1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả điều trị một số bệnh lý tại não và u não ở trẻ em bằng dao gamma quay tại Bệnh viện Bạch Mai

9 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 652,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị một số u não và bệnh lý sọ não ở trẻ em bằng dao gamma quay (rotating gamma knife, RGK) tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, Việt nam. Nghiên cứu thực hiện trên 67 bệnh nhi (≤ 15 tuổi) được chẩn đoán u não và một số bệnh lý sọ não, có chỉ định xạ phẫu bằng RGK từ 7/2007 đến 07/2013 tại Bệnh viện Bạch Mai, Việt Nam.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH LÝ TẠI NÃO  

VÀ U NÃO Ở TRẺ EM BẰNG DAO GAMMA QUAY  

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI 

Mai Trọng Khoa*, Trần Đình Hà*, Phạm Cẩm Phương*, Nguyễn Đức Luân*, Lê Chính Đại*  

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Đánh  giá  hiệu  quả  điều  trị  một  số  u  não  và  bệnh  lý  sọ  não  ở  trẻ  em  bằng  dao  gamma  quay 

(Rotating Gamma Knife, RGK) tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, Việt nam.  

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả kết quả lâm sàng trên 67 bệnh nhi ( 15 tuổi) được chẩn  đoán u não và một số bệnh lý sọ não, có chỉ định xạ phẫu bằng RGK từ 7/2007 đến 07/2013 tại Bệnh viện Bạch  Mai, Việt Nam.  

Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình: 10,5 tuổi, tuổi thấp nhất là 4, cao nhất là 15. Tỉ lệ nam/nữ là: 1,8. 

Trong đó: dị dạng động tĩnh mạch não 22,4%; u tuyến tùng 16,4%; u tế bào sao 7,5%; u máu thể hang 6,0%; u  màng não thất 6,0%. 73,1% người bệnh có triệu chứng đau đầu; 53,7% người bệnh buồn nôn, nôn; 25,4 % co  giật; 20,9% người bệnh yếu nửa người; 6% người bệnh có hội chứng tiểu não. Vị trí u: Vùng trán‐thái dương  hai bên: 56,7%; trong não thất: 6%; u vùng thân não: 7,5%. Kích thước u trung bình: 2,13±1,24cm. Liều xạ  phẫu thay đổi tuỳ theo vị trí và bản chất u, liều trung bình 14,4Gy, thấp nhất là 8Gy, cao nhất là 20Gy. Tỷ lệ đạt  đáp ứng tốt và khỏi bệnh gặp ở nhóm dị dạng động tĩnh mạch não và u nguyên bào thần kinh bậc thấp. Các khối 

u sọ hầu đáp ứng kém hơn với xạ phẫu. Cho đến nay, 55 người bệnh (82,1%) cải thiện triệu chứng lâm sàng rõ  rệt: giảm đau đầu, giảm buồn nôn, giảm kích thước khối u. 12 người bệnh (17,9%) đã tử vong vì khối u tiếp tục  tiến triển sau điều trị.  

Kết luận: Xạ phẫu bằng RGK để điều trị cho các người bệnh u não và bệnh lý sọ não cho trẻ em là biện pháp 

điều trị có hiệu quả, an toàn. 

ABSTRACT 

EVALUATING THE EFFICACY OF ROTATING GAMMA KNIFE (RGK) IN THE TREATMENT  

OF INTRACRANIAL DISEASES AND BRAIN TUMORS IN CHIDREN AT BACH MAI HOSPITAL 

Mai Trong Khoa, Tran Dinh Ha, Pham Cam Phuong Nguyen Duc Luan, Le Chinh Dai 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 366 – 374 

Objective: To evaluate the treatment outcomes of pediatric brain tumors and intracranial diseases by using 

the Rotating Gamma Knife (RGK) at Bach Mai Hospital, Hanoi, Viet Nam.  

Patients  and  Method:  a  prospective  clinical  interventions  in  67pediatric  patients  (  15  years)  were  diagnosed with brain tumors or intracranial diseases and then they were treated with the RGK from July 2007 to  July 2013 at Bach Mai Hospital, Vietnam.  

Results: Average age was 10.5 years old. Ages at the time of radiosurgery ranged from 4 (youngest) to 15 

(oldest).  The  male/female  ratio:  1.8.  In  our  study,  67  patients  including  arteriovenous  malformations  (AVM)  22.4%;  pineal  tumors  16.4%;astrocytoma  7.5%;  cavernoma  6.0%;  ependynoma  6,0%.  Clinical  symptoms:  headache: 73.1%; nausea, vomiting: 53.7%; convulsions: 25.4%; hemiplegia: 20.9%; cerebellar syndrome: 6% of  the study population. Tumor location: frontal ‐ temporal sides: 56.7 %; intraventricular 6.0 %; brainstem 7.5 %. 

* Bệnh viện Bạch Mai 

Tác giả liên lạc: TS.BS. Phạm Cẩm Phương;  ĐT: 0983920778, Email: camphuongmd@yahoo.com

Trang 2

The median tumor size was 2.13±1.24 cm (0.6–4.1cm). The median prescribed dose was varied (depending on the  nature andthelocation of the tumor): 14.4Gy; min: 8Gy, max 20Gy. Arteriovenous malformations and low grade  neuroblastoma groups had good response. Craniopharyngiomas had worse response rates with radiosurgery. So  far, 55 patients (82.1%) have improved clinical symptomsremarkably: we noted a release of headache, nausea and 

a reduction in the tumor size. 12 patients (17.9%) died due to progressive tumor after treatment.  

Conclusions:  RGK  radiosurgery  is  effective  and  safe  for  treating  brain  tumors  and  some  intracranial 

diseases in children. 

ĐẶT VẤN ĐỀ  

U não là một trong những bệnh ung thư hay 

gặp ở trẻ em, đứng hàng thứ hai sau ung thư của 

hệ thống tạo  máu  (bệnh bạch  cầu).  U não  là sự 

tăng sinh bất thường của các tế bào thần kinh, tế 

bào hình sao, tế bào ít đuôi gai, nguyên tuỷ bào 

thần  kinh.  U  não  có  thể  nguyên  phát  hoặc  thứ 

phát do di căn ung thư từ nơi khác đến não. Tùy 

thuộc vào vị trí, kích thước, bản chất của khối u 

mà phương pháp điều trị u não nguyên phát có 

thể là phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Với sự giúp đỡ 

của các đồng nghiệp nước Mỹ, Úc, Thụy Điển… 

Bệnh  viện  Nhi  Trung  ương  và  Bệnh  viện  Bạch 

Mai đã cùng hợp tác và xây dựng các phác đồ xạ 

trị u não và một số bệnh ung thư khác ở trẻ em.  

Ngày nay cùng với sự phát triển của y học, 

nhiều loại máy xạ trị, phương pháp xạ trị mới ra 

đời nhằm mục đích tập trung liều xạ trị vào khối 

u  tối  đa  mà  lại  giảm  thiểu  liều  bức  xạ  đến  tổ 

chức  lành  xung  quanh.  Từ  đó  chỉ  định  xạ  trị 

trong điều trị ung thư ở trẻ em nói chung và u 

não nói riêng ngày càng được nghiên cứu nhiều. 

Đặc biệt với các bệnh nhi có khối u to, vị trí u ở 

sâu,  tại  các  cơ  quan  quan  trọng  như  thân  não, 

trong não thất… là những vị trí rất khó để phẫu 

thuật  triệt  căn.  Xạ  trị  đóng  vai  trò  quan  trọng 

trong  những  trường  hợp  này.  Hệ  thống  RGK 

của Hoa Kỳ đã được đưa vào sử dụng ở Mỹ lần 

đầu  tiên  năm  2004.  Tại  Trung  tâm  Y  học  hạt 

nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, chúng 

tôi sử dụng máy xạ trị gia tốc tuyến tính và máy 

xạ phẫu bằng RGK từ 7/2007 để điều trị các khối 

u não và một số bệnh lý tại não. Cho đến nay đã 

có khoảng 2600 người bệnh u não và bệnh lý sọ 

não được điều trị xạ phẫu bằng RGK trong đó có 

cả  các  bệnh  nhi.  Nhằm  đánh  giá  vai  trò  của 

phương pháp điều trị này trong điều trị u não và  các bệnh lý sọ não ở trẻ em, chúng tôi tiến hành 

đề tài này nhằm mục tiêu:  

1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm  sàng của các bệnh nhi u não và bệnh lý sọ não 

có chỉ địnhxạ phẫu bằng dao gamma quay. 

2. Đánh giá hiệu quả điều trị u não và một 

số  bệnh  lý  tại  não  ở  trẻ  em  bằng  dao  gamma  quay tại Bệnh viện Bạch Mai. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

67 bệnh nhi (≤15 tuổi) được chẩn đoán là 

u  não  và  một  số  bệnh  lý  tại  não,  được  thông  qua hội đồng Hội chẩn gồm các bác sỹ chuyên  ngành  ung  bướu,  nội  thần  kinh,  nhi  khoa,  ngoại  thần  kinh,  chẩn  đoán  hình  ảnh,  giải  phẫu bệnh, gây mê hồi sức, y học hạt nhân và 

xạ trị, tai mũi họng. Người bệnh được chỉ định  điều  trị  xạ  phẫu  bằng  RGK  từ  7/2007  đến  07/2013 tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung  bướu, Bệnh viện Bạch Mai. 

Tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh 

Tuổi ≤ 15  Khối u não hoặc bệnh lý sọ não có một ổ tổn  thương,  kích  thước  ≤  3cm,  một  số  trường  hợp 

có thể ≤ 5cm. 

Tiêu chuẩn loại trừ người bệnh: 

•  Người bệnh > 15 tuổi 

•  Khối tổn thương tại não nhiều ổ 

•  Khối tổn thương tại não có kích thước >5 cm 

•  Người bệnh hôn mê, có nguy cơ tử vong gần 

•  Người  bệnh  mắc  các  bệnh  lý  phối  hợp  khác có nguy cơ tử vong gần 

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu  

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả lâm sàng 

Các  bước  tiến  hành:  Những  người  bệnh  có 

đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu sẽ được chọn vào 

nghiên cứu. Người bệnh được làm bệnh án theo 

mẫu thống nhất. Thu thập số liệu theo mẫu bệnh 

án nghiên cứu in sẵn 

Đánh  giá  các  triệu  chứng  cơ  năng,  thực  thể 

trước điều trị. 

Đánh giá đặc điểm cận lâm sàng trước điều trị. 

Đánh  giá  vị  trí,  kích  thước,  bản  chất  tổn 

thương thông qua chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng 

hưởng từ sọ não. 

Tiến  hành  điều  trị  xạ  phẫu  bằng  RGK  theo 

phác đồ đã được hội chẩn. 

Đánh giá tác dụng không mong muốn trong 

và  sau  xạ  phẫu  bằng  tiêu  chuẩn  đánh  giá  các 

biến  cố  bất  lợi  (Common  Terminology  Criteria 

for  Adverse  Events  Version  4.0  (CTCAE))  của 

Viện Ung thư quốc gia của Mỹ năm 2009. 

Đánh giá đáp ứng sau điều trị: Đánh giá đáp 

ứng cơ năng thông qua hỏi bệnh bác sỹ điều trị, gia 

đình  người  bệnh  trực  tiếp  hoặc  qua  điện  thoại. 

Thời điểm đánh giá: 3 tháng sau khi điều trị. 

Đánh  giá  tỷ  lệ  tử  vong  thông  qua  gọi  điện 

thoại  cho  gia  đình  và  hỏi  tình  trạng  bệnh  của 

bệnh nhi. Đánh giá tỷ lệ tử vong bằng cách ghi 

nhận ngày người bệnh bắt đầu xạ phẫu và ngày 

người bệnh tử vong. Thời điểm đánh giá: Tháng 

2/2014. 

Đánh  giá  đáp  ứng  dựa  vào  chụp  cắt  lớp  vi 

tính  hoặc  cộng  hưởng  từ  sọ  não  trước  và  sau 

điều  trị:  Đánh  giá  theo  tiêu  chuẩn  RECIST  với 

đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn 

định, bệnh tiến triển. 

Quy trình xạ phẫu: Người bệnh chỉ cần gây 

tê tại chỗ 4 điểm đặt khung định vị trên đầu (trừ 

trường  hợp  trẻ  nhỏ  cần  phải  có  bác  sỹ  chuyên 

khoa  Gây  mê  hỗ  trợ).  Sau  đó  người  bệnh  được 

chụp mô phỏng CT hoặc MRI tùy theo từng loại 

bệnh.  Bác  sỹ  lập  kế  hoạch  xạ  phẫu  sẽ  xác  định 

chính xác vị trí và phạm vi tổn thương, từ đó có 

chỉ  định  liều  xạ  thích  hợp.  Người  bệnh  hoàn  toàn tỉnh táo trước, trong và sau khi xạ phẫu.  

Xử lý số liệu  

Các  thông  tin  được  mã  hoá  và  xử  lý  bằng  phần mềm SPSS 16.0 

KẾT QUẢ  Đặc điểm của nhóm bệnh nhân 

Tuổi, giới  

Có 43 người bệnh nam và 24 người bệnh nữ 

Bảng 1: Phân bố nhóm tuổi của người bệnh 

Nhận xét: Nhóm tuổi hay gặp nhất là trên 10  tuổi (49,2%), tuổi trung bình: 10,5 tuổi, tuổi thấp  nhất  là  4,  cao  nhất  là  15  tuổi.  Tỉ  lệ  nam/nữ  là: 

43/24=1,8. 

Phương pháp điều trị trước xạ phẫu 

 

Biểu đồ 3: Tình trạng bệnh trước xạ phẫu 

Nhận  xét:  Đa  số  các  người  bệnh  được  xạ  phẫu  Gamma  Knife  khi  chưa  được  điều  trị  gì  trước đó (82,1%).  

Phương pháp cố định khung định vị  

Đa số các bệnh nhi chỉ cần gây tê để cố định  khung  định  vị  59/67=  94,0%;  chỉ  có  4/67=  6,0% 

trường hợp cần phải gây mê. 

Bảng 2: Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp trước xạ 

phẫu 

73.8 5.3

Đã xạ trị gia tốc

Đã phẫu thuật

Đã nút mạch

Trang 4

Hội chứng tiểu não 4 6,0

Nhận xét: Triệu chứng cơ năng hay gặp nhất là 

đau đầu (73,1%); các triệu chứng khác ít gặp hơn. 

Bảng 3: Tỷ lệ một số loại u và bệnh lý sọ não 

Dị dạng động tĩnh mạch (AVM) 15 22,4

U góc cầu tiểu não 2 2,9

Nhận xét: Loại u thường gặp nhất là dị dạng 

động tĩnh mạch não: 22,4%; u tuyến tùng 16,4%; 

u sao bào: 7,5%; u tuyến yên: 7,5%; u vùng thân 

não:  7,5%;  u  máu  thể  hang  6,0%;  u  màng  não 

thất  6,0%   các  loại  u  và  bệnh  lý  sọ  não  khác 

chiếm tỷ lệ thấp hơn. 

Bảng 4: Phân loại u theo vị trí 

U ngoài trục và u tuyến yên 9 13,4

Nhận xét: Chủ yếu là u trên lều chiếm 70,1%; 

u dưới lều chiếm 16,5% trong đó đặc biệt u thân 

não  chiếm  7,5%;  tỷ  lệ  còn  lại  thuộc  các  u  ngoài  trục và các u tuyến. 

Bảng 5: Kích thước của tổn thương  

Nhận  xét:  Kích  thước  u  trung  bình:  2,13 

±1,24cm.  Kích  thước  nhỏ  nhất  1cm,  kích  thước  lớn  nhất  4,5cm.  Chủ  yếu  tổn  thương  có  kích  thước 2‐3cm (56,7%). 

Bảng 6: Liều xạ phẫu, số trường chiếu xạ, thời gian 

xạ trị 

Liều xạ phẫu (Gy) 8 20 14,4 3,01

Số trường chiếu xạ trị 1 19 7,78 4,5 Thời gian chiếu xạ (phút) 8,4 170,8 48,9 27,3 Nhận  xét:  Liều  xạ  phẫu  trung  bình  khác  nhau tùy  theo  loại  bệnh,  cao nhất  là  u  máu thể  hang  20Gy,  thấp  nhất  là  u  sọ  hầu  8Gy  (isodose  50%). 

Kết quả điều trị 

Bảng 7: Đáp ứng cơ năng sau điều trị 

Triệu chứng Trước điều trị Sau điều trị 3

tháng

Buồn nôn, nôn 36 53,7 12 17,9 Động kinh 17 25,4 14 20,9

Yếu, liệt ½ người 14 20,9 6 8,9

Hội chứng tiểu não 4 6,0 2 3,0

Nhận  xét:  55  người  bệnh  (82,1%)  cải  thiện  triệu chứng lâm sàng rõ rệt: giảm đau đầu, giảm  buồn nôn, giảm bớt cơn động kinh  

Bảng 8: Đáp ứng thực thể sau điều trị 

Đáp ứng hoàn toàn 15 22,4

Trang 5

Nhận xét: Đa số các người bệnh đạt đáp ứng 

sau  điều  trị  (61,2%)  trong  đó  22,4%  bệnh  nhi 

(15/67) đạt đáp ứng hoàn toàn. 

Bảng 9: Tác dụng phụ trong và sau xạ phẫu 

Tăng áp lực nội sọ sau điều trị 16 23,9

Nhận xét: Các tác dụng phụ trong và sau xạ 

trị  không  nhiều,  chủ  yếu  có  tăng  áp  lực  nội  sọ 

sau điều trị (đau đầu, buồn nôn, nôn tăng) 

Tỷ  lệ  tử  vong  sau  điều  trị:  12  người  bệnh 

(17,9%) đã tử vong  

BÀN LUẬN 

Dao gamma đầu tiên do Lars Leksell (người 

Thuỵ Điển) sử dụng năm 1968 để điều trị một số 

bệnh  lý  sọ  não.  Nguyên  lý  là  sử  dụng  nhiều 

chùm  tia  gamma  hội  tụ  tại  một  điểm  làm  tăng 

liều  phóng  xạ  tại  điểm  đó  để  huỷ  diệt  mô  tổn 

thương  nằm sâu  trong não  mà  không gây  chảy 

máu,  nhiễm  trùng,  ít  gây  tổn  th¬ương  tổ  chức 

lành  xung  quanh.  Các  chùm  tia  gamma  của 

nguồn Co‐60 chiếu từ nhiều hư¬ớng khác nhau 

nh¬ưng có thể điều chỉnh để hội tụ lại tại tổ chức 

bệnh lý cần phá huỷ. Phương tiện này giúp loại 

bỏ tổ chức bệnh lý trong não mà không cần phẫu 

thuật mở hộp sọ, mang lại rất nhiều lợi ích cho 

người bệnh và xã hội.  

Hệ thống RGK gồm hệ thống các collimator 

quay quanh đầu, hệ thống APS tự động định vị 

có độ chính xác rất cao (0,1mm) kết hợp với máy 

chụp CT hay MRI mô phỏng tùy theo từng loại 

bệnh và phần mềm lập kế hoạch xạ phẫu Orisix 

4D giúp cho việc lập kế hoạch nhanh, chính xác 

và hiệu quả.  

Đặc  điểm  lâm  sàng  và  cận  lâm  sàng  của 

nhóm người bệnh nghiên cứu 

Từ tháng 7 năm 2007 hệ thống RGK do Hoa 

Kỳ  sản  xuất  lần  đầu  được  ứng  dụng  tại  Trung 

tâm  Y  học  hạt  nhân  và  Ung  b¬ướu,  Bệnh  viện 

Bạch Mai, chỉ định điều trị cho u não và một số 

bệnh lý sọ não. Sau 6 năm hoạt động chúng tôi đã  điều trị cho 67 bệnh nhi có chỉ định xạ phẫu bằng  RGK. Nhóm tuổi hay gặp là trên 10 tuổi (49,2%),  tuổi  trung  bình:  10,5  tuổi,  cùng  tuổi  với  nghiên  cứu của các tác giả Massager, N. và cộng sự(6).  Tại  Việt  Nam  hiện  nay  và  nhiều  nước  trên  thế giới, với các khối u sọ não và tổn thương tại  não  có  nhiều  phương  pháp  điều  trị  khác  nhau  như nút mạch, phẫu thuật, xạ trị… với mỗi một  phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm  riêng.  Tùy  thuộc  vào  kích  thước  khối  u,  đặc  điểm khối u trên hình ảnh cộng hưởng từ sọ não,  kích thước khối u mà Hội đồng hội chẩn sẽ đưa 

ra quyết định về hướng điều trị cho từng người  bệnh.  82,1%  người  bệnh  chưa  được  điều  trị;  10,4%  bệnh  nhi  đã  được  phẫu  thuật  trước  đó;  6,0% người bệnh đã phẫu thuật và xạ trị gia tốc;  1,5% người bệnh đã nút mạch. Nghiên cứu cũng  cho  thấy  sự  phù  hợp  về  triệu  chứng  lâm  sàng  của bệnh so với tác giả Ninh Thị Ứng và Hà Kim  Trung(1,8):  trước  điều  trị  73,1%  người  bệnh  đau  đầu; 53,7% người bệnh buồn nôn, nôn; 25,4% co  giật; 20,9% người bệnh yếu nửa người; 6% người  bệnh có hội chứng tiểu não.  

Về  loại  tổn  thương:  Thường  gặp  nhất  là  dị  dạng  động  tĩnh  mạch  não:  22,4%;  u  tuyến  tùng  16,4%;  u  sao  bào:  7,5%;  u  tuyến  yên:  7,5%;  u  vùng  thân  não:  7,5%;  u  máu  thể  hang  6,0%;  u  màng  não  thất  6,0%   các  loại  u  và  bệnh  lý  sọ  não  khác  chiếm  tỷ  lệ  thấp  hơn.  Về  vị  trí  tổn  thương:  u  trên  lều  chiếm  70,1%  ;  u  dưới  lều  chiếm 16,5% trong đó đặc biệt u thân não chiếm  7,5%; tỷ lệ còn lại thuộc các u ngoài trục và các u  tuyến. Tổn thương vùng trán‐thái dương hai bên  hay gặp nhất chiểm tỷ lệ 56,7%. Kết quả nghiên  cứu cho thấy đa số tổn thương có kích thước 2‐ 3cm (56,7%); Kích thước nhỏ nhất 1cm, lớn nhất  4,5cm;  trung  bình:  2,13±1,24cm.  Đa  số  các  bệnh  nhi  chỉ  cần  gây  tê  để  cố  định  khung  định  vị  59/67= 94,0%;  chỉ  có 4/67= 6,0%  trường hợp  cần  phải gây mê. Liều xạ phẫu trung bình khác nhau  tùy theo loại bệnh, liều trung bình 14,4Gy, thấp  nhất là 8Gy, cao nhất là 20Gy. Liều xạ phẫu phụ  thuộc  nhiều  yếu  tố  như  loại  bệnh,  vị  trí  tổn 

Trang 6

thương, các tổ chức liền kề, kích thước u… tất cả 

các  người  bệnh  điều  trị  chúng  tôi  sử  dụng  liều 

chỉ định là đường đồng liều 50% (isodose curve 

50%) tức là đường đồng liều quanh tổn thương 

là 50%, trong quá trình lập kế hoạch điều trị có 

tham  khảo  các  đường  đồng  liều  khác  là  30%, 

40%,  70%,  90%  để  kiểm  tra  sự  phân  bố  liều  xạ 

đối  với  các  cấu  trúc  giải  phẫu  của  não  và  mô 

bệnh(3).  Nghiên  cứu  này  cũng  phù  hợp  với  tác 

giả Nanda R và cs khi nghiên cứu hiệu quả của 

xạ  phẫu  trong  điều  trị  khối  u  nguyên  phát  tại 

não tái phát hoặc tổn thương ung thư di căn não 

trên bệnh nhi cho thấy liều xạ trị thay đổi từ 15‐

21Gy(7). 

Hiệu quả điều trị 

Tùy thuộc vào từng vị trí, kích thước khối u 

mà mỗi người bệnh có các biểu hiện triệu chứng 

lâm sàng khác nhau, với các mức độ khác nhau. 

Sau  điều  trị  76,8%  người  bệnh  cải  thiện  hoàn 

toàn  các  triệu  chứng  cơ  năng  và  tỷ  lệ  này  tăng 

dần theo thời gian. Một số người bệnh cải thiện 

triệu chứng cơ năng một phần. Có một số người 

bệnh  tái  phát  sau  một  thời  gian  điều  trị  hoặc 

bệnh tiến triển đã được điều trị hỗ trợ thêm bằng 

các biện pháp khác. Qua khai thác thông tin qua 

những  lần  tái  khám  lại  của  người  bệnh  và  hỏi 

bệnh qua điện thoại của người nhà người bệnh. 

55 người bệnh (82,1%) cải thiện triệu chứng lâm 

sàng rõ rệt: giảm đau đầu, giảm buồn nôn, giảm 

bớt cơn động kinh  

Để phù hợp cho việc đánh giá đáp ứng tổn 

thương  chúng  tôi  áp  dụng  tiêu  chuẩn  RECIST, 

đo  đường kính  lớn nhất của  tổn  thương.  Đa số 

các người bệnh đạt đáp ứng sau điều trị (61,2%) 

trong  đó  22,4%  bệnh  nhi  (15/67)  đạt  đáp  ứng 

hoàn toàn. Tính đến thời điểm tháng 2 năm 2014 

có  12  người  bệnh  (17,9%)  đã  tử  vong  vì  khối  u 

tiếp  tục  tiến  triển  sau  điều  trị.  Tuy  nhiên  đa  số 

các trường hợp chúng tôi không có kết quả mô 

bệnh học nên cũng không đánh giá rõ được loại  khối  u  nào  gây  tử  vong  cao.  Dựa  vào  các  phương  pháp  chẩn  đoán  hình  ảnh,  chúng  tôi  nhận thấy tỷ lệ đạt đáp ứng tốt và khỏi bệnh gặp 

ở  nhóm  dị  dạng  động  tĩnh  mạch  não  và  u  nguyên  bào  thần  kinh  bậc  thấp.  Các  khối  u  sọ  hầu, u vùng thân não đáp ứng kém hơn với xạ  phẫu. Tác giả Hoffman LM khi nghiên cứu trên 

12  người  bệnh  u  màng  não  thất  tái  phát  được  điều tri bằng xạ phẫu cho thấy tỷ lệ kiểm soát tại  chỗ sau 3 năm là 89%(2). 

Tác dụng phụ ít: 23,9% người bệnh có triệu  chứng tăng áp lực nội sọ sau điều trị và cần sử  dụng  thuốc  chống  phù  não;  11,9%  người  bệnh  rụng  tóc  vùng  chiếu  xạ.  Trước  đây  với  các  tổn  thương tại não đặc biệt là các tổn thương tại các 

vị trí cơ quan quan trọng, ở sâu, thường rất khó 

để can thiệp và hầu hết người bệnh tử vong sau  vài tháng. Hiện nay nhờ hệ thống xạ phẫu bằng  RGK  nhiều  khối  u  tại  não  và  bệnh  lý  sọ  não  được điều trị, mang lại kết quả khả quan. Kinh  nghiệm điều trị 67 bệnh nhi u não và bệnh lý sọ  não bằng RGK tại Trung tâm Y học hạt nhân và  Ung bướu‐Bệnh viện Bạch Mai, cho thấy đây là  một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, đặc  biệt cho các người bệnh nhỏ tuổi. Tuy nhiên cần 

có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa bác sỹ, gia đình  người bệnh và người bệnh để đánh giá hiệu quả  lâu dài. 

Một số trường hợp lâm sàng 

Bệnh nhân thứ nhất 

Bùi V. Ch., nữ, 13 tuổi  Tháng  10‐  2008,  người  bệnh  đi  khám  vì  có  biểu hiện co giật kiểu động kinh toàn thể. 

Cháu được khám bệnh và chụp phim cắt lớp 

vi tính sọ não đa dãy (MSCT) phát hiện một khối  AVM ở thùy trán trái.  

Trang 7

 

Hình 2: Hình ảnh MSCT trước điều trị: Khối dị dạng AVM (khối màu trắng nằm trong vòng tròn đỏ), ở bán cầu 

não trái, kích thước 3x4 cm, có nhiều cuống nuôi, ở vùng có chức năng. Phân độ III theo bảng phân độ AVM của  Spetzler và Martin. Người bệnh đau đầu, động kinh. 

Sau khi được hội chẩn bệnh nhi được điều trị 

bằng RGK với liều 18 Gy. 

Sau  xạ  phẫu  3  tháng,  kết  hợp  dùng  thuốc 

kháng  động  kinh  (Depakin  0,2  gram,  uống  2 

viên/ ngày), cháu không còn các triệu chứng co 

giật  và  không  có  dấu  hiệu  thần  kinh  khu  trú.  Người  bệnh  tiếp  tục  được  theo  dõi  lâm  sàng,  chụp phim MSCT hoặc MRI sọ não định kỳ 3‐6  tháng  1  lần.  Kết  quả  rất  tốt,  khối  AVM  có  kích  thước nhỏ dần và khỏi hoàn toàn sau 18 tháng. 

 

Hình 3: Kết quả phim chụp MSCT não sau 14 tháng điều trị: Không thấy hình ảnh dị dạng trên phim nhu mô 

não, trên phim tái tạo mạch máu thấy khối dị dạng nhỏ lại trên 70% (khối mạch máu trong vòng tròn đỏ) 

 

Hình 4: Kết quả phim chụp MSCT não sau 18 tháng điều trị: Không thấy hình ảnh dị dạng trên phim nhu mô 

não và trên phim tái tạo mạch máu thấy khối dị dạng. Người bệnh khỏi bệnh hoàn toàn (5)

Trang 8

Bệnh nhân thứ hai 

Nguyễn Gia H., 7 tuổi 

Gia  đình  nhận  thấy  cháu,  mặc  dù  còn  nhỏ 

tuổi nhưng đã xuất hiện hiện tượng dậy thì sớm 

như: Ria mép mọc nhiều, giọng nói thay đổi, lông 

chân  mọc  sớm,  dương  vật  to  hơn  bình  thường; 

tính tình hiếu động, thích quậy phá, đánh bạn bè, 

học tiếp thu chậm, không tập trung.  

Xét  nghiệm:  Xét  nghiệm  nội  tiết  tố 

Testosteron: 16mmol/l (cao hơn so với lứa tuổi vị 

thành niên (bình thường: <10mmol/l). Công thức  máu: bình thường. Sinh hóa máu: bình thường.  Điện  não  đồ:  có  sóng  động  kinh.  Trên  phim  chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não: thấy có khối  tổn  thương  ở  vị  trí  xung  quanh  củ  xám,  kích  thước khối u 3,2 x 2,8cm, đồng tín hiệu trên T1,  tăng  tín  hiệu  T2,  không  ngấm  thuốc  sau  tiêm.  Người  bệnh  được  xác  định  là  có  khối  u  Hamartoma (U mô thừa) ở vị trí quanh củ xám  của não. 

 

Hình 5: Hình ảnh MRI sọ não: Hình ảnh chụp cộng hưởng từ não của người bệnh 

Người  bệnh  đã  được  quyết  định  điều  trị 

bằng RGK, liều: 12Gy. 

Do còn nhỏ tuổi và ở trạng thái hay bị kích 

thích,  nên  người  bệnh  đã  được  gây  mê  nội  khí 

quản để tiến hành xạ phẫu. Người bệnh đã được 

tiến  hành  xạ  phẫu  bằng  RGK  vào  ngày 

26/06/2011. 

Đánh  giá  kết  quả  điều  trị  sau  3  năm:  Sau  3  năm  được  điều  trị  bằng  RGK  tại  Trung  tâm  Y  học  hạt  nhân  và  Ung  bướu  –  Bệnh  viện  Bạch  Mai:  Người  bệnh  đã  trở  lại  sinh  hoạt  bình  thường,  học  tập  tốt,  không  đau  đầu,  các  xét  nghiệm  trong  giới  hạn  bình  thường(4).  Kết  quả  chụp cộng hưởng từ sọ não cho thấy:  

 

Hình 6: Hình ảnh cộng hưởng sọ não từ trước điều trị: Kích thước khối u: 3,2 x 2,8cmHình ảnh cộng hưởng từ 

sọ não sau xạ phẫu 3 năm: Khối u đáp ứng tốt, chỉ còn hình ảnh tăng tín hiệu nhẹ trên T2, không ngấm thuốc đối  quang từ, kích thước 0,8 x1cm. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu 67 bệnh nhi u não và bệnh 

lý  tại  não  được  điều  trị  xạ  phẫu  bằng  RGK  từ 

7/2007 đến 07/2013 tại Trung tâm Y học hạt nhân 

và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy:  

Trang 9

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 

  Tuổi trung bình: 10,5 tuổi, tuổi thấp nhất 

là  4  tuổi,  cao  nhất  là  15  tuổi.  Tỉ  lệ  nam/nữ  là: 

1,8/1.  

  Dị  dạng  động  tĩnh  mạch  não:  22,4%;  u 

tuyến tùng 16,4%; u nguyên bào thần kinh; 7,5%; 

u máu thể hang 6,0%; u màng não thất 6,0%. 

  73,1% người bệnh có triệu chứng đau đầu; 

53,7% người bệnh buồn nôn, nôn; 25,4 % co giật; 

20,9%  người  bệnh  yếu  nửa  người;  6%  người 

bệnh có hội chứng tiểu não.  

  Vị  trí  tổn  thương:  Vùng  trán‐thái  dương 

hai bên: 56,7%; trong não thất: 6%; u vùng thân 

não  7,5%.  Kích  thước  tổn  thương  trung  bình: 

2,13 ±1,24 cm.  

  Liều  xạ  phẫu  trung  bình  14,4  Gy,  thấp 

nhất là 8 Gy, cao nhất là 20 Gy. 

Hiệu quả điều trị 

  55  người  bệnh  (82,1%)  cải  thiện  triệu 

chứng lâm sàng rõ rệt: giảm đau đầu, giảm buồn 

nôn, giảm kích thước khối u.  

  61,2% người bệnh đạt đáp ứng bệnh trong 

đó 22,4% đạt đáp ứng hoàn toàn. 

  Tỷ lệ đạt đáp ứng tốt và khỏi bệnh gặp ở 

nhóm dị dạng động tĩnh mạch não và u nguyên 

bào  thần  kinh  bậc  thấp.  Các  khối  u  sọ  hầu  đáp 

ứng kém hơn với xạ phẫu. Các khối u vùng thân 

não, u tuyến tùng có tiên lượng xấu 

  12 người bệnh (17,9%) đã tử vong vì khối 

u tiếp tục tiến triển sau điều trị    Tác  dụng  phụ  ít  23,9%  người  bệnh  tăng 

áp lực nội sọ sau điều trị 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Hà Kim Trung, (2006), ʹʹĐại cương u nãoʹʹ, Bài giảng Bệnh học  ngoại khoa, tập II Trường Đại học Y Hà nội, 118‐127. 

2 Hoffman LM, P.S., Foreman NK, Stence NV, Hankinson TC,  Handler  MH,  Hemenway  MS,  Vibhakar  R,  Liu  AK,  (2014),  ʹʹFractionated  stereotactic  radiosurgery  for  recurrent  ependymoma in children.ʹʹ, J Neurooncol, 116(1):107‐11. 

3 Mai Trọng Khoa, (2013), Điều trị u não và một số bệnh lý sọ  não bằng dao gamma quay,Nhà xuất bản Y học. 

4 Mai  Trọng  Khoa,  Nguyễn  Quang  Hùng  (2014),  ʺĐiều  trị  u  Hamartoma (U mô thừa) ở não bằng dao gamma quay Trung  tâm  y  học  hạt  nhân  và  ung  bướu  –  Bệnh  viện  Bạch  Maiʺ,  Http://ungthubachmai.com.vn. 

5 Mai Trọng Khoa,Vương Ngọc Dương, Đoàn Xuân Trường và 

CS  (2011),  ʺNhân  hai  trường  hợp  bệnh  nhân  bị  bệnh  thông  động tĩnh mạch não (AVM) điều trị thành công bằng Gamma  quayʺ, Http://ungthubachmai.com.vn. 

6 Massager, N., (2012), ʹʹGamma knife radiosurgeryʹʹ, Rev Med  Brux. 33(4):0035‐3639 (Print), 367‐70. 

7 Nanda R1, D.A., Janss A, Shu HK, Esiashvili N., (2014), ʹʹThe  feasibility  of  frameless  stereotactic  radiosurgery  in  the  management  of  pediatric  central  nervous  system  tumorsʹʹ,  J  Neurooncol, Feb 19. (Epub ahead of print). 

8 Ninh  Thị  Ứng,  (2010),  ʹʹU  não  ở  trẻ  emʹʹ,  http://www.nhp.org.vn/show.aspx?cat=021&nid=760.   

Ngày nhận bài báo:       10/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   27/11/2014  Ngày bài báo được đăng:    5/12/2014 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w