1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một vài nhận xét ban đầu về nhồi máu cơ tim cấp tái phát

6 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 339,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp điều trị các trường hợp nhồi máu cơ tim cấp tái phát so với nhồi máu cơ tim cấp lần đầu. Nghiên cứu tiến hành lấy số liệu trên các bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp lần đầu, nhồi máu cơ tim cấp tái phát được điều trị tại khoa tim mạch cấp cứu và can thiệp – bệnh viện Thống Nhất từ 1/2009 đến tháng 10/2010.

Trang 1

MỘT VÀI NHẬN XÉT BAN ĐẦU VỀ NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TÁI PHÁT

Nguyễn Đức Công*, Hồ Thượng Dũng*, Phan Văn Trực*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp điều trị các trường hợp nhồi máu

cơ tim cấp tái phát so với nhồi máu cơ tim cấp lần đầu

Đối tượng và phương pháp:

Đối tượng: Các bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp lần đầu, nhồi máu cơ tim cấp tái phát được

điều trị tại khoa Tim mạch cấp cứu và Can thiệp – bệnh viện Thống Nhất từ 1/2009 đến tháng 10/2010

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu và tiền cứu

Kết quả: Tổng cộng có 114 trường hợp NMCT cấp, trong đó có 21 trường hợp NMCT cấp tái phát chiếm

18,42% Nhóm NMCT cấp tái phát so với nhóm NMCT cấp lần đầu: dạng NMCT cấp không ST chênh lên hay gặp hơn (80,95% so với 34,41%, p < 0,001); chỉ số EF trung bình thấp hơn (44% so với 55,01%, p = 0,001) và

EF < 45% cao hơn (55,56% so với 22,86%, p = 0,01); có tổn thương mạch vành đa nhánh nhiều hơn (100% so với 79,59% với p = 0,07); và được điều trị nội khoa đơn thuần nhiều hơn (71,43% so với 48,35%, p = 0,04)

Kết luận: Các trường hợp NMCT cấp tái phát đa phần là NMCT cấp không ST chênh lên, có chỉ số EF

trung bình thấp hơn và tỉ lệ EF < 45% cao hơn, tổn thương mạch vành đa nhánh nhiều hơn, và được điều trị nội khoa đơn thuần nhiều hơn

Từ khóa: Nhồi máu cơ tim tái phát, nhồi máu cơ tim cấp, NMCT: nhồi máu cơ tim

ASBTRACT

RECURRENT MYOCARDIAL INFARCTION: CASES REPORT

Nguyen Duc Cong, Ho Thuong Dung, Phan Van Truc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 13 - 18

Objective: Report the parients with recurrent myocardial infarction

Subjects and methods: The patients have fisrt acute myocardial infarction and recurrent myocardial

infarction who admited to emergency and intervention cardiology deparment from january 2009 to october 2010 Retrospective and prospective descriptive study, cross-sectional design

Results: Among 114 consecutive patients: 21 patients were identified with recurrent acute myocardial

infarction (18,42%) and 93 patients were identifed with a first acute myocardial infarction: NSTEMI was diagnosed in first AMI/ recurrent AMI: 34.41% vs 80.95% (p < 0.001); EF of recurrent AMI is lower: 44% vs 55.01% (p = 0.001); recurrent AMI has multivessel desease more than in first AMI: 100% vs 79.59% (p = 0.07), and medicine treatment was used more frequent in recurrent AMI: 71.43% vs 48.35% (p = 0.04)

Conclusions: NSTEMI in recurrent AMI are more often than in first AMI, EF of recurrent AMI patients

are lower than EF of first AMI patients, recurrent AMI has multivessel desease more than in first AMI, and medicine treatment was used more often in recurrent AMI than first AMI

Key words: Recurrent acute myocardial infarction, acute myocardial infarction, NSTEMI: non

ST-elevation myocardial infarction, AMI: acute myocardial infarction

* Bệnh viện Thống Nhất Tp Hồ Chí minh

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

NMCT là nguyên nhân chính gây ra bệnh

suất và tử vong trên thế giới, hàng năm có

khoảng trên 3 triệu trường hợp NMCT cấp ST

chênh lên và trên 4 triệu trường hợp NMCT cấp

đạt nhiều thành tựu trong vài thập niên qua: từ

việc thành lập đơn vị mạch vành vào thập niên

60, điều trị tiêu sợi huyết vào thập niên 80, mở

rộng can thiệp mạch vành qua da vào thập niên

90 của thế kỷ XX đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tử

vong Thêm vào đó là những tiến bộ trong điều

trị dùng thuốc: kháng kết tập tiểu cầu, chẹn beta,

ức chế men chuyển và statin góp phần cải thiện

Tuy nhiên dù đã có nhiều tiến bộ song ngày nay

NMCT cấp vẫn là một vấn đề lớn của sức khỏe

cộng đồng trên toàn thế giới

Một trong những tồn tại của NMCT cấp là

NMCT cấp tái phát ở những bệnh nhân sống sót

sau NMCT lần đầu Theo Daiji Saito bệnh nhân

có tiền căn nhồi máu cơ tim có nguy cơ bị nhồi

máu cơ tim tái phát cao trong tương lai Tỉ lệ

mới mắc NMCT tái phát tăng từ 3-6 lần ở những

NMCT cấp tái phát thay đổi tùy theo từng giai

3.695 bệnh nhân, tuổi trung bình là 61, nam giới

chiếm 74%, được nghiên cứu trong giai đoạn

1981-1983, tỷ lệ NMCT cấp tái phát sau 1 năm là

6% và có tỉ lệ tử vong là 31% trong khi nằm

viện, nhóm NMCT tái phát còn có dự hậu xấu

với tỉ lệ tử vong sau 1 năm là 11,8% so với 5,3%

ở nhóm không NMCT tái phát Theo P Buch và

Mạch có 35 795 bệnh nhân sống sót sau NMCT

cấp lần đầu có tỉ lệ NMCT cấp tái phát sớm

(dưới 30 ngày kể từ ngày NMCT cấp lần đầu) là

2,5% và NMCT cấp tái phát muộn (trên 30 ngày

đến 1 năm) là 9,0% Theo Fokkema ML và cộng

vành cấp cứu, sau 1 năm tỉ lệ NMCT cấp tái

phát là 3,4%; các bệnh nhân bị NMCT cấp tái

phát cũng có dự hậu xấu hơn với tỉ lệ tử vong

sau 1 năm là 17,7% so với 5,5% ở nhóm không

có NMCT cấp tái phát với p = 0,003

việc phối hợp các thuốc kháng kết tập tiểu cầu, statin, và chẹn ß hay ức chế men chuyển đã làm giảm tỉ lệ tử vong và tỉ lệ tái nhồi máu cơ tim với

OR = 0,94 nếu dùng 1 thuốc, OR = 0,74 nếu dùng

2 thuốc và OR = 0,59 nếu dùng 3 thuốc

Tại Việt Nam số bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim ngày một tăng, nhưng những nghiên cứu về NMCT cấp tái phát còn ít Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm khảo sát bước đầu về một

số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của NMCT cấp tái phát tại khoa Tim mạch Cấp cứu

và Can thiệp

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và phương pháp điều trị của các trường hợp NMCT cấp tái phát được nhập viện tại BV Thống Nhất trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 10 năm 2010

Mục tiêu chuyên biệt

Khảo sát các yếu tố nguy cơ: tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá và rối loạn chuyển hóa lipid máu

Khảo sát tỉ lệ chẩn đoán NMCT cấp ST chênh lên hay không ST chênh lên

Khảo sát độ Killip

Khảo sát các chỉ số cận lâm sàng: nồng độ troponin T hay I, chỉ số EF bằng siêu âm tim, nồng độ LDL, và số nhánh mạch vành có tổn thương ý nghĩa ở những trường hợp có chụp mạch vành

Khảo sát tỉ lệ các phương pháp điều trị NMCT cấp tái phát

Khảo sát tỉ lệ tử vong trong thời gian nằm viện của NMCT cấp tái phát

PHƯƠNG PHÁP Thiết kế nghiên cứu

Mô tả, cắt ngang hồi và tiến cứu

Trang 3

Cách lấy mẫu: lấy mẫu thuận tiện

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Các trường hợp được chẩn đoán NMCT

cấp được điều trị tại khoa Tim mạch cấp cứu

và Can thiệp theo định nghĩa mới về nhồi

giảm troponin T hay I với ít nhất một giá trị

cao hơn giới hạn trên của bách phân vị 99,

kèm theo một trong các bằng chứng đau thắt

ngực và hay sụ biến đổi của ECG

Các trường hợp được ghi nhận NMCT cấp

tái phát là các trường hợp NMCT xảy ra sau lần

NMCT cấp lần đầu > 30 ngày

Tiêu chuẩn loại trừ

Các trường hợp có tiền căn nhồi máu cơ tim

cũ không có bằng chứng rõ ràng: như được chẩn

đoán bởi các phòng khám tư

Các trường hợp NMCT cấp lần đầu hay tái

phát mà nguyên nhân do can thiệp mạch vành

hay mổ bắc cầu mạch vành

Định nghĩa các biến số

Tăng huyết áp: được ghi nhận có tăng huyết

áp khi có tiền căn tăng HA và ít nhất đang dùng

một loại thuốc điều trị tăng HA và hay khi nhập

viện có HA tâm thu ≥ 140 mmHg và hay HA tâm

thu ≥ 90 mmHg

Đái tháo đường típ 2: chẩn đoán theo hiệp

hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 1997

Hút thuốc lá: có hút thuốc lá khi bệnh nhân

còn đang hút thuốc lá

Rối loạn chuyển hóa lipid máu được chẩn

đoán theo NCEP ATP III

Các phương pháp điều trị: điều trị nội khoa

đơn thuần, điều trị can thiệp một phần (không

đặt stent tất cả các tổn thương mạch vành có ý

nghĩa), và can thiệp triệt để (đặt stent ở tất cả các

tổn thương mạch vành có ý nghĩa)

Tử vong: khi bệnh nhân tử vong trong

bệnh viện hay bệnh nặng xin về do nguyên

nhân tim mạch

Kết quả

Dùng phần mềm STATA8.0 for windows, đối với biến số định lượng dùng phép kiểm Student, đối với biến số định tính dùng phép kiểm Fisher

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tổng cộng có 114 trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, trong đó nhồi máu cơ tim lần 1 là 93 trường hợp, nhồi máu cơ tim tái phát có 21 trường hợp (chiếm tỉ lệ 18,42%) với tuổi nhỏ nhất là 32 và tuổi lớn nhất là 92, được phân bố như sau:

NMCT NMCT cấp lần

đầu

NMCT cấp tái phát

P

Nữ 28 (30,11%) 8(38,10%) Nam 65 (69,89%) 13 (61,90%) 0,60 Tuổi trung bình 69,87 ± 12,01 74,66 ± 10, 64 0,09 Tăng HA 72 (77,42%) 17 (80,95) 1,00 Đái tháo đường 23 (24,73%) 6 (28,57%) 0,78 Hút thuốc lá 26 (27,96%) 3 (15%) 0,27 RLCHLP máu 57 (72,15%) 14 (82,35%) 0,54 NMCT ST không

chênh lên 32 (34,41%) 17 (80,95%) < 0,001

Độ Killip 1 và 2 79 (84,95%) 16 (76,19%) 0,34

EF trung bình

55,01% ± 11,42% 44% ± 16,13% 0,001

EF < 45% 16 (22,86%) 10 (55,56%) 0,010 Điều trị nội khoa 44 (48,35%) 15 (71,43%)

Can thiệp mạch vành một phần 21 (23,08%) 5 (23,81%) Can thiệp mạch

vành triệt để 26 (28,57%) 1 (4,76%)

0,04

Bệnh mạch vành

1 nhánh 10 (20,41%) 0 (0%) Bệnh mạch vành

2 nhánh 12 (24,49%) 1 (8,33%) Bệnh mạch vành

3 nhánh 27 (55,10%) 11 (91,67%)

0,07

Không tử vong 88 (94,62%) 20 (95,24%) 1,00 Nồng độ troponin

(T hay I) trung bình

Nồng độ LDL

Trong nghiên cứu của chúng tôi: nhóm NMCT cấp lần đầu có tuổi nhỏ nhất là 32 và tuổi lớn nhất là 92, nhóm NMCT cấp tái phát có tuổi nhỏ nhất là 52 và tuổi lớn nhất là 90 Tuổi trung bình của nhóm NMCT cấp tái phát cao

Trang 4

hơn nhóm NMCT cấp lần đầu (74,66 so với

69,89) khác biệt không có ý nghĩa thống kê P =

0,59; tương tự như nghiên cứu của Kornowski R

tái phát là nhóm sống sót sau nhồi máu cơ tim

lần đầu lên có số tuổi lớn hơn, theo Kornowski

R tuổi làm tăng nguy cơ NMCT tái phát 1,13 lần

Tuổi trung bình của chúng tôi ở hai nhóm đều

cao hơn của Kornowski R có thể tính do đặc thù

của bệnh viện Thống Nhất

Giới nam chiếm đa số trong cả hai nhóm là

69,89% và 69,90% cũng tương tự như nghiên

72,22%; điều này cũng phù hợp với y văn là giới

nam chiếm đa số trong nhồi máu cơ tim cấp

Trong bốn yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành

giữa hai nhóm sự khác biệt không có ý nghĩa

thống kê, trong đó tăng HA chiếm tỷ lệ cao nhất

ở cả hai nhóm, điều này cũng phù hợp với y

văn Do chúng tôi thống kê cả những trường

hợp có tiền căn tăng HA và những trường hợp

HA khi nhập viện với HA tâm thu ≥ 140 mmHg

và hay HA tâm trương ≥ 90 mmHg nên nhóm

NMCT cấp tái phát có tỷ lệ tăng HA rất cao là

80,95% so với nhóm NMCT cấp lần đầu là

77,42% Biến số hút thuốc lá chúng tôi chỉ thống

kê những trường hợp đang còn hút thuốc lá nên

ở nhóm NMCT cấp tái phát ghi nhận là 15%

trong khi nhóm NMCT cấp lần đầu là 27,96%;

do tất cả các bệnh nhân sau khi bị NMCT cấp

lần đầu đều được khuyên bỏ thuốc lá Đái tháo

đường típ 2 ở nhóm NMCT cấp tái phát cao hơn

là 28,57% so với 24,73%; khác biệt không có ý

nghĩa với p = 0,78 Do nhóm NMCT cấp tái phát

có độ tuổi trung bình lớn hơn nên dễ mắc đái

tháo đường típ 2 hơn

Nhóm NMCT cấp tái phát có tỷ lệ rối loạn

chuyển hóa lipid máu cao hơn: 82,35% so với

72,15%, khác biệt không có ý nghĩa với p = 0,54

Do trong nghiên cứu rối loạn lipid máu bao

gồm cả những trường hợp có tiền căn rối loạn

chuyển hóa lipid máu và đang có dùng thuốc

điều trị rối loạn lipid máu nên tỉ lệ có rối loạn

lipid máu ở cả hai nhóm cao hơn của Daiji

44,96% ở nhóm NMCT lần đầu Thêm vào đó nhóm NMCT cấp tái phát có độ tuổi trung bình cao hơn nên có tỉ lệ rối loạn chuyển hóa lipid cao hơn

Chúng tôi có khảo sát nồng độ LDL ở hai nhóm thì nồng độ LDL trung bình ở nhóm NMCT cấp tái phát có giảm 2,77 mmol/l so với 2,91 mmol/l nhưng khác biệt không có ý nghĩa với P = 0,61 Điều này cho thấy việc điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu để hạ nồng độ LDL

về mức tối ưu theo khuyến cáo của nghiên cứu CARE đa phần không đạt Theo Frank M Sacks

125mg/dl bằng pravastatin thì sẽ làm giảm 24%

tỷ lệ tử vong và tái nhồi máu cơ tim

Trong các trường hợp có chụp mạch vành, nhóm NMCT tái phát có tổn thương mạch vành

đa nhánh (2 hay 3 nhánh) cao hơn nhóm NMCT lần đầu (lần lượt là 8,33% và 91,67% so với

thì theo dõi 3.339 trường hợp NMCT cấp sau 3 năm có 349 trường hợp NMCT tái phát thì tổn

đa nhánh có là yếu tố làm tăng NMCT tái phát với P = 0,007 Theo James A Goldstein và cộng

NMCT cấp tái phát sau một năm là 19% so với

có một tổn thương là 2,6 % với P < 0,001

Trong nghiên cứu của chúng tôi số đo EF trung bình của nhóm NMCT lần đầu là 55,01% ± 11,42%, thấp nhất là 24% và cao nhất là 74%; ở nhóm NMCT tái phát là 44% ± 16,13%, thấp nhất

là 20 và cao nhất là 72%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P = 0,001 Nếu phân chia thành hai nhóm EF < 45% và EF ≥ 45% thì NMCT tái phát

có tỉ lệ EF < 45% cao hơn 55,56% so với 22,86% ở NMCT cấp lần đầu với p = 0,01

Nhóm NMCT cấp lần đầu có 6 trường hợp killip IV chiếm tỷ lệ 6,45%, 8 trường hợp killip III chiếm tỉ lệ 8,60% Ở nhóm NMCT tái phát không có trường hợp nào killip IV nhưng có tới

5 trường hợp killip III, chiếm tỉ lệ 23,81% Nếu tính chung độ killip 3 và 4 thì nhóm NMCT tái phát cao hơn nhóm NMCT lần đầu (23,81% so

Trang 5

với 15,05% với P = 0,34), tương tự như nghiên

lần lượt là 42,3% so với 36,3%, theo y văn những

bệnh nhân sống sót sau NMCT lần đầu nếu

không được tái thông sớm thì một trong những

hậu quả thường gặp là suy tim, nên khi xuất

hiện NMCT tái phát dễ thúc đẩy tình trạng suy

tim nặng hơn

Nồng độ troponin (T hay I) trung bình ở

nhóm NMCT cấp lần đầu cao hơn nhóm NMCT

tái phát là 9,64 so với 3,81 ng/ml khác biệt có ý

nghĩa thống kê với P = 0.006, tương tự như

nhóm lần lượt là 1,419 U/l so với 785 U/l Do

nhóm NMCT lần đầu của chúng tôi có tỷ lệ

NMCT cấp ST chênh lên cao hơn nhóm NMCT

tái phát là 65,59% so với 19,05%, các bệnh nhân

NMCT cấp ST chênh lên sau khi can thiệp mạch

vành cấp cứu thường có troponin T hay I tăng

rất cao

Điều trị nội khoa đơn thuần ở nhóm

NMCT tái phát cao hơn nhóm NMCT lần đầu

(71,43% so với 48,35%), trong số các bệnh

nhân can thiệp mạch (chủ yếu là đặt stent)

nhóm NMCT lần đầu chiếm tỷ lệ cao hơn

nhóm NMCT tái phát (23,08% so với 23,81% ở

nhóm can thiệp một phần và 28,57% so với

4,76% ở nhóm can thiệp triệt để).; tương tự

thiệp mạch vành (gồm cả nong bóng và đặt

stent) của NMCT cấp lần đầu là 48,14% và

NMCT cấp tái phát là 38,88% Các bệnh nhân

của chúng tôi ở nhóm NMCT tái phát số tổn

thương mạch vành đa nhánh chiếm tỷ lệ cao,

cộng thêm độ Killip 3 và 4 cũng chiếm tỷ lệ

cao, chỉ số EF < 45% ở nhóm NMCT cấp tái

phát cũng cao hơn Những điều này đã làm

hạn chế tỷ lệ can thiệp mạch vành ở nhóm

NMCT cấp tái phát

NMCT cấp lần đầu chủ yếu là NMCT cấp

ST chênh lên trong khi nhóm NMCT cấp tái

phát thì thể NMCT cấp không ST chênh lên

chiếm đa số, trong nghiên cứu của Alon

cấp không xuyên thành (đa số là NMCT cấp không ST chênh lên) có tỉ lệ NMCT cấp tái phát cao hơn NMCT cấp xuyên thành

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm NMCT tái phát có 1 trường hợp tử vong (chiếm

tỉ lệ 4,76%) do biến chứng rung thất, tiền căn bệnh 3 nhánh mạch vành, còn nhóm NMCT cấp lần đầu có 5 trường hợp tử vong (chiếm tỉ lệ 5,38%), trong đó có 4 trường hợp do choáng tim,

và một trường hợp suy tim nặng sau nhồi máu gia đình làm đơn xin về So với kết quả nghiên

bệnh viện của chúng tôi thấp hơn, do Kornowski R được tiến hành từ những năm 1981-1983, các bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa đơn thuần, và các tiến bộ trong điều trị nội khoa, hồi sức tim mạch còn hạn chế

KẾT LUẬN

NMCT cấp tái phát có tỉ lệ NMCT không ST chênh lên cao hơn 80,95% so với 34,41%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

NMCT tái phát có độ killip lớn hơn 2 cao hơn 23,81% so với 15,05% với p = 0,34

NMCT cấp tái phát có chỉ số EF trong siêu

âm tim giảm hơn NMCT cấp lần đầu 44% so với 55,01% với p = 0,001; có tỉ lệ EF < 45% cao hơn 55,56% so với 22,86% với p = 0,01 NMCT cấp tái phát có nồng độ troponint T hay I trung bình thấp hơn (3,81 ng/ml so với 9,46 ng/ml với p = 0,006) NMCT cấp tái phát có tổn thương mạch vành đa nhánh cao hơn với 100% tổn thương 2 hay 3 nhánh, so với NMCT lần đầu là 79,59% với p = 0,07

NMCT cấp tái phát được điều trị nội khoa đơn thuần nhiều hơn (71,43% so với 48,35% với p = 0,04)

NMCT tái phát có tử lệ tử vong trong khi nằm viện là 4,76% so với NMCT lần đầu là 5,38%, khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với p = 1

Hạn chế của đề tài: đề tài chủ yếu hồi cứu,

số mẫu ở nhóm NMCT cấp tái phát còn nhỏ (< 30), nên có những hạn chế về mặt thống kê

Trang 6

Kiến nghị: Qua nghiên cứu này chúng tôi đề

suất một nghiên cứu đoàn hệ trong tương lai,

xác định tỉ lệ NMCT cấp tái phát sau một năm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Antman E, Bassand JP, Klein W, Ohman M et al (2000)

“Myocardial infarction redefined – a consensus document of the

joint European society of Cardiology/ American college of

Cardiology committee for the redefinition of myocardial

infarction: the joint European society of Cardiology/ American

college of Cardiology committee J Am Coll Cardio”; 36:

959-969

2 Boersma E, Mercado N, Poldermans D et al (2003) “Acute

myocardial infarction” Lancet; 361: 847-858

3 Buch P, Rasmussen S, Gislason GH et al (2007) “Temporal

decline in the prognostic inpact of a recurrent acute myocardial

infarction 1985 to 2002” Heart;93: 210-215

4 Fokkema ML, van der Vleuten PA, Vlaar PJ et al (2009)

“Incidence, predictors, and outcome of reinfarction and stent

thrombosis within one year after primary percutaneous

coronary intervention for ST-elevation myocardial infarction”

Catheter cardiovasc interv; 73(5): 627-634

5 Goldstein JA, Demetriou D, Grines CL et al (2000) “Multiple

complex coronary plaques in patients with acute myocardial

infarction” N Engl J Med; 343: 915-922

6 Kornowski R, Goldbourt U, Mandelzweig L et al (1993)

“Predictors and long-term prognostic of significance of recurrent

in the year after a fist myocardial infarction SPRINT study group” Am J Cardiol;72(12): 883-888

7 Marmor A, Schechtman K, Roberts R et al (1982) “Recurrent myocardial infarction: clinical predictors and prognostic implications” Circulation; 2: 415-421

8 Muller HS, Forman SA, Menegus MA et al (1995) “Prognostic significance of nonfatal reinfarction during 3-year follow-up: results of the thrombolysis in myocardial infarction (TIMI) phase

II clinical trial” The TIMI investigators J AM Coll Cardiol;26:900-907

9 Sacks FM, Moye LA, Davis BR et al (1998) ”Relationship between plasma LDL concentrations during treatment with pravastatin and recurrent coronary events in the cholesterol and recurrent events trial” Circulation; 97; 1446-1452

10 Saito D; Shiraki T; Oka T; Kajiyama A; Takamura T (2002) “Risk factors indicating recurrent myocardial infarction after recovery from acute myocardial infarction” Circulation Journal); 66:

877-880

11 van der Elst ME, Buurma H, Bouvy ML, and de Boer A (2003)

“Drug therapy for Prevention of recurrent myocardial infarction” Ann pharmacother; 37: 1465-1477

12 van der Elst ME, de Blaey CJ, Bouvy ML, and de Boer A (2007)

“Effect of drug combinations on admission for recurrent myocardial infarction” Heart; 93: 1226-1230

13 White HD, Chew DP (2008) “Acute myocardial infarction” Lancet; 372: 570-584

Ngày đăng: 20/01/2020, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm