1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm các trường hợp đau bụng mạn được nội soi tiêu hóa trên tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2012-2013

6 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 328,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, kết quả nội soi và giải phẫu bệnh của những trẻ đau bụng mạn được chỉ định nội soi tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trong thời gian từ 1/7/2012-1/7/2013. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CÁC TRƯỜNG HỢP ĐAU BỤNG MẠN   ĐƯỢC NỘI SOI TIÊU HÓA TRÊN TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1  

TỪ NĂM 2012 – 2013 

Nguyễn Thị Hồng Ngọc * , Nguyễn Anh Tuấn** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Xác định đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, kết quả nội soi và giải phẫu bệnh của những trẻ đau 

bụng mạn được chỉ định nội soi tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trong thời gian từ 1/7/2012 – 1/7/2013. 

Phương pháp: Mô tả hàng loạt ca. Tất cả bệnh nhi tuổi từ 4 – 15 tuổi, được chỉ định nội soi tiêu hóa trên có 

dấu hiệu cảnh báo nghi tổn thương đường tiêu hóa trên, tại phòng nội soi bệnh viện Nhi Đồng 1. Những trẻ này 

sẽ được khai thác tiền sử bản thân và gia đình, sau đó sẽ được nội soi và làm giải phẫu bệnh, xác định nhiễm  H.pylori. 

Kết quả: Trong 120 bệnh nhân đau bụng mạn được nội soi tiêu hóa trên. Tuổi trung bình 8,5 tuổi, nhóm 

tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 7 – 9 tuổi. Đặc điểm lâm sàng điển hình: vị trí đau quanh rốn, mức độ đau là độ 2  theo phân loại “Pain Scale”, thời gian kéo dài một cơn đau < 15 phút, tính chất cơn đau liên tục, tần suất xuất  hiện đau bụng trong 1 tháng là 4 – 6 ngày/ tuần, thời gian xuất hiện cơn đau đầu tiên đến khi nội soi là 3 – 6  tháng. Đặc điểm nội soi: 81,7% trường hợp tổn thương đại thể trên nội soi và 97,5% tổn thương vi thể trên nội  soi, nhiễm H.pylori 71,7%. Tổn thương dạng viêm chiếm tỉ lệ cao nhất và vị trí thường gặp nhất là ở dạ dày. 

Kết  luận: Tổn thương vi thể trên nội soi là 97,5%. Tỷ lệ nhiễm H.pylori 71,7%. Tổn thương dạng viêm 

chiếm tỉ lệ cao nhất và vị trí thường gặp nhất là dạ dày. 

Từ khóa: Đau bụng mạn, đau bụng tái diễn, đau bụng ở trẻ em, đau bụng mạn ở trẻ em. 

ABSTRACT  

CHARACTERISTICS OF CHRONIC ABDOMINAL PAIN PATIENTS HAVING UPPER 

GASTROINTESTINAL ENDOSCOPY AT CHILDREN’S HOSPITAL 1 2012 – 2013 

Nguyen Thi Hong Ngoc, Nguyen Anh Tuan 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 415 ‐ 420 

Aim: To estimate epidemiological, history, clinical and endoscopy, histopathological characteristics of chronic 

abdominal pain patients having upper gastrointestinal endoscopy at children’s hospital 1 

Method: Cases description 

Results: A total of 120 patients were included (57 M, mean age 8.5 years). The age group accounted for the 

highest percentage was 7‐9 years old. Presenting clinical features: Localization was umbilicus, Severity of pain (  score 1 – 5 ) was score 2, Frequency of pain is 4 – 6 days/week, Duration of pain was under 15 minute, The mean  duration of abdominal pain was 3 – 6 months. Endoscopic characteristics: Macroscopic lesions on endoscopy were  81.7% and microscopic lesions were 97.5%, H. pylori infection took 71.7%, Inflammatory lesions accounted for  the highest percentage and the most common location is in the stomach. 

Conclusion:  Microscopic lesions on endoscopy was 97.5%, H. pylori infection took 71.7%. Inflammatory 

lesions accounted for the highest percentage and the most common location is in the stomach. 

Key words: Chronic abdominal pain in children, recurrent abdominal pain, abdominal pain in children 

* Phòng Khám đa khoa Dương Hòa Bình     ** Bộ môn Nhi. Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

Đau  bụng  mạn  là  một  vấn  đề  khá  thường 

gặp  trong  thực  hành  nhi  khoa.  Các  nghiên  cứu 

cho thấy đau bụng mạn chiếm khoảng 2‐4% số 

lần  thăm  khám  của  các  phòng  khám  nhi  khoa 

tổng  quát(6).  Nghiên  cứu  trong  cộng  đồng  ghi 

nhận  10–15%  trẻ  ở  lứa  tuổi  đi  học  bị  đau  bụng 

thường xuyên gây ảnh hưởng đến các sinh hoạt 

học  tập  và  vui  chơi  của  trẻ(3).  Tỷ  lệ  trẻ  bị  đau 

bụng mạn làm trẻ không học bài được là 52,59% 

và 38,51% số trẻ đau bụng phải nằm nghỉ, trong 

đó 8,89% số trẻ phải nghỉ học do đau bụng(1). 

Apley  và  Naish  đã  nghiên  cứu  đau  bụng 

mạn  ở  trẻ  em  vào  năm  1958  với  định  nghĩa  là 

tình  trạng  có  ít  nhất  3  cơn  đau  bụng  trong 

khoảng  thời  gian  ít  nhất  3  tháng,  và  có  ảnh 

hưởng  đến  sinh  hoạt  bình  thường(3).  Tuy  nhiên 

định  nghĩa  này  có  hạn  chế  là  không  phân  biệt 

được nguyên nhân chức năng và thực thể.  

Nguyên  nhân  đau  bụng  mạn  có  thể  gồm  2 

nhóm:  thực  thể  hay  chức  năng.  Đau  bụng  mạn 

thường dễ gây nhầm lẫn, ngay cả thầy thuốc nhi 

khoa  có  kinh  nghiệm  cũng  cảm  thấy  khó  chẩn 

đoán đau bụng, họ phải theo dõi diễn tiến bệnh 

mới có thể tìm được nguyên nhân. Nhiều nghiên 

cứu chứng minh rằng hầu hết đau bụng mạn ở 

trẻ em là do nguyên nhân chức năng, nhưng với 

sự  tiến  bộ  của  các  thăm  dò  cận  lâm  sàng,  đặc 

biệt  nội  soi,  các  nghiên  cứu  gần  đây  đã  mô  tả 

một tỷ lệ ngày càng tăng các nguyên nhân thực 

thể (2). Nhiệm vụ đặt ra với một bác sĩ lâm sàng 

đứng trước một đứa trẻ với đau bụng mạn là xác 

định xem liệu có nguyên nhân thực thể nào bên 

dưới  hay  không.  Không  nằm  ngoài  nhiệm  vụ 

đó, mục đích của nghiên cứu này là xác định đặc 

điểm  các  trường  hợp  đau  bụng  mạn  được  nội 

soi tại bệnh viện Nhi đồng 1. 

Mục tiêu nghiên cứu 

‐ Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng 

của bệnh nhi đau bụng mạn có chỉ định nội soi. 

‐  Xác  định  tỷ  lệ  các  đặc  điểm  nội  soi,  giải 

phẫu bệnh của bệnh nhi đau bụng mạn được chỉ 

định nội soi. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  đau  bụng mạn có chỉ định nội soi tại phòng nội  soi  bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 7/2012 đến tháng  7/2013. 

Phương pháp 

Mô tả hàng loạt ca, cỡ mẫu lấy trọn 

KẾT QUẢ  Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng 

Trẻ  đau  bụng  mạn  có  các  dấu  hiệu  định  hướng  đường  tiêu  hóa  có  tuổi  thấp  nhất  là  4  tuổi,  lớn  nhất  là  15  tuổi.  Tuổi  trung  bình  là  8,5  tuổi.  Nhóm  tuổi  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  là  7  –  9  tuổi:  40,0%.  Tỉ  lệ  đau  bụng  mạn  ở  nam  và  nữ  xấp xỉ nhau: 57 % so với 43%. Không có sự khác  nhau nhiều giữa thành phố và tỉnh. (bảng1). 

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ (N=120) 

Tuổi

Giới tính Nam 68(57)

Nữ 52(43) Địa dư

Thành phố 65(54,2) Tỉnh 55(45,8)

Bảng 2: Các dấu hiệu báo động đỏ 

Tiền căn gia đình có viêm dạ dày 65(54,2)

Đau đánh thức ban đêm 35(29,2)

Ói tái đi tái lại 27(22,5) Tiêu phân đen 14(11,7)

Trong  120  trẻ  đau  bụng  mạn,  các  dấu  hiệu  báo  động  đỏ  được  ghi  nhận  nhiều  nhất  là  tiền  căn gia đình  có  viêm  dạ  dày  54,2%  (65/120),  kế  đến sụt cân 32,5%(39/120) và đau đánh thức ban 

Trang 3

đêm  29,2%  (35/120).  Ở  cùng  một  trẻ  đau  bụng 

mạn có thể có nhiều hơn một dấu hiệu báo động 

đỏ (Bảng 2). 

Bảng 3: Tính chất đau bụng (N=120) 

Quanh rốn 81(67,5) Thượng vị 34(28,3) Khác 5(4,2) Mức độ đau

Thời gian kéo dài một cơn đau

>1 giờ 5(4,2)

15 phút – 1 giờ 38(31,7)

Thời gian cơn đau nổi trội nhất trong ngày

Đau bất kỳ 66(55)

Tối, sau bữa ăn tối 7(5,8)

Khuya, trước khi đi ngủ 24(20)

Các yếu tố làm giảm đau

Thuốc 27(22,5) Thức ăn 8(6,7) Tần xuất cơn đau trong 1 tháng

4 – 6 ngày/ tuần 59(49,2)

1 – 3 ngày / tuần 44(36,7)

Thời gian xuất hiện cơn đau đầu tiên đến khi

nội soi

Mức độ ảnh hưởng chất lượng cuộc sống

Nhập viện 24(20,0) Nghỉ học 32(26,7) Phải nằm nghỉ 39(32,5)

Vẫn sinh hoạt bình thường 25(20,8)

Các đặc điểm lâm sàng điển hình chủ yếu 

là  đau  quanh  rốn  và  đau  vùng  thượng  vị,  các 

vị  trí  khác  chiếm  tỉ  lệ  thấp.  Riêng  vị  trí  đau 

bụng  quanh  rốn  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  67,5% 

(81/120),  mức  độ  đau  được  ghi  nhận  nhiều 

nhất là mức 2 theo bảng phân loại “Pain Scale” 

35,8%  (43/120).  Trong  đó  có  2/120  trường  hợp  đau  dữ  dội  được  đánh  giá  là  mức  độ  5.  Đặc  điểm nổi trội của tính chất đau bụng ở trẻ đau  bụng mạn là thời gian kéo dài một cơn đau đa 

số  dưới  15  phút  (60,8%),  đau  liên  tục  (64,2%),  cơn  đau  có  thể  diễn  ra  bất  kỳ  lúc  nào  trong  ngày  (55%),  không  chịu  ảnh  hưởng  của  thức 

ăn (64,2%), tự nhiên hết đau (67,5%). 

Các  điểm  đáng  chú  ý  là  đau  vào  đêm,  trước khi đi ngủ chiếm đến 20%, đau liên quan  đến  thức  ăn  35,8%,  sử  dụng  thuốc  để  cắt  cơn  đau    22,5%,  tần  suất  xuất  hiện  cơn  đau  bụng  chiếm tỉ lệ cao nhất là 4 – 6 ngày/ tuần (49,2%). 

Đa số trẻ đến khám và nội soi sau 3 ‐ 6 tháng 

từ  khi  xuất  hiện  cơn  đau  bụng  đầu  tiên  (40,8%),  tuy  nhiên  >12  tháng  cũng  chiếm  tỉ  lệ  khá  cao  36,7%.  20,0  %  trẻ  phải  nhập  viện  vì  đau  bụng  mạn  hoặc  các  dấu  hiệu  đi  kèm  với  nó; 26,7%  trẻ phải nghỉ học (Bảng 3). 

Kết quả nội soi 

Trong 120 trường hợp trẻ đau bụng mạn, có 

98 trường hợp có bất thường về hình ảnh đại thể  trên nội soi chiếm 81,7% và 117 trẻ có bất thường 

về hình ảnh vi thể trên nội soi chiếm tỉ lệ 97,5%.  Trong số 98 trường hợp bất thường về hình ảnh  đại thể trên nội soi: chiếm tỷ lệ cao nhất là vị trí 

dạ  dày  62,2%  (61/98),  tổn  thương  dạng  viêm  87.8%  (86/98),  chúng  tôi  ghi  nhận  các  trường  hợp có hình ảnh tổn thương loét đều ở vị trí tá  tràng. Trong 88 trường hợp viêm dạ dày trên nội  soi, đa số tổn thương tập trung ở hang vị 45,4%  (40/88)  hoặc  ở  cả  hang  vị  và  thân  vị  38,6%  (34/88). Trong 88 trường hợp viêm dạ dày và 25  trường  hợp  viêm  tá  tràng,  dạng  tổn  thương  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất:  ở  dạ  dày  là  sang  thương  dạng  nốt  55,2%,  ở  tá  tràng  là  sang  thương  phù 

nề và sung huyết với tỉ lệ lần lượt là 43% và 41%.  Tổn  thương  trên  nội  soi  đôi  khi  kết  hợp  nhiều  hơn 2 dạng trên cùng một bệnh nhân (Bảng 4).  Dạng tổn thương hay phối hợp với nhau là sung  huyết với phù nề niêm mạc và phù nề niêm mạc  với  sang  thương  dạng  nốt.  Chúng  tôi  không  thấy  các  dạng  sang  thương  bở,  xuất  tiết,  teo  niêm  mạc,  chấm  xuất  huyết,  chợt  phẳng,  chợt  nổi dạng mạch máu lúc nội soi. Tổn thương mô 

Trang 4

học  thường  gặp  là  thâm  nhiễm  bạch  cầu  đa 

nhân  trung  tính,  bạch  cầu  lympho,  tương  bào 

trong  mô  đệm  biểu  hiện  của  tình  trạng  viêm 

mạn tính thể hoạt động (56,4%). Viêm mạn tính 

với sự thâm nhiễm BC lympho, tương bào trong 

mô  đệm  ít  gặp  hơn  (43,6%).  Chúng  tôi  không 

ghi nhận thấy trường hợp chuyển sản ruột, teo 

niêm mạc, nang lympho (Bảng 5).  

Bảng 4: Tổn thương đại thể 

Tổn thương đại thể (N=98)

Hình thái tổn thương (N=98)

Viêm 86(87,8)

Loét 2(2)

Vị trí tổn thương ở dạ dày (N=88)

Hang vị 40(45,4) Hang vị + Thân vị 34(38,6)

Thân vị 14(16)

Bảng 5: Tổn thương vi thể 

Tổn thương vi thể (N=120)

Có tổn thương 117(97,5)

Không tổn thương 3(2,5)

Mức độ viêm mạn tính (N=117)

Nhẹ 38(32,5)

Nặng 31(26,5) Mức độ viêm mạn tính hoạt động (N=66)

Nhẹ 41(62,1)

Nặng 0(0)

Bảng 6: Nhiễm H.pylori 

Nhiễm H.pylori

Có 86(71,7) Không 34(28,3)

Mức độ nhiễm H.pylori

Mức độ viêm mạn tính hoạt động (N=66)

Nhẹ 40(46,5)

Nặng 5(5,8)

Trong  120  trường  hợp  trẻ  đau  bụng  mạn 

trong lô nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhiễm 

H.pylori  chiếm  đến  71,7%,  trong  đó  :  nhiễm  H.pylori  mức  độ  nặng  chiếm  tỷ  lệ  rất  thấp  chỉ 

có 5 trường hợp, chiếm tỷ lệ 5,8 %. còn lại chủ   yếu mức độ nhẹ và trung bình chiếm tỷ lệ gần  bằng nhau 46,5 % và 47,7% (Bảng 6). 

BÀN LUẬN  Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng 

Theo  nghiên  cứu  tổng  kết  của  Berger  MY,  Gieteling  MJ  năm  2007  cho  thấy  rằng  trẻ  đau  bụng  mạn  có  hai  khoảng  tuổi  mắc  đau  bụng  mạn  cao  nhất  là  4  ‐6  tuổi  và  7  –  12  tuổi(4).  Lứa  tuổi  mắc  bệnh  nhiều  nhất  của  chúng  tôi  7  –  9  tuổi  cũng  nằm  trong  hai  khoảng  tuổi  mắc  đau  bụng mạn cao nhất này. Về giới, chúng tôi nhận  thấy  tỷ  lệ  nam/nữ  là  57/43.  So  sánh  với  các  tác  giả  khác,  theo  nghiên  cứu  của  Phạm  Thị  Ngọc  Tuyết về đau bụng mạn ở học sinh trung học cơ 

sở tại quận 1 tỷ lệ giữa nam và nữ mắc đau bụng  mạn của tác giả này cũng xấp xỉ nhau(12). 

Một số nghiên cứu và hướng dẫn lâm sàng 

đã nhận định rằng chìa khóa để hướng đến chẩn  đoán  đau  bụng  mạn  nguyên  nhân  thực  thể  là  các dấu hiệu cờ đỏ. Trong số rất nhiều dấu hiệu 

cờ  đỏ  định  hướng  tổn  thương  nhiều  cơ  quan  khác nhau thì các dấu hiệu tiền căn gia đình có  viêm dạ dày, sụt cân, đau đánh thức ban đêm, ói  tái  đi  tái  lại,  tiêu  phân  đen,  ói  máu,  thiếu  máu  không  rõ  nguyên  nhân  là  một  trong  nhiều  dấu  hiệu  cờ  đỏ  định  hướng  đường  tiêu  hóa.  Trong  nghiên  cứu  của  El‐Chammas  K  và  cộng  sự  về  vai trò của dấu hiệu cờ đỏ ở trẻ đau bụng mạn 

và bệnh lý Crohn, 606 bệnh nhân đau bụng mạn  thì chỉ có 128 có tổn thương thực thể, dấu hiệu  thiếu  máu,  nôn  có  sự  khác  biệt  ở  trẻ  đau  bụng  mạn thực thể và chức năng có ý nghĩa thống kê  (p<0,05),  riêng  dấu  hiệu  sụt  cân  và  đau  khớp  không  có  sự  khác  biệt  giữa  hai  nhóm(8).  Tương 

tự  nghiên    cứu  của  Whitehead,  Hammer(14),  ba  dấu  hiệu  báo  động  có  tính  khách  quan,  tin  cậy 

và  có  ý  nghĩa  gợi  ý  bệnh  thực  thể  là  đau  đánh  thức nữa đêm, ói máu, và tiêu máu. 

 Như  vậy  cho  thấy  mặc  dù  các  tác  giả  đều  nói lên vai trò của dấu hiệu báo động đỏ nhưng 

Trang 5

khác nhau. Chúng tôi chọn ra một vài dấu hiệu 

nỗi  bật  dễ  khai  thác  ở  trẻ,  chúng  tôi  nhận  thấy 

rằng dấu hiệu phổ biến nhất trong số những trẻ 

đau bụng mạn đến nội soi là tiền căn gia đình có 

viêm  loét  dạ  dày  54,2%  và  những  trường  hợp 

này những người trong gia đình để được xem là 

có viêm loét dạ dày đều phải được nội soi để xác 

định  là  có  viêm  loét  dạ  dày,  kế  đó  là  sụt  cân 

32,5% và đau đánh thức ban đêm (29,2%). 

Theo  nghiên  cứu  của  Dutta  S,  Mehta  M  và 

Verma  IC,  từ  những  năm  1999  cho  thấy  đặc 

điểm lâm sàng điển hình của một trẻ đau bụng 

mạn là đau quanh rốn, thời gian đau kéo dài 5 – 

30  phút  và  xảy  ra  hàng  ngày,  không  thấy  khác 

biệt có ý nghĩa thống kê nào về các đặc điểm này 

giữa hai nhóm chức năng và thực thể. Thời gian 

trung bình của bệnh tại thời điểm thăm khám ở 

nhóm chức năng dài hơn ở nhóm thực thể, theo 

giải  thích  của  tác  giả  thì  đau  bụng  mạn  có 

nguyên nhân thực thể có nguyên nhân được xác 

định ở một  số  giai  đoạn,  bệnh  nhân  bị  rối  loạn 

chức năng thường có những triệu chứng tương 

tự  bệnh  thực  thể,  do  đó  không  có  gì  phải  ngạc 

nhiên rằng các đặc tính của đau phần lớn tương 

tự  ở  hai  nhóm  Và  vì  vậy  các  đặc  tính  của  cơn 

đau cũng không giúp phân  biệt  giữa  hai  nhóm 

cơ năng và thực thể(7). Theo số liệu của AAP và 

NASPGHAN  năm  2013  có  13%    trẻ  đang  học 

trung học cơ sở và 17% trẻ đang học trung học 

phổ thông có cơn đau bụng diễn ra hàng ngày(2). 

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho một kết quả 

tương  tự  đặc  điểm  nổi  trội  của  tính  chất  đau 

bụng ở trẻ đau bụng mạn trong nghiên cứu của 

chúng tôi là đau quanh rốn, đau mức độ 2 theo 

bảng phân loại Pain Scale thời gian kéo dài một 

cơn  đau  phần  lớn  dưới  15  phút  (60,8%),  thời 

gian từ khi xuất hiện cơn đau đầu tiên đến khi 

trẻ đi thăm khám là 3 – 6 tháng (40,8%), đau liên 

tục (64,2%), cơn đau có thể diễn ra bất kỳ lúc nào 

trong  ngày  (55%),  không  chịu  ảnh  hưởng  của 

thức ăn (64,2%), tự nhiên hết đau (67,5%). Đa số 

trẻ  đau  bụng  mạn  có  dấu  hiệu  định  hướng 

đường tiêu hóa hầu như ngày nào cũng có cơn 

đau bụng (49,2%).  

Kết quả nội soi 

Theo  nhiều  tác  giả  thì  khoảng  10‐20%  tìm  được nguyên nhân tổn thương thực thể ở bệnh  nhân đau bụng mạn, trong đó bệnh lý dạ dày‐tá 

tràng  do  H.pylori  được  phát  hiện  qua  nội  soi 

đường tiêu hóa trên là chủ yếu(5).  Trong  số  120  trường  hợp  có  phát  hiện  hay  không phát hiện tổn thương đại thể qua nội soi  thì đều làm giải phẫu bệnh và 117/120 (97,5%) có  tổn thương trên giải phẫu bệnh, trong khi đó chỉ 

có 98/120 (81,7%) tổn thương đại thể trên nôi soi.  Như vậy có những trường hợp hình ảnh đại thể  trên  nội  soi  bình  thường  nhưng  vẫn  có  tổn  thương trên giải phẫu bệnh, vì chẩn đoán viêm 

dạ dày là chẩn đoán trên giải phẫu bệnh nên từ  kết quả cho ta thấy rằng việc sinh thiết khi hình  ảnh  đại  thể  trên  nội  soi  là  bình  thường  thì  cần  thiết. Chúng tôi cũng nghi nhận được rằng tỷ lệ  tổn  thương  mô  học  của  những  trẻ  đau  bụng  mạn  có  dấu  hiệu  cảnh  báo  chiếm  tỷ  lệ  rất  cao.Như  vậy  có  thể  thấy  trẻ  đau  bụng  mạn  có  dấu  hiệu  định  hướng  đường  tiêu  hóa  thì  khả  năng có tổn thương thực thể là rất cao và cũng  giống như nghiên cứu của các tác giả khác.  Với  tổn  thương  đại  thể  trên  nội  soi  vị  trí  hay  gặp  nhất  là  dạ  dày  62,2%  và  loại  tổn  thương thường gặp nhất là viêm 87,8%, những 

vị trí khác như tá tràng, hay dạng phối hợp thì 

ít  gặp  hơn.  Kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  phù hợp với các nghiên cứu. Theo nghiên cứu  của  Phạm  Hoàng  Hưng  thì  hình  thái  tổn  thương thường gặp nhất qua nội soi ở trẻ đau  bụng  mạn  là  viêm  dạ  dày  và  viêm  hành  tá  tràng(11) .Theo nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc  Tuyết  thì  nguyên  nhân  thực  thể  tìm  được  ở  bệnh  nhân  đau  bụng  mạn  bao  gồm  bệnh  lý  viêm dạ dày và viêm hành tá tràng(13). 

Khi  đánh  giá  tổn  thương  định  khu  trên  nội  soi,  chúng  tôi  ghi  nhận  tổn  thương  ở  hang  vị  nhiều hơn so với thân vị (45,4% so với 16%), tổn  thương  ở  toàn  bộ  dạ  dày  chiếm  tỷ  lệ  cũng  khá  cao  38,6%    Kết  quả  này  cũng  phù  hợp  với  các  nghiên  cứu  khác  trong  y  văn,  hang  vị  là  nơi 

H.pylori có ái tính cao và dễ bị tổn thương nhất. 

Trang 6

viêm toàn bộ dạ dày chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều 

so với các nghiên cứu khác. Lý do chúng tôi vẫn 

chữa giải thích được. 

Trong số 120 trường hợp đau  bụng  mạn  có 

dấu  hiệu  báo  động  đỏ  định  hướng  đường  tiêu 

hóa, được nội soi sinh thiết làm giải phẫu bệnh 

và  xác  định  nhiễm  H.pylori,  tỷ  lệ  dương  tính 

71,7%  cao  hơn  nhiều  so  với  47,1%  của  nghiên 

cứu Frank F và cộng sự(9), Nguyễn Văn Bàng và 

cộng  sự(10)  khi  nghiên  cứu  trên  các  hộ  gia  đình 

nhiều  thế  hệ  ở  miền  Bắc  cho  thấy  tỉ  lệ  nhiễm 

H.pylori  chung  là  30,2%  ở  nhóm  <  10  tuổi  và 

50,8% ở nhóm 10 – 20 tuổi. Do đối tượng nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  được  chọn  lọc  là  những  trẻ 

đau bụng tái diễn có dấu hiệu báo động đỏ với 

nguy  cơ  tổn  thương  thực  thể  cao  vì  vậy  tỷ  lệ 

nhiễm H.pylori cao hơn trong cộng đồng. 

KẾT LUẬN 

1.  Tuổi  trung  bình  8,5  tuổi,  nhóm  tuổi 

chiếm tỉ lệ cao nhất là 7 – 9 tuổi. Đặc tính lâm 

sàng:  đau  quanh  rốn,  thời  gian  kéo  dài  cơn 

đau < 15 phút, đau độ 2, tần suất cơn đau 4 – 6 

ngày/ tuần, thời gian từ cơn đau đầu tiên đến 

khi nội soi là 3 – 6 tháng. 

2. 81,7% trường hợp tổn thương đại thể trên 

nội soi và 97,5% tổn thương vi thể trên nội soi, 

nhiễm  H.pylori  71,7%.  Tổn  thương  dạng  viêm 

chiếm tỉ lệ cao nhất và vị trí thường gặp nhất là 

ở dạ dày. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Alfvén  G  (2001),  ʺRecurrent  abdominal  pain.  A  world‐wide 

problem of organic, functional and psychosomatic aetiologyʺ, 

Acta Pediatric, 90, pp. 599 ‐ 604. 

2 American Academy of Pediatric (2005), ʺChronic Abdominal 

Pain in Childrenʺ, Pediatrics, 115, pp. e370 ‐ e381 

3 Apley J, Naish N (1958), ʺRecurrent abdominal pains : a fielf  survey of 1000 school childrenʺ, Arch Dis Child, 50, pp. 429 – 

436. 

4 Berger MY, Gieteling MJ (2007), ʺChronic abdominal pain in  children ʺ, BMJ, 334, pp. 997 ‐ 1002. 

5 Bremner AR, Sandhu BK (2009), ʺRecurrent Abdominal Pain 

in Childhood: The Functional Elementʺ, Indian Pediatrics, 46, 

pp. 376 ‐ 380. 

6 Chitkara  DK,  (2005)  ʺThe  Epidemiology  of  childhood  recurrent abdominal pain in Western countries: A systematic  review  Americanʺ,  Journal  of  gastroenterology,  pp.  1868  ‐ 

1874. 

7 Dutta  S,  Mehta  M,  Verma  IC  (1999),  ʺRecurrent  abdomianl  pain in Indian children and its relation with school and family  enviromentʺ, Indian Pediatrics, 36, pp. 917 ‐ 920. 

8 El‐Chammas K, Majeskie A, Simpson P, Sood M, Miranda A  (2013),  ʺRed  flags  in  children  with  chronic  abdominal  pain  and  Crohnʹs  disease‐a  single  center  experienceʺ,  Pediatric  Journal, 162(4), pp. 783 ‐787. 

9 Frank  F,  Stricker  T  (2000),  ʺ  Helicobacter  pylori  infection  recurrent abdominal painʺ, Pediatric Gastroenterol, 31(4), pp. 

424 ‐ 427. 

10 Nguyễn  Văn  Bàng,  Nguyễn  Gia  Khánh,  Phùng  Đắc  Cam  (2004),  ʺNhiễm  Helicobacter  pylori  và  bệnh  lý  dạ  dày  ‐  tá  tràng ở trẻ emʺ, Tạp chí nghiên cứu khoa học, số 30(4), tr 29 ‐

34. 

11 Phạm Hoàng Hưng và cộng sự (2002), ʺTình hình nhiễm Hp 

ở bệnh nhân đau bụng tái diễn tại khoa nhi bệnh viện trung  ương Huếʺ, Y học thực hành, số 4, tr 62 ‐ 63. 

12 Phạm  Thị  Ngọc  Tuyết  (2011),  “Đau  bụng  mạn  ở  học  sinh  trung  học  cơ  sở  tại  quận  1  TPHCM:  Tỷ  lệ  hiện  mắc  và  mối  liên quan với các yếu tố sang chấn tâm lý”, Luận án Tiến sĩ Y 

học., Đại học Y Dược TP. HCM. 

13 Phạm  Thị  Ngọc  Tuyết,  Nguyễn  Đỗ  Nguyễn  và  cộng  sự  (2004),  ʺNhững  yếu  tố  sang  chấn  tâm  lý  liên  quan  đến  đau  bụng tái diễn ở học sinh trung học cơ sở quận 1, Thành phố 

Hồ  Chí  minh  năm  2003ʺ,  Tạp  chí  Y  học  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh, số 8(2), tr 108 ‐ 112. 

14 Weydert JA, Ball TM, Davis MF (2003), ʺSystematic Review of  treatment  for recurrent abdominal painʺ, Pediatrics, 111, pp.  e1 ‐ e11. 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm