châu thực hiện tại bệnh viện Nhân dân 115, tỷ lệ

tái thông tự nhiên chủ yếu cao trong thời điểm

24 – 48 giờ, tỷ lệ tái thông tự nhiên động mạch

não giữa là 46,08%(3) Mặc dầu trong thiết kế

nghiên cứu của chúng tôi đã cố gắng thực hiện 2

kỹ thuật với thời gian chênh lệnh trung bình là 6

giờ 30 phút, nhưng không thể hoàn toàn tránh

khỏi sai lệch kết quả do yếu tố này

Chỉ số Kappa cao nhất là ở động mạch não

giữa, động mạch cảnh trong, thấp nhất ở động

mạch não trước Điều này chứng tỏ sự phù hợp

về chẩn đoán giữa 2 phương pháp TCD và MRA

cao nhất ở động mạch não giữa và động mạch

cảnh trong Tóm lại, siêu âm xuyên sọ là một kỹ

thuật có nhiều ích lợi trong đánh giá và theo dõi

bệnh nhân nhồi máu não Đây là một phương

tiện không xâm lấn, có thể lặp lại nhiều lần giúp

theo dõi diễn tiến bệnh, diễn tiến của việc ly giải

cục huyết khối, tình trạng tái tắc hẹp Như vậy

nếu như có cửa sổ xương tốt, với độ nhạy, độ

đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên

đoán âm đã nói ở trên, siêu âm xuyên sọ là một

kỹ thuật có thể thực hiện nhanh chóng, tiện lợi

trong điều kiện cấp cứu, nó có thể đánh giá vận

tốc dòng máu não, cung cấp thông tin về tình

trạng mạch máu não Điều này rất quan trọng

trong quyết định can thiệp điều trị và theo dõi

Đặc biệt đối với những trung tâm y tế không có

điều kiện thực hiện cộng hưởng từ mạch máu

trong điều kiện cấp cứu, những trường hợp

bệnh nhân có chức năng thận bất thường, dị ứng

với thuốc cản quang, siêu âm xuyên sọ có nhiều

ưu điểm

KẾT LUẬN

Hẹp động mạch nội sọ là nguyên nhân đột

quỵ chiếm tỷ lệ cao Siêu âm xuyên sọ là kỹ thuật

đơn giản, giá thành rẻ, độ chính xác chấp nhận

được Nên thực hiện siêu âm xuyên sọ ở tất cả

các bệnh nhân nhồi máu não đặc biệt là nhồi

máu não cấp trên lều để tầm soát nguyên nhân

hẹp động mạch nội sọ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lumsden A, et al (2012) Practice standards for transcranial Doppler (TCD) ultrasound Part II Clinical indications and

expected outcomes Journal of Neuroimaging, 22 (3), pp

215-224

cerebrovascular ultrasound, In: Alexandrov AV (Ed) Cerebrovascular Ultrasound in Stroke prevention and Treatment, 1st

edition, pp 81 – 132 Blackwell, New York,

tái tưới máu ở bệnh nhân nhồi máu não động mạch não giữa

bằng doppler xuyên sọ Y học TP Hồ Chí Minh, 14 (1), pp 359

Pathophysiology of Stroke In: Caplan LR ( Ed) Stroke a clinical approach, Saunders Elsevier, USA, 4th edition, pp 102 - 103

Transcranial Doppler ultrasound findings in middle cerebral

artery occlusion" Stroke, 21 (4), pp 532-537

B, Heuschmann PU (2001) Epidemiology of ischemic stroke subtypes according to TOAST criteria: incidence, recurrence, and long-term survival in ischemic stroke subtypes: a population-based study Stroke, 32(12), pp 2735 - 2740

Epidemiology and pathophysiology of intracranial large

artery stenosis The Open Atherosclerosis & Thrombosis Journal, 3,

pp 3-7

Georgios, Alexandrov Andrei V (2007) The accuracy of transcranial Doppler in the diagnosis of middle cerebral artery

stenosis Cerebrovascular diseases, 23 (5-6), pp 325-330

ischemic stroke outcome a meta-analysis Stroke, 38 (3), pp

967-973

10 Samuels OB, Joseph GJ, Lynn MJ, Smith HA, Chimowitz MI (2000) A standardized method for measuring intracranial

arterial stenosis American journal of neuroradiology, 21 (4), pp

643-646

11 Valdueza JM, Schreiber SJ, Roehl JE, Klingebiel R (2008)

Vascular Pathology In: José M Valdueza, et al (Eds) Neurosonology and neuroimaging of stroke, Thieme, New York,

1 st edition, pp 81 – 85

12 Vang C, Dunbabin D, Kilpatrick D (1999) Effects of

electrophysiological recovery in acute ischemic stroke Stroke,

30 (10), pp 2119-2125

13 Wang Y, Zhao X, Liu L, Soo YO, Pu Y, et al (2014) Prevalence

and Outcomes of Symptomatic Intracranial Large Artery

Stenoses and Occlusions in China Stroke, 45 (3), pp 663 – 669

Ngày nhận bài báo: 14/10/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/10/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2015

Ngày đăng: 20/01/2020, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w