1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị rối loạn chức năng van cơ học do huyết khối bằng thuốc tiêu sợi huyết

7 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 394,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày dựa trên cơ sở: Điều trị huyết khối van cơ học bằng thuốc tiêu sợi huyết là một phương cách điều trị thay thế cho phẫu thuật, tuy nhiên cách điều trị này vẫn chưa được thống nhất vì nguy cơ gây biến chứng nặng.

Trang 1

DO HUYẾT KHỐI BẰNG THUỐC TIÊU SỢI HUYẾT 

Lê Thị Đẹp*, Phạm Nguyễn Vinh** 

TÓM TẮT 

Cơ  sở  nghiên  cứu: Điều trị huyết khối van cơ học bằng thuốc tiêu sợi huyết là một phương cách điều trị

thay thế cho phẫu thuật, tuy nhiên cách điều trị này vẫn chưa được thống nhất vì nguy cơ gây biến chứng nặng

Mục tiêu – phương pháp: Hồi cứu kết quả điều trị tiêu sợi huyết cho 30 bệnh nhân rối loạn chức năng van

cơ học do huyết khối tại Viện Tim trong thời gian 2004 ‐ 2011 Có 28 trường hợp sử dụng streptokinase và 2 trường hợp sử dụng rt‐PA Kết quả điều trị được đánh giá qua thay đổi các thông số huyết động học của siêu âm tim và diễn biến lâm sàng

Kết quả: Thành công hoàn toàn về mặt huyết động và lâm sàng là 26 trường hợp, thành công không hoàn

toàn 2 trường hợp, thất bại 2 trường hợp Có hai bệnh nhân bị chảy máu nặng, một choáng phản vệ và một có cơn thoáng thiếu máu não Không có tử vong hay tai biến mạch máu não Có 2 trường hợp tái phát huyết khối cũng được điều trị bằng tiêu sợi huyết

Kết luận: Kết quả trên cho thấy tiêu sợi huyết là phương pháp điều trị hiệu quả trong hầu hết các trường

hợp huyết khối gây rối loạn chức năng van cơ học, không có sự liên quan đến loại van và vị trí huyết khối Các biến chứng thuyên tắc, chảy máu hay tử vong xảy ra với tỷ lệ thấp, do đó phương pháp này có thể được xem là khởi đầu cho các bệnh nhân không có chống chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết

Từ khóa: Van cơ học, thuốc tiêu sợi huyết

ABSTRACT 

FIBRINOLYSIC TREATMENT OF MECHANICAL PROSTHETIC VALVE DYSFUNCTION

BY THROMBOSIS

Le Thi Dep, Pham Nguyen Vinh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 79 ‐ 

85 

Background: Fibrinolysis treatment of prosthetic heart valve dysfunction by thrombosis represents an

alternative to surgery, but is still controversial because of the risk of embolism

Objective: This study was designed to analyze the results of fibrinolysis treatment in Vien Tim of patients

with prosthetic heart valve dysfunction by thrombosis

Method: A total of 30 consecutive patients presenting prosthetic heart valve thrombosis received fibrinolysis

treatment between 2004 and 2011 The diagnosis of prosthetic heart valve thrombosis was established mainly by echocardiography and/or fluoroscopy Streptokinase was used in 28 cases, rt‐PA was used in 2 cases The efficacy

of fibrinolysis was assessed from hemodynamic parameters derived from echographic examinations as well as on clinical grounds

Results: Completed resolution of hemodynamic abnormalities was seen in 26 patients, partial resolution in

2 patients and no change in 2 patients Severe hemorrhagic complications were observed in two patients, anaphylaxis shock in one, one documented transient ischemic attack and none died Prosthetic heart valve thrombosis recurred in 2 patients and they all were retreated with lytic agent

Conclusions: These results indicate that fibrinolysis treatment is effective in most cases of prosthetic heart

* Viện Tim Tp HCM  ** Bệnh viện Tâm Đức, Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  

Tác giả liên lạc: BSCKI. Lê Thị Đẹp Email: dep.lethi@yahoo.com ‐ ĐT: 098 2844 985

Trang 2

valve thrombosis, regardless of prosthesis or site involved Embolism, hemorrhage, and death were not common after lytic therapy of left‐site prosthetic heart valve thrombosis, therefore it should be considered as the first line of treatment for patients without contraindications

Keywords: Mechanical prosthetic, Thrombosis

MỞ ĐẦU 

Phẫu thuật thay van tim cơ học đã được áp 

dụng rộng rãi và thành công trong điều trị bệnh 

lý van tim do hậu thấp hay thoái hóa v.v  mặc 

dù đã có nhiều cải tiến trong việc chế tạo van để 

giảm sự sinh huyết khối, nhưng các báo cáo gần 

đây vẫn cho thấy tỷ lệ huyết khối trên van nhân 

tạo còn cao, thay đổi từ 0,1% đến 4% / năm, tùy 

theo  vị  trí  của  van,  lọai  van  và  quá  trình  dùng 

thuốc kháng đông đầy đủ hay không(3,6).  

Điều  trị  huyết  khối  gây  rối  loạn  chức  năng 

van  cơ  học  bao  gồm  phẫu  thuật  giải  phóng 

huyết khối hoặc thay van, phương pháp này chỉ 

có thể thực hiện tại một số trung tâm với chi phí 

điều trị rất cao kèm với tỷ lệ bệnh tật và tử vong 

cũng cao: 4.5% đến 20%(9). Thuốc tiêu sợi huyết 

cũng  đã  được  sử  dụng  cho  những  trường  hợp 

này,  nhưng  nhiều  tác  giả  vẫn  e  ngại  các  biến 

chứng tử vong và tai biến mạch máu não nặng 

nề liên quan đến việc dùng thuốc(1,2).  

Viện Tim Tp HCM bắt đầu phẫu thuật thay 

van tim cơ học từ năm 1992, chủ yếu là thay van 

hai  lá  và  van  động  mạch  chủ.  Biến  chứng  tắc 

nghẽn  van  do  huyết  khối  cũng  đã  được  xử  trí 

bằng thuốc tiêu sợi huyết và phẫu thuật. Trong 

nghiên cứu này chúng tôi thu thập, phân tích số 

liệu những bệnh nhân bị rối loạn chức năng van 

cơ  học  do  huyết  khối  đã  được  điều  trị  bằng 

thuốc tiêu sợi huyết tại Viện Tim Tp HCM trong 

giai đọan từ 4/2004 – 6/2011 để đánh giá thêm về 

hiệu quả và tính an toàn của phương cách điều 

trị này.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Hồi cứu các trường hợp rối loạn chức năng 

van  cơ  học  do  huyết  khối  đã  được  điều  trị  tại 

Viện  Tim  bằng  thuốc  tiêu  sợi  huyết  trong 

khoảng thời gian từ 2004 đến 2011. Loại trừ các 

trường hợp huyết khối được phẫu thuật điều trị, 

huyết khối do viêm nội tâm mạc hoặc do dây xơ 

dày dính. 

Các  số  liệu  về  dịch  tễ  học,  các  yếu  tố  nguy 

cơ,  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng,  kết  quả  điều  trị  và  biến chứng được ghi nhận thống kê‐ phân tích. 

Sử  dụng  phép  kiểm  phi  tham  số  Sign  Test  (phần  mềm  STATA  10)  để  phân  tích  thông  số  huyết động trước và sau điều trị.  

Phác đồ dùng thuốc tiêu sợi huyết tại Viện  Tim: 

Streptokinase được lựa chọn hàng đầu. Liều  tấn  công  có  thể  có  hoặc  không:  250.000  đơn  vị  truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Liều dùng duy  trì thứ nhất là 1.500.000 đơn vị truyền tĩnh mạch  trong  10  giờ.  Nếu  chưa  đạt  hiệu  quả,  có  thể  dùng liều thứ hai. Đối với trẻ em, liều tấn công 

2000 đơn vị/ kg, liều duy trì 1200 đơn vị/ giờ. Rt‐

PA (Actilyse) là thuốc lựa chọn thứ hai. Liều tấn  công  10mg,  sau  đó  90  mg  truyền  tĩnh  mạch  trong  90  phút  hay  trong  3  giờ.  Không  sử  dụng  Heparin đi kèm. 

Điều  trị  kháng  đông  sau  dùng  thuốc  tiêu  sợi huyết  

Heparin truyền tĩnh mạch được bắt đầu sau  khi  ngưng  thuốc  tiêu  sợi  huyết  và  fibrinogen  >  0,5 g/l. Liều Heparin được chỉnh sau cho TCK =  1,5 – 2 lần chứng ít nhất 48 giờ, sau đó chuyển  sang  thuốc  kháng  đông  đường  uống  Sintrom  hay Coumadin, ngưng truyền Heparin khi INR  đạt 3.5‐4.5. Aspirin liều thấp 80‐100 mg phối hợp  với Sintrom hay Coumadin duy trì sau đó.  

Đánh giá kết quả 

Đánh  giá  kết  quả  của  thuốc  tiêu  sợi  huyết  dựa  vào  diễn  tiến  lâm  sàng  ‐  siêu  âm  tim  qua  thành  ngực:  được  thực  hiện  mỗi  3‐4  giờ  trong  suốt thời gian truyền thuốc tiêu sợi huyết – siêu 

âm tim qua thực quản: được thực hiện sau 24 – 

48 giờ nếu cần và tình trạng bệnh nhân ổn định  – soi van dưới màn huỳnh quang tăng sáng thực  hiện sau 24 giờ. 

Trang 3

‐  Thành  công  hoàn  toàn:  huyết  động  trở  về 

bình thường. Soi van các đĩa van cử động bình 

thường.  Siêu  âm  tim  qua  thành  ngực  và  thực 

quản cho thấy độ chênh áp trở về bình thường, 

diện  tích  chức  năng  bình  thường,  cử  động  van 

bình thường. 

‐  Thành  công  một  phần:  lâm  sàng  ổn  định 

hơn, nhưng trên soi van, siêu âm tim qua thành 

ngực  và  thực  quản  vẫn  còn  thấy  hạn  chế  cử 

động của đĩa van và huyết khối. 

‐ Thất bại: lâm sàng không cải thiện, các biến 

chứng xuất huyết hay thuyên tắc hệ thống nặng, 

tử vong. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong  khoảng  thời  gian  trên,  có  30  trường 

hợp  rối  loạn  chức  năng  van  cơ  học  do  huyết 

khối được điều trị bằng tiêu sợi huyết, trong đó 

có 27 nữ (90%) và 3 nam (10%), tuổi trung bình 

là 42 ± 9 (từ 25 đến 60 tuổi). Thời gian trung bình 

từ lúc thay van đến lúc tắc nghẽn van do huyết 

khối là: 4,8 ± 3,6 năm (trong khoảng 25 ngày‐ 14 

năm) 

Van hai lá cơ học 28 trường hợp (93,3%), van 

động mạch chủ: 2 trường hợp (6,7%). Chỉ có 13 

trường  hợp  không  tuân  thủ  đầy  đủ  điều  trị 

kháng đông tại thời điểm chẩn đoán huyết khối 

van cơ học.  

Bệnh cảnh lâm sàng lúc nhập viện: 

1.  Hoàn cảnh lâm sàng lúc nhập viện: Chỉ có 

3  bệnh  nhân  nhập  viện  cấp  cứu  vì  triệu  chứng 

tắc  nghẽn  van  (10%),  15  bệnh  nhân  có  triệu 

chứng  nghi  ngờ  đi  khám  bệnh  và  phát  hiện 

huyết  khối  van  cơ  học  (50%).  Còn  lại  13  bệnh 

nhân hoàn toàn không có triệu chứng, chỉ phát 

hiện khi đi khám bệnh định kỳ.  

2.  Nghe  tim:  Khi  nghe  tim,  chỉ  có  4  bệnh 

nhân  (13%)  mất  hoàn  tiếng  click  van  cơ  học,  6 

bệnh nhân (20%) tiếng click mờ, 20 bệnh nhân có 

tiếng click còn rõ (67%).  

3.  Tiền căn và các yếu tố thuận lợi gây huyết 

khối: Có 4 bệnh nhân có tiền căn huyết khối van 

cơ học. Tỷ lệ các yếu tố thuận lợi gây huyết khối:  tiền  căn  ung  thư:  2  (6,7%),  có  thai  1  (3.3%),  ngưng  thuốc  hoàn  toàn  6  (20%),  uống  thuốc  không  đều  7  (23%).  Có  14  bệnh  nhân  (47%)  có  kèm theo rung nhĩ, chỉ số INR lúc nhập viện 2,51 

± 0,92. 

4.   Phân độ NYHA khi nhập viện: Chỉ có 1  trường  hợp  nhập  viện  cấp  cứu  NYHA  IV,  50%  các  trường  hợp  có  NYHA  II  và  III,  30%  các  trường hợp NYHA 0.  

Phương pháp chẩn đoán 

Có  19  (63%)  bệnh  nhân  được  siêu  âm  tim  qua thực quản nhưng chỉ phát hiện được huyết  khối ở 30% các trường hợp, diện tích huyết khối 

đo được trung bình là 36,68 mm2.   Bệnh  nhân  được  soi  van  dưới  màn  huỳnh  quang  tăng  sáng  là  26  chiếm  87%.  Tất  cả  đều  phát  hiện  bất  thường  hoạt  động  các  đĩa  van,  trong đó tắc nghẽn một đĩa van là 16 trường hợp  (62%) , tắc nghẽn 2 đĩa van là 10 (38%) .  

Sử dụng thuốc tiêu sợi huyết 

Chỉ  có  hai  trường  hợp  dùng  thuốc  tiêu  sợi  huyết rt‐PA, 28 trường hợp dùng Streptokinase  với liều dùng dưới đây:  

1.5 M 

2 M 

2 M

3 M

Biểu đồ1: Liều streptokinase sử dụng

Kết quả lâm sàng 

Thành  công  hoàn  toàn  có  21  trường  hợp  (87%).  

Thành  công  một  phần  có  2  trường  hợp:  (6,5%). Trong đó có 1trường hợp bệnh nhân tắc  nghẽn  van  lần  thứ  2,  sử  dụng  rt‐PA  100  mg,  nhưng  không  cải  thiện  hòan  tòan,  bệnh  nhân  được phẫu thuật thay van sau đó 1 tháng. 

Trang 4

huyết động qua van không thay đổi (6,5%). 

Trường  hợp  thất  bại  thứ  1:  phải  ngưng 

truyền  Streptokinase  liều  thứ  2  vì  bệnh  nhân 

đau lưng, đau đầu, nôn không chịu được, bệnh 

nhân  có  huyết  động  học  không  đổi,  tuy  lâm 

sàng  ổn.  Bệnh  nhân  này  được  phẫu  thuật  thay 

van sau đó 1,5 năm. Trường hợp thất bại thứ 2: 

không  thay  đổi  huyết  động  qua  van  sau  khi 

truyền  streptokinase  3  triệu  đơn  vị,  bệnh  nhân 

được  phẫu  thuật  sau  đó  2  tháng  (phát  hiện 

pannus và huyết khối trên van).  

Thời gian truyền thuốc đến khi đạt hiệu quả: 

0

2

4

6

8

10

12

14

16

rt‐PA

3 M

2 M 1.5 M

Biểu đồ 2: Liều lượng và thời gian đạt hiệu quả điều

trị

Thay đổi huyết động: 

Ba thông số:  độ  chênh  áp  tối  đa  trung  bình 

qua van, độ chênh áp trung bình trung bình qua 

van và áp lực động mạch phổi tâm thu sau khi 

dùng thuốc đều giảm có ý nghĩa thống kê so với 

trước khi dùng thuốc (bằng phép kiểm phi tham 

số Sign test). 

Tác dụng phụ của thuốc 

Tác  dụng  phụ  thường  gặp  nhất  của 

Streptokinase là sốt chiếm 23%, nhức đầu 6,7%, 

nôn nhiều 3,3%. 

Tai biến ‐ biến chứng 

Không  có  trường  hợp  nào  tử  vong  do  biến 

chứng của dùng thuốc hay do thuyên tắc huyết 

khối. Các biến chứng khác: choáng phản vệ, cơn 

thoáng  thiếu  máu  não,  chảy  máu  đùi  và  xuất 

huyết  nội.  Mỗi  biến  chứng  gặp  1  trường  hợp  (chiếm 13%) 

Huyết khối tái phát: 

Trong 30 bệnh nhân nhập viện điều trị huyết  khối  gây  rối  loạn  chức  năng  van  cơ  học  trong  khoảng thời gian trên, chúng tôi có 2 trường hợp  huyết khối tái phát lần thứ hai được điều trị với  tiêu sợi huyết chỉ có một trường hợp thành công,  một chuyển phẫu thuật sau đó. 

BÀN LUẬN 

Biến chứng thuyên tắc do huyết khối thường  xuyên đe dọa những bệnh nhân được thay van 

cơ học, dạng nguy hiểm và nặng nề  nhất  đó  là  huyết khối được hình thành tại van cơ học do có  thể  gây  kẹt  van  dẫn  đến  tử  vong,  vì  vậy  chẩn  đoán sớm biến chứng này rất quan trọng để có  được chế độ điều trị tối ưu.  

Qua  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  đúc  kết  lại  kết quả điều trị rối loạn chức năng van cơ học do  huyết  khối  bằng  thuốc  tiêu  sợi  huyết  tại  Viện  Tim  trong  giai  đoạn  từ  năm  2004‐  2011  với  30  trường hợp,  

Chẩn  đoán  huyết  khối  gây  rối  loạn  chức  năng van cơ học  

Có  rất  nhiều  yếu  tố  có  thể  thúc  đẩy  hình  thành  huyết  khối  van  cơ  học,  nhưng  quan  trọng nhất đó là không tuân thủ chế độ điều trị  kháng đông kéo dài. Trong nghiên cứu này có 

13 trường hợp không tuân thủ chế độ điều trị  tại thời điểm chẩn đoán, chiếm tỷ lệ 33%, trong 

đó có 6 bệnh nhân ngưng thuốc hoàn toàn và 7  bệnh nhân uống thuốc không đều. Các yếu tố  thúc đẩy khác gây hình thành huyết khối đó là  rung  nhĩ  14%  (47%),  tiền  căn  ung  thư  2  và  mang  thai  1.  Chỉ  số  INR  trung  bình  lúc  nhập  viện 2,51 ± 0,92. 

Chúng tôi thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân bị rung  nhĩ  chiếm  tỷ  lệ  khá  cao  lên  đến  47%,  tương  đương số liệu phân tích tổng hợp trên 904 bệnh  nhân của tác giả Esteban cũng là 41%(4). 

Trong  tất  cả  các  nghiên  cứu  đều  có  những  điểm tương đồng đó là tỷ lệ huyết khối van cơ 

Trang 5

lá,  điều  này  có  thể  giải  thích  do  yếu  tố  cơ  địa 

phối hợp và áp lực qua van hai lá thấp hơn van 

động mạch chủ(5). 

Bệnh  cảnh  lâm  sàng  của  huyết  khối  van  cơ 

học  được  xác  định  rõ.  Khi  huyết  khối  gây  kẹt 

van thì diễn tiến lâm sàng chuyển biến xấu đi rất 

nhanh và đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, một số 

lớn  bệnh  nhân  không  thấy  triệu  chứng  gì  hoặc 

chỉ là có dấu hiệu của suy tim sung huyết và đau 

ngực diễn tiến dần dần trong vài tuần trước khi 

gây ra bệnh cảnh trở nên nặng nề. Chúng tôi có 

3  bệnh  nhân  (10%)  nhập  viện  với  triệu  chứng 

của kẹt van có phù phổi cấp, 15 bệnh nhân (50%) 

có triệu chứng nghi ngờ như khó thở, đau ngực 

đi  khám  bệnh,  còn  lại  là  không  triệu  chứng 

(40%) phát hiện tình cờ qua thăm khám và siêu 

âm tim.  

Siêu  âm  tim  được  xem  như  là  phương  tiện 

chẩn  đoán  giá  trị  cho  huyết  khối  van  cơ  học  1 

đĩa hay 2 đĩa nghiêng của van 2 lá vì thực hiện 

dễ dàng và có thể làm nhiều lần. Trong trường 

hợp huyết khối to, thì bằng chứng trên siêu âm 

này  là  chẩn  đoán  xác  định,  nhưng  trường  hợp 

huyết  khối  nhỏ  thì  siêu  âm  khó  hơn  và  có  thể 

cần  phải  so  sánh  với  kết  quả  cũ.  Khi  siêu  âm 

những trường hợp này thì sẽ tốn nhiều thời gian 

hơn để xác định sự giảm cử động từng lúc của 

đĩa van hoặc góc mở tù, sự giảm mức độ đóng 

mở của van cơ học so với tình trạng sau mổ. Tất 

cả  những  trường  hợp  này  chúng  tôi  đều  thực 

hiện chẩn đoán qua siêu âm thành ngực, những 

trường hợp không có triệu chứng chúng tôi vẫn 

phát hiện được huyết khối qua những lần khám 

bệnh siêu âm định kỳ và do đó can thiệp điều trị 

giúp  ngăn  chặn  nguy  cơ  biến  chứng  nặng  trên 

tim mạch.  

Siêu  âm  tim  qua  thực  quản  được  áp  dụng 

cho những trường hợp lâm sàng và huyết động 

ổn định. Trong nhóm này chỉ có 19 trường hợp 

được  thực  hiện  siêu  âm  thực  quản  chiếm  63%, 

nhưng  tỷ  lệ  phát  hiện  huyết  khối  qua  phương 

cách  này  chỉ  có  30%  các  trường  hợp.Tỷ  lệ  này 

thấp  hơn  hẳn  với  các  tác  giả  khác  khi  họ  thấy 

rằng  siêu  âm  qua  thực  quản  có  mức  độ  chẩn  đoán chính xác gần 100%(5).  

Chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết: 

Theo khuyến cáo của JACC, thuốc tiêu sợi  huyết được chấp thuận cho những bệnh nhân 

bị huyết khối van cơ học tim trái với tình trạng  nguy kịch như NYHA III‐IV hay có chống chỉ  định  phẫu  thuật,  những  bệnh  nhân  này  có  tỷ 

lệ  tử  vong  do  phẫu  thuật  rất  cao(7).  Lý  do  không  thực  hiện  điều  trị  tiêu  sợi  huyết  trong  nhóm bệnh nhân NYHA I‐II là do lo ngại biến  chứng thuyên tắc mạch có thể có tỷ lệ đến 12‐ 17% khi dùng tiêu sợi huyết. Tuy nhiên trong  nghiên cứu của chúng tôi thì có sự ưu tiên lựa  chọn  dùng  tiêu  sợi  huyết  cho  những  bệnh  nhân NYHA I và II. 

Nguyên  tắc  điều  trị  tại  Viện  Tim  Tp  Hồ  Chí Minh 

‐  Huyết  khối  van  cơ  học  tim  phải:  tiêu  sợi  huyết là thuốc sử dụng hàng đầu 

‐  Huyết  khối  van  cơ  học  tim  trái:  Phẫu  thuật  được  lựa  chọn  cho  những  trường  hợp  huyết  khối  van  tắc  nghẽn  mãn  tính  kéo  dài  hoặc  tắc  nghẽn  trong  thời  kỳ  hậu  phẫu.  Tuy  nhiên,  thuốc  tiêu  sợi  huyết  được  đề  nghị  cho  những  trường  hợp  bệnh  nhân  có  bệnh  cảnh  lâm  sàng  nặng  nề  có  tắc  nghẽn  cấp  tính  mà  không  thể  phẫu  thuật  ngay  được,  hoặc  chống  chỉ định phẫu thuật như: cung lượng tim thấp,  suy  hô  hấp,  phẫu  thuật  lại.  Ngoài  ra  tiêu  sợi  huyết  cũng  còn  được  chỉ  định  trong  trường  hợp  lâm  sàng  ổn  định  mà  siêu  âm  tim  qua  thực quản loại trừ huyết khối to van cơ học.  

Kết quả sử dụng thuốc tiêu sợi huyết trong  điều trị huyết khối gây rối loạn chức năng  van cơ học 

Thành công hoàn toàn trong nghiên cứu của  chúng tôi được ghi nhận là 87%, thành công một  phần là 6,5% và thất bại là 6,5%.  

Khi dùng tiêu sợi huyết, Roudaut báo cáo tỷ 

lệ thành công cao ở van động mạch chủ hơn van  hai  lá.  Vài  tác  giả  khác  thấy  kẹt  van  hai  đĩa  nghiêng  dễ  thành  công  hơn  khi  dùng  tiêu  sợi 

Trang 6

huyết,  có  thể  giải  thích  được  là  do  van  2  đĩa 

nghiêng  chỉ  có  thể  hình  thành  huyết  khối  nhỏ 

hơn  van  một  đĩa  nghiêng(12).  Trong  nghiên  cứu 

này chúng tôi chỉ có 97% bệnh nhân van hai lá, 

chỉ có 3% kẹt van động mạch chủ, hơn 80% van 

hai  đĩa  do  Viện  Tim  chỉ  áp  dụng  loại  van  này 

trong thay van nên không thể so sánh hiệu quả 

điều trị giữa các loại van khác được.  

Kích  thước  huyết  khối  cũng  có  tiên  lượng 

đến  sự  thành  công  của  thuốc  tiêu  sợi  huyết, 

đường kính huyết khối đo được < 5mm hay diện 

tích < 0,8 cm2 giúp dự đoán thành công của điều 

trị(13).  Chúng  tôi  có  22  trường  hợp  (73%)  ghi 

nhận  kích  thước  của  huyết  khối,  nhưng  50% 

trong số này có đường kính huyết khối nhỏ hơn 

5mm, kích thước lớn nhất của huyết khối là 1,2 

cm2  nhưng  vẫn  được  điều  trị  thành  công.  Hai 

trường hợp thành công một phần có đường kính 

huyết  khối  7mm,  những  trường  hợp  này  được 

ghi  nhận  là  có  dày  dính  và  dây  xơ  kèm  theo 

huyết  khi  khi  phẫu  thuật.  Trường  hợp  thất  bại 

không  được  ghi  nhận  kích  thước  huyết  khối 

nhưng  đã  dùng  đến  liều  điều  trị  tối  đa  3M 

streptokinase.  

Chúng  tôi  đạt  thành  công  với  liều  1.5M 

streptokinase trong 80% các trường hợp, chỉ có 

5% là dùng đến liều 3M, trong đó có 1 trường 

hợp thất bại hoàn toàn. Thời gian đạt hiệu quả 

điều trị trong vòng 24 giờ chiếm 70%, với mọi 

trường  hợp  chúng  tôi  đều  thực  hiện  việc 

truyền  streptokinase  chậm  trong  10  giờ  với 

liều đầu tiên 1,5M.  

Có  13  trường  hợp  phát  hiện  huyết  khối  có 

gây  rối  loạn  chức  năng  van  cơ  học  ,  dù  bệnh 

nhân không có triệu chứng lâm sàng nhưng vẫn 

được  điều  trị  tiêu  sợi  huyết  và  những  trường 

hợp  này  đều  cho  kết  quả  thành  công  100%. 

Chúng  tôi  cho  rằng  điều  trị  huyết  khối  các 

trường hợp không biểu hiện lâm sàng sớm giúp 

ngăn  ngừa  biến  chứng  nặng  và  có  tỷ  lệ  thành 

công  cao.  Kích  thước  huyết  khối  nhỏ  và  không 

có  những  thoái  hóa  khác  đi  kèm  theo  như 

pannus  giúp  bảo  đảm  thành  công  khi  điều  trị 

huyết khối. 

Sự an toàn thuốc tiêu sợi huyết trong điều  trị huyết khối van cơ học 

Do  không  có  công  thức  chuẩn  cho  thuốc  tiêu sợi huyết trong điều trị huyết khối van cơ  học,  với  những  liều  lượng  khác  nhau  được  truyền  trong  những  khoảng  thời  gian  khác  nhau  cho  nên  việc  so  sánh  kết  quả  không  thể  thực hiện được. 

Tỷ  lệ  các  biến  chứng  trong  nghiên  cứu  của  chúng tôi thì cũng nằm trong khoảng chung của  phần lớn các nghiên cứu khác. Biến chứng xuất  huyết gặp nhiều hơn cả với 2 trường hợp 6,7%,  nhưng  không  có  trường  hợp  nào  bị  xuất  huyết  não  (chỉ  xuất  huyết  ổ  bụng  và  đùi).  Chúng  tôi  chỉ có một trường hợp theo dõi cơn thoáng thiếu  máu  não  thoáng  qua,  mà  không  bị  đột  quỵ.  Ozcan  nhận  định  rằng  biến  chứng  thuyên  tắc  thường  gặp  khi  sử  dụng  phương  pháp  truyền  nhanh cho điều trị những huyết khối cố định và  tắc nghẽn(10).  

Trong  khuyến  cáo  sử  dụng  thuốc  tiêu  sợi  huyết  gần  đây,  dựa  vào  một  trường  hợp  thuyên tắc mạch sau khi truyền nhanh trong 3  giờ  tPA  nên  đã  đưa  ra  chống  chỉ  định  tương  đối  cho  những  trường  hợp  huyết  khối  van  cơ  học to ở nhĩ trái. Trong báo cáo của Manteiga 

có  3  trường  hợp  thuyên  tắc  mạch  trong  10  trường hợp (33%) có huyết khối to tim trái khi  truyền  nhanh  streptokinase  1,5M  trong  90  phút(7).  Những  chứng  cứ  trên  cho  thấy  khả  năng  gây  biến  chứng  thuyên  tắc  khi  truyền  tiêu sợi huyết với tốc độ nhanh(9).  

Hiểu  biết  được  những  yếu  tố  dự  đoán  thuyên tắc hệ thống thì rất quan trọng bởi vì đây 

rõ  ràng  là  điểm  yếu  nhất  trong  điều  trị  huyết  khối bằng tiêu sợi huyết. Số liệu của đề tài này  thì không nhiều, Reddy đã công bố số lượng lớn  các  trường  hợp  thì  thấy  rằng  rung  nhĩ  và  tuổi  cao là những yếu tố nguy cơ gây nên biến chứng  thuyên tắc mạch(11). Nhưng Roudaut lại cho rằng  tình trạng lâm sàng NYHA IV là yếu tố duy nhất 

dự đoán biến chứng thuyên tắc mạch và kể cả tử  vong  trong  điều  trị(12).  Nhưng  người  ta  vẫn  không  biết  được  điều  này  có  phải  là  thứ  phát 

Trang 7

chọn  bệnh  nhân  để  áp  dụng  điều  trị  tiêu  sợi 

huyết tại Viện Tim thì chúng tôi không chọn lựa 

những trường hợp huyết khối có kích thước quá 

to,  và  chúng  tôi  hoàn  toàn  không  áp  dụng  chế 

độ  truyền  nhanh  streptokinase  mà  chỉ  truyền 

chậm trong 10 giờ, có thể điều này giúp hạn chế 

được biến chứng thuyên tắc mạch do những cục 

huyết  khối  nhỏ  bóc  tách  ra  từ  huyết  khối  lớn. 

Chúng tôi chỉ gặp biến chứng xuất huyết nhưng 

không  phải  là  xuất  huyết  não  và  không  có 

trường hợp tử vong nào.  

Tỷ lệ biến chứng thấp và không có các biến 

chứng nặng đe dọa tính mạng trong nghiên cứu 

này  có  thể  được  giải  thích  là  do  sự  lựa  chọn 

những bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng không 

quá  nguy  kịch  và  cách  truyền  thuốc  tiêu  sợi 

huyết chậm, theo dõi đáp ứng điều trị sát sao.  

KẾT LUẬN 

Dù là bệnh hiếm gặp nhưng vì là bệnh viện 

chuyên khoa tim mạch và theo dõi trong khoảng 

thời gian khá dài chúng tôi chỉ tổng hợp được 30 

trường  hợp  huyết  khối  gây  rối  loạn  chức  năng 

van cơ học đã được điều trị bằng thuốc tiêu sợi 

huyết.  Phương  pháp  đã  cho  thấy  hiệu  quả  về 

mặt lâm sàng khi có tỷ lệ thành công hoàn toàn 

87%, thành công này đi kèm với hiệu quả kinh tế 

vì chi phí cho điều trị cũng không quá cao nếu 

so  với  phẫu  thuật.  Những  bệnh  nhân  đã  được 

điều trị tiêu sợi huyết đủ liều mà vẫn không đáp 

ứng điều trị đầy đủ nhưng có thể giúp cải thiện 

một phần huyết động và triệu chứng lâm sàng , 

do  vậy  những  bệnh  nhân  này  có  thể  được  thu 

xếp  điều  trị  ngoại  khoa  thời  gian  ngắn  sau  đó 

nếu  không  có  chống  chỉ  định  và  nguy  cơ  phẫu 

thuật sẽ thấp hơn nhiều. 

Tai biến biến chứng của phương pháp xảy ra 

với tỷ lệ thấp 13%, tất cả đều được theo dõi và 

điều chỉnh thành công bằng nội khoa. Không có 

những biến chứng nặng đe dọa tính mạng. 

Chính vì lẽ đó chúng tôi nghĩ rằng thuốc tiêu 

sợi huyết nên được xem là phương cách điều trị 

đầu  tay  cho  những  trường  hợp  huyết  khối  gây  nghẽn  van  cơ  học  –  không  liên  quan  đến  vị  trí  van ‐ nếu không có chống chỉ định sử dụng và  không loại trừ những trường hợp có NYHA III‐

IV và nên dùng với phương cách truyền chậm. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Auristele IOR et al (2003) Fibrinolytic Therapy for Thrombosis 

in  Cardiac  Valvular  Prosthesis  Short  ang  Long  Term  Results.  Araq Bras Cardiol, volume 81 (no4), 393‐8 

2 Cannegieter  SC,  Rosendaal  FR.  (1994)  Thromboembolic  and  bleeding complications in patients with mechanical heart valve  prostheses. Circulation, 89, pp. 635–641 

3 Deviri  E,  Sareli  P,  Wisenbaught  T,  Cronje  S.  Obstruction  of  mechanical heart valve prostheses: clinical aspects and surgical  management. J Am Coll Cardiol 1991;17:646‐50.  

4 Reyes‐Cerezo  E,  Jerjes‐Sánchez  C,  et  al  (2008)  Fibrinolytic  therapy in left side‐prosthetic valve acute thrombosis. In depth  systematic review. Arch Cardiol Mex 78(3):309‐17  

5 Kaul  U,  Sanghvi  S,  Kamlakar  T,  et  al  (1992)  Thrombolytic  therapy for prosthetic valve thrombosis: a study based on serial  Doppler  echocardiographic  evaluation.  Am  Heart  J.  1992  Jun;123(6):1575‐80. 

6 Kurzrok S, Singh AK, Most A, William DO (1987) Thrombolytic  therapy  for  prosthetic  cardiac  valve  thrombosis.  J  Am  Coll  Cardiol 1987; 9:592‐8.  

7 Lengyel  et  al  (1997)  Guidelines  for  Management  of  Left‐Sided  Prosthetic Valve Thrombosis: A Role for Thrombolytic Therapy. 

J Am Coll Cardiol 1997; 30:1521‐6. 

8 Manteiga  R,  Souto  JC,  Altes  A,  et  al  (1998)  Short‐course  thrombolysis  as  the  first  line  of  therapy  for  cardiac  valve  thrombosis. J Thorac Cardiovasc Surg. 1998; 115:780–784. 

9 Dürrleman  N,  Pellegrin  M  et  al  (2004)  Prosthetic  valve  thrombosis:  Twenty‐year  experience  at  the  Montreal  Heart  Institute. J Thorac Cardiovasc Surg 2004; 127:1388‐92. 

10 Ozcan  M,  Kaymaz  C,  Kirma  C,  et  al  (2000)  Intravenous  thrombolytic  treatment  of  mechanical  prosthetic  valve  thrombosis:  a  study  using  serial  transesophageal  echocardiography. J Am Coll Cardiol; 35:1881–1889. 

11 Reddy  NK,  Padmanabhan  TNC,  Singh  S,  et  al  (1994)  Thrombolysis  in  left‐sided  prosthetic  valve  occlusion:  immediate  and  follow‐up  results.  Ann  Thorac  Surg.  1994;58:462–471 

12 Roudaut  R,  Labbe  T,  Lorient‐Roudaut  MF,  et  al  (1992)  Mechanical  cardiac  valve  thrombosis:  Is  fibrinolysis  justified?  Circulation 1992;86(Suppl):II8‐15. 

13 Whitlock  RP,  Sun  JC,  Fremes  SE,  et  al  (2012)  Antithrombotic  therapy for valvular heart disease, 9th ed: American College of  cheast  Physicans  evidence‐  based  clinical  practice  guidelines.  Chest;141:e576S‐e600S. 

Ngày nhận bài báo 10‐06‐2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25‐07‐2013 Ngày bài báo được đăng: 25–09-2013 

Ngày đăng: 20/01/2020, 20:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w