1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò các bảng câu hỏi tầm soát trong chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

6 134 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 481,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh vai trò của hai bảng câu hỏi GOLD và IPAG trong việc phát hiện ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bảng câu hỏi tầm soát của GOLD và IPAG cũng tương đối dễ dàng áp dụng tại các cơ sở y tế. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

VAI TRÒ CÁC BẢNG CÂU HỎI TẦM SOÁT TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Lê Thị Huyền Trang*, Lê Thị Tuyết Lan**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tần suất BPTNMT và gánh nặng kinh tế của nó ngày càng tăng Hô hấp ký là tiêu chuẩn vàng

để chẩn đoán bệnh nhưng không được thực hiện phổ biến cho bệnh nhân Với các bảng câu hỏi tầm soát có thể giúp chọn ra những đối tượng nguy cơ cao bệnh BPTNMT mà tiến hành chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn vàng là hô hấp ký Bảng câu hỏi tầm soát của GOLD và IPAG cũng tương đối dễ dàng áp dụng tại các cơ sở y tế Mục tiêu của nghiên cứu này là sánh vai trò của hai bảng câu hỏi này trong việc phát hiện ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện tại bệnh viện ĐHYD theo chương trình tầm soát

khám bệnh miễn phí cho bệnh nhân Hơn 354 người trả lời các bảng câu hỏi, những người thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh sẽ được đo hô hấp ký có thử thuốc dãn phế quản để chẩn đoán xác định bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Kết quả: Trong 354 phiếu tầm soát phát ra chọn được 158 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn của bảng câu

hỏi GOLD: dựa vào hô hấp ký 56/158 bệnh nhân được chẩn đoán là BPTNMT- tần suất là 35,4% Phát hiện được ở các giai đoạn I (10,7%) giai đoạn II (30,4%) giai đoạn III (37,5%) giai đoạn IV (21,4%) Độ nhạy là 80,3%, độ đặc hiệu là 32,4% Theo bảng câu hỏi IPAG: có 110 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn được tiến hành đo hô hấp ký, dựa vào hô hấp ký có 41/110bệnh nhân được chẩn đoán là BPTNMT – tần suất là 37,3% Độ nhạy là 73,2%, độ đặc hiệu là 33,2%

Kết luận: So với bảng câu hỏi IPAG ,bảng câu hỏi tầm soát BPTNMT của GOLD có độ nhạy cao hơn trong

việc xác định đối tượng nguy cơ cao BPTNMT để cho đo hô hấp ký Sử dụng bảng câu hỏi này có thể làm giảm thời gian và chi phí phát hiện BPTNMT, góp phần phát hiện sớm bệnh

Từ khóa: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, GOLD, IPAG

ABSTRACT

THE ROLE OF SCREENING QUESTIONNAIRES IN DIAGNOSIS FOR COPD

Le Thi Huyen Trang, Le Thiị Tuyet Lan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 336 - 341

Objective: The burden of COPD is high and its prevalence is increasing Spirometry is the gold standard

for diagnosis of COPD but performing spirometric test for all symptomatic people is not practical The questionnaires could be used to identify patients with high risk of COPD in order to perform spirometry to make diagnosis The GOLD and IPAG questionnaire are easy to use in primary health care The aim of this study is

comparative the role of these questionnaires in screening COPD patient

Method: This is a cross – sectional descriptive study, carried out at Medical University Hospital based on

free screening program 354 persons have been screened by questionnaires of GOLD and IPAG Subjects who had answered “Yes” for 3 questions or more with the GOLD questionnaire and got over 19 point with the IPAG questionnaire were selected to perform spirometric test with bronchodilator medication to identify the COPD ones

*: Bộ môn Nội Tổng Quát – Đại học Y Dược TPHCM **: Bộ môn Sinh Lý – ĐHYD TPHCM

Tác giả liên lạc: Ths Lê Thị Huyền Trang, ĐT 0913602270, Email: tranghieu2001@yahoo.com

Trang 2

Result: Among 354 attended people, 158 patients have been chosen to this study according to GOLD

questionnaire and performed spirometric test with bronchodilator medication Based on spirometry, 56/158 patients have been diagnosed COPD – the ratio is 35.4% Classisfication of COPD severity adhered to GOLD of those patients are: stage I (10.7%), stage II (30.4%), stage III (37.5%), stage IV (21.4%) Sensitivity is 80.3%, specificity is 32.4% According to IPAG questionnaire, there are 110 patients chosen and performed spirometry 41/110 patients have been diagnosed COPD base on spirometry – the ratio is 37.3% Sensitivity is 73.2%, specificity is 33.2%

Conclusion: Compared with the IPAG questionnaire, the GOLD questionnaire has higher sensitivity in

pointing out the patients with high probability of COPD to be tested by spirometry The use of this GOLD

questionnaire reduce the cost and the time in detecting COPD

Keywords: chronic obstructive pulmonary disease, GOLD, IPAG

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, bệnh phổi tắc

nghẽn mạn tính (BPTNMT) ngày càng được

quan tâm vì tần suất mắc bệnh và tử vong ngày

càng tăng cao Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có

khoảng 600 triệu người bị BPTNMT trên toàn

cầu và 2,75 triệu người tử vong trong năm

2004(4) Tử vong do BPTNMT được xếp hàng thứ

6 vào năm 1990 sẽ vượt lên hàng thứ 3 năm

2020(2) Nghiêm trọng hơn, trong khi tần suất các

bệnh gây tử vong hàng đầu hiện nay như bệnh

mạch vành, tai biến mạch máu não và các

nguyên nhân khác có khuynh hướng giảm

xuống thì tần suất BPTNMT lại gia tăng đến

163%(7) Theo tính toán của Hội Hô Hấp Châu

Á-Thái Bình Dương, tỉ lệ BPTNMT ở Việt Nam là

6,7%, cao nhất trong 12 nước ở vùng này(13)

BPTNMT giai đoạn tiến triển sẽ làm người bệnh

tàn phế nặng nề, chất lượng cuộc sống bị sụt

giảm nghiêm trọng

Bệnh nhân BPTNMT thường được phát hiện

ở giai đoạn trễ, khi đã có những biến chứng nên

việc can thiệp không mang lại hiệu quả và là

gánh nặng y tế và kinh tế cho gia đình bệnh

nhân và xã hội(12)

Ở tất cả các quốc gia, các bác sĩ chăm sóc sức

khỏe ban đầu thường là những người đầu tiên

tiếp xúc những bệnh nhân có những triệu chứng

đầu tiên rất thay đổi và không rõ ràng của

những bệnh hô hấp mạn như BPTNMT, họ cũng

là những người điều trị đầu tiên phần lớn

những bệnh hô hấp mạn Các bác sĩ chăm sóc

sức khỏe ban đầu có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện sớm BPTNMT.Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia, không có những hướng dẫn chuyên biệt dành cho bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu Để hỗ trợ cho việc này, một loạt các bảng câu hỏi dựa vào triệu chứng (symptom-based questionnaire) đã được lập ra

Các bảng câu hỏi dựa trên triệu chứng được

sử dụng tại nhiều quốc gia, có thể giúp phát hiện ra những người có khả năng bị BPTNMT ở ngay tại tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu(1), và

là phương tiện được sử dụng rộng rãi nhất trong điều tra dịch tễ bệnh hô hấp(3) Các bảng câu hỏi tầm soát BPTNMT thường được dùng là của Hội Lồng Ngực Anh, Liên Minh Quốc tế Chống Lao và Bệnh Hô Hấp, Hội Lồng ngực Hoa Kỳ -Phân Ban Bệnh Phổi Hội Than Thép Châu Âu(9) Bảng câu hỏi NHANES III của Hoa Kỳ Ngoài

ra, có những bảng câu hỏi cải biên, như “The Personal level Screener for COPD” cải biên từ bảng câu hỏi của “Liên Minh Quốc từ Chống Lao và Bệnh Hô Hấp và bảng câu hỏi của Nghiên cứu Sức Khỏe Hô Hấp Cộng Đồng Châu

Âu (The European Community Respiratory Health Survey) (5) Bảng câu hỏi Tầm Soát BPTNMT Trong Cộng Đồng Tự Cho Điểm (self-scored COPD Population Screener Questionnaire -COPD-PS) của Trường Đại Học Michigan(6) Việc ra đời những bảng câu hỏi cải biên này cũng để làm sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng

Hướng dẫn về xử lý BPTNMT được các nhà khoa học ủng hộ rộng rãi nhất hiện nay là

Trang 3

“Chiến lược toàn cầu về Bệnh Phổi Tắc Nghẽn

Mạn Tính” – Global Initiative for Chronic

Obstructive Lung Disease (GOLD) ra đời vào

năm 2001 do Viện Tim, Phổi, Huyết Học Hoa

Kỳ cùng với Tổ Chức Y Tế Thế Giới biên soạn(10)

và được cập nhật hàng năm GOLD có đưa ra

bảng câu hỏi tầm soát BPTNMT gồm 5 câu hỏi

rất dễ hiểu

Hội hô hấp Châu Âu và Hội Dị Ứng và Miễn

Dịch Lâm Sàng Châu Âu đã tác động hình thành

nhóm Chăm Sóc Ban Đầu Đường Hô Hấp Quốc

Tế (International Primary Care Airway Group -

IPAG ), nhóm các chuyên gia chăm sóc sức khỏe

ban đầu quốc tế Nhóm chuyên gia này được Tổ

Chức Y Tế Thế giới giao nhiệm vụ điều chỉnh

các bảng hướng dẫn về bệnh lý hô hấp trở nên

phù hợp cho các bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban

đầu IPAG đã đưa ra hướng dẫn sử dụng bộ câu

hỏi như là cụng cụ nhận diện ra những bệnh

nhân hen và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính,

phân biệt hen và BPTNMT(8) Hệ thống bảng câu

hỏi có thể cho điểm được như của IPAG làm cho

bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu dễ sử dụng,

dễ diễn giải và các quyết định khi nào cần gửi

bệnh nhân đo hô hấp ký trở nên hợp lý(11)

Chúng tôi chọn bảng câu hỏi tầm soát của

GOLD và bảng câu hỏi IPAG để sàng lọc nhằm

chọn ra đối tượng nguy cơ cao để chẩn đoán xác

định BPTNMT

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá vai trò của bảng câu hỏi tầm soát

trong việc chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính theo “Chiến lược toàn cầu về bệnh phổi tắc

nghẽn mạn tính” tại TP.HCM từ tháng 12 năm

2008 đến tháng 12 năm 2009

Mục tiêu cụ thể

Tính độ nhạy, độ đặc hiệu của Bộ câu hỏi

tầm soát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

(BPTNMT) theo IPAG

Tính độ nhạy, độ đặc hiệu của Bộ câu hỏi

tầm soát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

(BPTNMT) theo GOLD

Lựa chọn được Bộ câu hỏi tầm soát BPTNMT phù hợp nhất cho cộng đồng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Đối tượng

Những bệnh nhân đến khám bệnh miễn phí theo chương trình tầm soát tại Bệnh viện Đại Học Y Dược

Hàng tháng chúng tôi tổ chức chương trình tầm soát bệnh lý hô hấp cho bệnh nhân tại TPHCM và các tỉnh thành lân cận Chương trình được thực hiện vào ngày chủ nhật giữa tháng có thông tin rộng rãi cho quần chúng qua báo chí

và đài truyền hình Tiến hành từ tháng 1-2009 đến tháng 10-2009 thu hút được hơn 2000 bệnh nhân tham gia Trong đó 354 bệnh nhân đồng ý trả lời bảng câu hỏi tầm soát BPTNMT

Có 2 bảng câu hỏi tầm soát được phát ra là bảng câu hỏi của GOLD và của IPAG

Những người có 3 trong 5 câu trả lời đúng theo bảng câu hỏi của GOLD được chọn vào nhóm nghiên cứu

Những người có thang điểm IPAG ≥19 được chọn vào nhóm nghiên cứu

Bảng câu hỏi tầm soát của GOLD gồm 5 câu hỏi sau:

- Ho vài lần trong ngày trong hầu hết các ngày trong tuần

- Khạc đàm trong hầu hết các ngày trong tuần

- Dễ bị khó thở hơn người cùng tuổi

- Trên 40 tuổi

- Đang hút thuốc lá hoặc đã từng hút thuốc

Bảng câu hỏi IPAG như sau:

Câu hỏi Chọn câu trả lời

thích hợp nhất

Điểm

40-49 tuổi 0 50-59 tuổi 4 60-69 tuổi 8

1 Ông/bà hiện bao nhiêu tuổi

≥ 70 tuổi 10

Trang 4

Câu hỏi Chọn câu trả lời

thích hợp nhất

Điểm

0-14 gói-năm 0

15-24 gói-năm 2

25-49 gói-năm 3

2 Số điếu thuốc lá ông/bà hiện

đang hút hoặc đã từng hút

(nếu đã cai thuốc lá) mỗi

ngày?

Ông bà đã hút thuốc trong bao

nhiêu năm?

Cách tính:

Số gói/ngày=số điếu thuốc hút

mỗi ngày:20

Số gói-năm=số gói/ngày x số

năm hút thuốc

≥ 50 gói-năm 7

BMI < 25,4 5 BMI = 25,4-29,7 1

3 Ông/bà cân nặng bao nhiêu

(kg) ?

Ông/bà cao bao nhiêu (mét)?

Cách tính: BMI = cân

nặng(kg)/(chiều cao)2 (m2) BMI >29,7 0

Có 3 Không 0

4 Thời tiết có ảnh hưởng đến

triệu chứng ho của ông/bà

không?

Tôi không bị ho 0

Có 3

5 Có bao giờ ông/bà bị ho khạc

đàm khi không bị cảm lạnh?

Không 0

Có 0

6 Ông/bà có thường bị ho vào

buổi sáng khi vừa thức dậy

không? Không 3

Chưa bao giờ 0

7 Ông/bà có thường bị thở khò

khè không?

Thỉnh thoảng hoặc tăng dần

4

Có 0

8 Ông/bà có từng bị dị ứng

không?

Không 3 Sau khi hoàn tất việc phỏng vấn, các đối

tượng sẽ được chụp X quang lồng ngực để loại

trừ bệnh viêm nhiễm hay u bướu đường hô hấp

Thực hiện đo hô hấp ký có thử thuốc giãn

phế quản Bệnh nhân được đo hô hấp ký lần 1,

xịt Ventolin MDI 2 nhát và đo lại hô hấp ký lần 2

sau 15 phút

Chẩn đoán xác định BPTNMT theo GOLD

khi: FEV1/(F)VC < 70% sau thử thuốc giãn phế

quản và hồi phục không hoàn toàn sau thử

thuốc giãn phế quản

Để phân biệt với bệnh nhân hen, chúng tôi

chẩn đoán dựa vào bệnh sử, lâm sàng và sau khi

xác định tắc nghẽn không hồi phục với thuốc

dãn phế quản Sự hồi phục test dãn phế quản

được định nghĩa là PEF cải thiện 15% so với ban

đầu hoặc VC, FVC, FEV1 tăng 12% và 200ml so với ban đầu

Có hơn 354 bệnh nhân được các BS phỏng vấn và chọn được 158 bệnh nhân đo hô hấp ký theo tiêu chuẩn sau:

- Có hơn 3 câu trả lời “có” ở bảng câu hỏi GOLD

- Có tổng điểm ≥ 19 ở bảng câu hỏi IPAG Thu thập số liệu và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ- BÀN LUẬN Đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình 61,2 ± 12 Giới nam / nữ: 130/ 28 bệnh nhân

TỈ LỆ NAM NỮ

NỮ, 17.7%

NAM, 83.3%

Tỉ lệ hút thuốc lá khá cao là 75,9% (120/158 bệnh nhân) Số gói năm trung bình là 20,22 Chỉ số khối cơ thể trung bình là 23,7

Chức năng hô hấp

Min (%) Max (%) Trung bình (%)

FEV1 16 119 72,5 ± 25,4 FVC 17 122 76,7 ± 20,5 PEF 16 129 71,2 ± 30,8 FEF 25-75 6 152 60,7 ± 35,5

Bảng câu hỏi tầm soát theo GOLD

Tỉ lệ số câu trả lời “Có” ở nhóm bệnh nhân

Trong 158 bệnh nhân được chọn tiến hành tầm soát tỉ lệ số câu trả lời đúng như sau:

- 3 câu đúng: 36,7%

- 4 câu đúng: 38,6%

- 5 câu đúng: 24,7%

Trang 5

Tỉ lệ chẩn đoán BPTNMT

Số câu

“Có”

Tỉ lệ trả lời “Có” Tỉ lệ chẩn đoán

BPTNMT

3 câu 58/158 (36,7%) 16/56 (28,6%)

4 câu 61/158 (38,6%) 19/56 (33,9%)

5 câu 39/158 (24,7%) 21/56 (37,5%)

Như vậy, theo bảng câu hỏi của GOLD, càng

nhiều câu trả lời “Có” thì tỉ lệ chẩn đoán

BPTNMT càng cao

GOLD chỉ nghiên cứu từ 3 câu trả lời “Có”

thì khả năng bi BPTNMT cao

Vấn đề là với 1 hay 2 câu “Có” thì kết quả

chẩn đoán BPTNMT ra sao chúng ta cần nghiên

cứu thêm

Trong 158 bệnh nhân, tỉ lệ chẩn đoán được

BPTNMT theo từng câu hỏi như sau:

Số bn trả lời

là “Có”

Số bn được chẩn đoán BPTNMT

Tỉ lệ chẩn đoán

Câu 1 124 46 37,1%

Câu 2 114 40 35%

Câu 3 118 46 38,9%

Câu 4 158 55 34,8%

Câu 5 116 45 38,7%

Như vậy vai trò chẩn đoán của mỗi trong

bảng để chẩn đoán là ngang nhau

Đối với trường hợp có 5 câu trả lời “Có” thì

ta có bảng 2x2 như sau:

FEV1/FVC< 70% FEV1/FVC >70%

5 câu “Có” 45 71

< 5 câu “Có” 11 31

Như vậy độ nhạy của 5 câu này là 45/45+11=

80,3%

Độ đặc hiệu là: 31/31+ 71 = 32,4%

Độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu không cao,

phù hợp với mục đích là tầm soát bệnh

Diện tích dưới đường cong ROC là 0,57

Tỉ lệ giai đoạn BPTNMT

Trong tổng số 354 phiếu tầm soát chọn ra

158 trường hợp để làm hô hấp ký kết quả là

chẩn đoán được 56 trường hợp, vậy tỉ lệ chẩn

đoán của bảng câu hỏi GOLD là 15,8%

Có 56 /158 bệnh nhân được chẩn đoán

BPTNMT dựa vào hô hấp ký, chiếm tỉ lệ chẩn đoán là 35,4%

Trong đó giai đoạn III chiếm tỉ lệ cao nhất là 37,5% Phát hiện được cả bệnh nhân BPTNMT giai đoạn I là 10,7% Đây là giai đoạn rất sớm, chỉ có thể phát hiện qua các chương trình tầm soát ít khi phát hiện được trên lâm sàng

0 0.1 0.2 0.3 0.4

GÐ I GÐ II GÐ III GÐ IV

10.7%

30.4%

37.5%

21.4%

PHÂN Ð? GIAI ÐO?N BPTNMT

Bảng câu hỏi IPAG

Trong số các bệnh nhân tham gia tầm soát có

110 bệnh nhân có điểm IPAG ≥ 19

Trong 110 bệnh nhân này sau khi đo hô hấp

ký để chẩn đoán BPTNMT thì phát hiện được 41 trường hợp bị BPTNMT

Vậy tần suất chẩn đoán BPTNMT từ bảng câu hỏi IPAG là 41/354= 11,6% thấp hơn so với bảng câu hỏi tầm soát GOLD

Theo bảng 2x2 sau ta thấy:

FEV1/FVC <70% FEV1/FVC >70%

IPAG > 19 41 69 IPAG <19 15 33

Từ đó ta tính được độ nhạy của bảng câu hỏi này là: 41/41+15= 73,2%

Độ đặc hiệu của bảng câu hỏi IPAG là 33/33+69= 33,2%

Độ đặc hiệu quá thấp nên thường dùng để tầm soát hơn

Diện tích dười đường cong là 0,53

Tỉ lệ chẩn đoán là 41/110 = 37,3% tương tự như kết quả tầm soát từ bảng câu hỏi của GOLD

Tỉ lệ các giai đoạn bệnh như sau:

Trang 6

GÐ I GÐ II GÐ III GÐ IV

4.9%

26.8%

53.7%

14.6%

PHÂN Ð? GIAI ÐO?N BPTNMT

Phân bố các giai đoạn BPTNMT cũng tương

tự như kết quả từ bảng câu hỏi GOLD

KẾT LUẬN- ĐỀ NGHỊ

Tỉ lệ chẩn đoán BPTNMT của bảng câu hỏi

GOLD là: 15,8%

Tỉ lệ chẩn đoán BPTNMT của bảng câu hỏi

IPAG là: 11,6%

Độ nhạy của bảng câu hỏi GOLD là 80,3%

với diện tích dưới đường cong ROC là 0,57

Độ nhạy của bảng câu hỏi IPAG là 73,2% với

diện tích dưới đường cong ROC là 0,53

Bảng câu hỏi GOLD có độ nhạy cao hơn và tỉ

lệ chẩn đoán cao hơn

Bảng câu hỏi GOLD chỉ gồm 5 câu hỏi tương

đối đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng

Phát hiện cả BPTNMT ở những giai đoạn

sớm của bệnh (giai đoạn I và II)

Nên sử dụng bảng câu hỏi GOLD trong

chương trình tầm soát chẩn đoán BPTNMT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

initiative for chronic obstructive lung disease, strategy for the

diagnosis, management and prevention of chronic obstructive

pulmonary disease: an Asia-Pacific perspective Respirology;

1:9-17

treatment of patients with COPD: a summary of the ATS/ERS position paper Eur Respir J; 23: 932 -946

Wide: Epidemiology and incidence, Chest; 117: 1S – 4S

disease deaths in the United States from 1979 through 1993,

An analysis using multiple - cause mortality data Am J Respir Crit Care Med;156: 814 – 8

Obstructive lung disease and low lung function in adults in the United States: Data from the National Health and Nutrition Examination Survey 1988 – 1994 Arch Intern Med;160:1683 – 9

Platino Project - Methodology of a multicenter prevalence survey of chronic obstructive pulmonary disease in major Latin American cities BMC Medical Research Methodology; 4: 15

relation of chronic diseases to all cause mortality risk – The seven countries study Ann Med; 29: 135 – 1

policy - Lessons from the Global Burden of Disease Study Science; 274: 740 – 3

Disease: A comprehensive assessment of mortality and disability from diseases, injuries and risk factors in 1990 and projected to 2020 Harvard University Press; Cambridge

Organization (2001) Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD) Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease National Heart, Lung and Blood Institute; Publication No.01-2701 Washington DC (update 2007)

Phổi tắc Nghẽn mạn tính tại thành phố Hà Nội, Y học thực hành, 513: 69 – 74

BPTNMT ở cộng đồng dân cư một số phường tại hai quận Đống Đa và Thanh Xuân- Hà Nội Luận văn thạc sĩ Y học- Đại học Y Hà Nội

obstructive pulmonary disease (COPD) prevalence in 12 Asia – Pacific countries and regions Respirology; 8: 192 – 198

Ngày đăng: 20/01/2020, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm