1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Căn nguyên của bệnh lý nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương tại Việt Nam

7 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 333,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đặt vấn đề về đa số các dữ liệu về tác nhân gây bệnh tại các quốc gia khu vực châu Á đều dựa chủ yếu trên số liệu của các bệnh viện lớn tuyến trung ương hơn là số liệu của các bệnh viện tuyến tỉnh (nơi đa số bệnh nhân nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương thường nhập viện ban đầu để điều trị).

Trang 1

CĂN NGUYÊN CỦA BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG

HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG TẠI VIỆT NAM

Hồ Đặng Trung Nghĩa * và Mạng lưới giám sát nhiễm trùng hệ TKTW VIZIONS **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đa số các dữ liệu về tác nhân gây bệnh tại các quốc gia khu vực châu Á đều dựa chủ yếu trên

số liệu của các bệnh viện lớn tuyến trung ương hơn là số liệu của các bệnh viện tuyến tỉnh (nơi đa số bệnh nhân nhiễm trùng hệ TKTW thường nhập viện ban đầu để điều trị)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả tiền cứu về nhiễm

trùng hệ TKTW ở người lớn và trẻ em tại 13 bệnh viện ở miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam từ 08/2007 đến 04/2010 Tác nhân gây bệnh được xác định trong dịch não tủy và máu bằng phương pháp nuôi cấy

* Bộ môn Nhiễm, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

** Mạng lưới giám sát nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương VIZIONS:

- Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Hồ Đặng Trung Nghĩa và Hoàng Thị Thanh Hằng)

- Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (Lê Thị Phương Tú, Nguyễn Văn Minh Hoàng, Nguyễn Thành Vinh, Phạm Văn Minh, Trần Vũ Thiếu Nga, Lê Văn Tấn,, James Campbell,

Maxine Caws,

- Jeremy Day, Menno D de Jong, H Rogier Van Doorn, Marcel Wolbers, Trần Tịnh Hiền, Jeremy Farrar và Constance Schultsz)

- Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TpHCM (Tô Song Diệp, Nguyễn Hoan Phú và Nguyễn Văn Vĩnh

Châu)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Đồng Tháp (Trần Quốc Lợi, Nguyễn Trường Sơn, Phan Văn Bé Bảy, Nguyễn Thị Hồng Thắm và Lê Thị Phượng)

- Bệnh viện ĐK khu vực Sa Đéc (Lê Trung Trí và Nguyễn Thị Nguyệt Bình)

- Bệnh viện ĐK tỉnh An Giang (Đoàn Công Du, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trương Thị Mỹ Tiến

và Trần Thị Phi La)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Kiên Giang (Bùi Văn Công, Phạm Ngọc Điệp, Dương Phước Đông, Trần Thị Mộng Lành và Phạm Văn Đởm)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Cà Mau (Trần Quang Dũng, Phan Nhứt Trí, Tăng Thị Hò và Nguyễn Anh Tài)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Bạc Liêu (Quách Văn Lực và Đinh Xuân Phước)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Sóc Trăng (Tăng Vũ, Huỳnh Thị Thu Thủy, Trần Thị Nguyệt Hồng, Âu Hữu Đức, Mạnh Ánh Mai và Nguyễn Hữu Thứ)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Trà Vinh (Lâm Thị Kim Ngọc)

- Bệnh viện Trung Ương Cần Thơ (Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Ngô Phúc Mỹ, Ngô Văn Út,

Lâm Tấn Phương, Lê Khánh Toàn và Đặng Quang Tâm)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Bình Phước (Hồ Đình Tùng)

- Bệnh viện ĐK tỉnh ĐakLak (Nguyễn Hai, Hoàng Ngọc Anh Tuấn, Hoàng Thị Thủy Tiên và Trần Thị Ngọc Oanh)

- Trần Thị Diễm Lan, Nguyễn Thái Thuận, Bùi Mạnh Hùng và Bùi Đức Phú)

- Bệnh viện ĐK tỉnh Khánh Hòa (Nguyễn Đông, Phan Thế Long, Nguyễn Thanh Ngân, Mang Thị Phương Mai, Phạm EnGa, Lưu Thị Minh Hương, Nguyễn Thị Thúy Ái, Nguyễn Ngọc Anh,

Nguyễn Văn Xáng và Nguyễn Mạnh Tiến)

- Bệnh viện Trung Ương Huế (Phan Trung Tiến, Nguyễn Thị Nam Liên, Trần Kiêm Hảo, Nguyễn Thị Như Lý, Trần Duy Hòa, Bùi Văn Đoàn, Dương Thị Bích Hoa, Trần Thị Thu Anh, Nguyễn Xuân Hiền, Võ Kim Thanh, Dương Văn Thông, Đinh Quang Tuấn, Phạm Thị Minh Khoa,

Hoàng Trọng Hanh

Trang 2

vi sinh, chẩn đoán sinh học phân tử và huyết thanh học

Kết quả: Chúng tôi thâu nhận 1241 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là nhiễm trùng hệ TKTW Tác

nhân gây bệnh được xác định ở 640/1241 (52%) bệnh nhân Tác nhân thường gặp nhất là Streptococcus suis serotype 2 ở người lớn (147/617, 24%) và siêu vi gây viêm não Nhật Bản ở trẻ em (142/624, 23%) Mycobacterium tuberculosis được xác định ở 34/616 (6%) bệnh nhân người lớn và 11/624 (2%) ở bệnh nhân trẻ

em

Kết luận: Tác nhân vi trùng và siêu vi trùng có nguồn gốc từ động vật là căn nguyên phổ biến nhất của

bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW ở người lớn và trẻ em Việt Nam

Từ khóa: căn nguyên, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, Streptococcus suis, viêm não Nhật Bản, lao

màng não

ABSTRACT

AETIOLOGIES OF CENTRAL NERVOUS SYSTEM INFECTION IN VIET NAM

Ho Dang Trung Nghia and the VIZIONS CNS Infection Network

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 62 - 68

Background: To date most data has come from patients admitted to tertiary referral hospitals in Asia and

there is limited aetiological data at the provincial hospital level where most patients are seen

Methods: We conducted a prospective Provincial Hospital-based descriptive surveillance study in adults

and children at thirteen hospitals in central and southern Viet Nam between August 2007 – April 2010 The pathogens of CNS infection were confirmed in CSF and blood samples by using classical microbiology, molecular diagnostics and serology

Results: We recruited 1241 patients with clinically suspected infection of the CNS An aetiological agent

was identified in 640/1241 (52%) of the patients The most common pathogens were Streptococcus suis serotype 2

in patients older than 14 years of age (147/617, 24%) and Japanese encephalitis virus in patients less than 14 years old (142/624, 23%) Mycobacterium tuberculosis was confirmed in 34/617 (6%) adult patients and 11/624 (2%) paediatric patients

Conclusions: Zoonotic bacterial and viral pathogens are the most common causes of CNS infection in adults

and children in Viet Nam

Key word: aetilology, CNS infection, Streptococcus suis, Japanese encephalitis, tuberculous meningitis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực hồi

sức và điều trị kháng sinh, bệnh lý nhiễm trùng

ở hệ TKTW vẫn là một loại bệnh lý hiểm nghèo,

đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển Theo

báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong

năm 2004 có khoảng 700000 đợt viêm màng não

và 70% các bệnh nhân này sống tại các quốc gia

ở châu Phi và vùng Đông Nam Á(19) Hằng năm,

vùng châu Á có khoảng 50000 trường hợp mắc

bệnh viêm não Nhật Bản để lại hậu quả là 15000

trường hợp tử vong và nhiều trường hợp sống

sót với di chứng tâm thần kinh(13) Lao màng não

cũng là một bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW thường gặp tại các quốc gia đang phát triển và thường có tỷ lệ tử vong cao do việc chậm trễ trong chẩn đoán, điều trị và tình trạng gia tăng kháng thuốc của vi trùng lao Tại Việt Nam, tỷ lệ

tử vong của bệnh lý này là 65% ở bệnh nhân nhiễm HIV và 25% ở bệnh nhân không nhiễm HIV(17) Để giảm tỷ lệ tử vong và di chứng của bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW, chúng ta cần tiến hành các nghiên cứu xác định căn nguyên nhằm góp phần xây dựng các chiến lược điều trị

và dự phòng bệnh hợp lý Căn nguyên của bệnh

lý này có thể thay đổi tùy thuộc nhiều yếu tố như thời gian, vùng địa lý, tuổi, bệnh nền đi

Trang 3

kèm, chương trình tiêm chủng và ngõ vào của

tác nhân gây bệnh(7-14) Tuy nhiên, các dữ liệu

dịch tễ liên quan đến căn nguyên của nhiễm

trùng hệ TKTW tại Việt Nam còn tương đối hạn

chế và thường có nguồn gốc từ các bệnh viện

tuyến trung ương ở các thành phố lớn Do đó,

chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả tiền

cứu tác nhân gây nhiễm trùng hệ TKTW tại các

bệnh viện tuyến tỉnh ở miền Trung, Tây Nguyên

và các tỉnh thành ở đồng bằng sông Cửu Long

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả giám sát tiền cứu dựa vào

bệnh viện (prospective hospital-based

descriptive surveillance study)

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng

thời gian từ tháng 08/2007 đến 04/2010 tại 13

bệnh viện, bao gồm bệnh viện đa khoa (BVĐK)

khu vực Sa Đéc, 10 BVĐK cấp tỉnh (Đồng Tháp,

An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc

Liêu, Cà Mau, Bình Phước, Đak Lak và Khánh

Hòa) và 2 bệnh viện tuyến trung ương (Cần Thơ

và Huế)

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn lâm sàng

nghi ngờ nhiễm trùng hệ TKTW như sau: ít nhất

1 tháng tuổi; sốt  380C; có ít nhất 1 trong các

triệu chứng sau: nhức đầu, cổ gượng, thay đổi

tri giác và có dấu thần kinh định vị; và có chọc

dịch não tủy (DNT) Bệnh nhân được loại khỏi

nghiên cứu nếu họ hoặc người thân từ chối ký

thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu

Cách thức tiến hành

Sau khi ký thỏa thuận đồng ý tham gia

nghiên cứu, bác sĩ điều trị sẽ ghi nhận các thông

tin dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng vào phiếu

thu thập số liệu Ngoài lượng DNT được gửi

làm xét nghiệm tế bào, sinh hóa và vi sinh

(nhuộm Gram và nuôi cấy phân lập vi khuẩn) ở

phòng xét nghiệm bệnh viện tỉnh, mỗi bệnh

nhân sẽ được lưu giữ 0.5-1.0 ml DNT ở nhiệt độ

-200C và sau đó được chuyển về khoa xét nghiệm kỹ thuật cao Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (BVBNĐ) để khảo sát thêm về nguyên nhân gây bệnh, bao gồm kỹ thuật real-time PCR (chẩn

đoán Streptococcus suis serotype 2, Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae type b, Neisseria meningitidis, Mycobacterium tuberculosis, Herpes simplex 1/2, Enteroviruses) và kỹ thuật

JEV/DENV IgM ELISA (Venture Technologies Sdn Bhd Malaysia) chẩn đoán Dengue và viêm não Nhật Bản Ngoài ra, các chủng vi khuẩn phân lập từ máu và DNT cũng được chuyển về

BVBNĐ để định danh và làm kháng sinh đồ

Một số định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu

Người lớn và trẻ em

Theo quy định của Việt Nam, bệnh nhân được gọi là trẻ em khi nhỏ hơn 15 tuổi và bệnh nhân có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên được gọi là người lớn

Các định nghĩa ca bệnh trong nghiên cứu

Định nghĩa ca bệnh viêm màng não mủ, viêm não siêu vi và lao màng não trong nghiên cứu này dựa trên định nghĩa ca bệnh viêm màng não mủ và viêm não siêu vi của WHO(20) và định nghĩa đồng thuận chẩn đoán lao màng não(15) Một bệnh nhân được xếp vào nhóm “không phải nhiễm trùng hệ TKTW” nếu có các thông số DNT trong giới hạn bình thường, không xác định được tác nhân và có chẩn đoán ra viện không liên quan đến nhiễm trùng hệ TKTW như tai biến mạch máu não, động kinh, rối loạn tâm thần, ngộ độc (thuốc, rượu), hôn mê gan, nhiễm trùng huyết hay sốt cao co giật lành tính ở trẻ em

KẾT QUẢ

Từ tháng 8/2007 đến 04/2010, 1740 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu Dữ liệu lâm sàng không thu thập được từ 95 bệnh nhân Sau khi phân tích dữ liệu lâm sàng và xét nghiệm, chúng tôi loại ra 247 trẻ em và 157 người lớn vì các bệnh nhân này được xếp vào nhóm “không phải nhiễm trùng hệ TKTW” Do

Trang 4

đó, còn lại 1241 bệnh nhân (617 người lớn và 624

trẻ em) được đưa vào phân tích căn nguyên

nhiễm trùng hệ TKTW (xem hình 1)

Căn nguyên của nhiễm trùng hệ TKTW

Tác nhân gây bệnh được xác định ở 640/1241

(52%) bệnh nhân (xem bảng 1) Tác nhân gây

bệnh thường gặp nhất là S suis serotype 2 ở

người lớn (147/617, 24%) và siêu vi viêm não

Nhật Bản (VNNB) ở trẻ em (142/624, 23%)

Mycobacterium tuberculosis được xác định bằng kỹ thuật PCR ở 34/617 (6%) người lớn và 11/624 (2%) trẻ em Tình trạng đồng nhiễm được ghi nhận ở 22 bệnh nhân (12 người lớn và 10 trẻ em) Tình trạng này chủ yếu gặp ở bệnh nhân nhiễm siêu vi Dengue và một tác nhân vi khuẩn (9/22) hoặc nhiễm siêu vi viêm não Nhật Bản và một tác nhân vi khuẩn (7/22)

Hình 1 Quá trình tuyển chọn bệnh nhân nghiên cứu

(*) Chẩn đoán khác bao gồm viêm xoang (5), u não (9), sốt rét ác tính (8), tâm thần (7), nhức đầu (7), thương hàn

(5), sốt không rõ nguyên nhân (6), bệnh tự miễn (12), tiêu chảy (6), thoát vị đĩa đệm CS thắt lưng (2), bệnh tim bẩm sinh (2), não úng thủy (1), uốn ván (1), thiếu máu nặng (1) và viêm đại tràng mạn (1)

Bảng 1 Căn nguyên của nhiễm trùng hệ TKTW Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn

(n=617)

Trẻ em (n=624)

Vi trùng

Không phải nhiễm trùng TKTW

(247 trẻ em):

Sốt cao co giật (85 trẻ) Nhiễm siêu vi (38

trẻ) Nhiễm trùng huyết (23 trẻ)

Động kinh (18 trẻ)

Viêm phổi (14 trẻ)

Viêm họng (14 trẻ)

Hôn mê chuyển hóa (9 trẻ)

Lỵ trực trùng (7 trẻ)

Đột quỵ (5 trẻ) Chẩn đoán khác* (34 trẻ)

Thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh

826 người lớn

914 trẻ em

Thiếu thông tin lâm sàng

52 người lớn

43 trẻ em

Đủ thông tin lâm sàng

774 người lớn

871 trẻ em

Không phải nhiễm trùng TKTW

(157 người lớn):

Nhiễm trùng huyết (32 bệnh nhân) Đột quỵ (24 bệnh nhân) Viêm phổi (22 bệnh nhân) Hôn mê chuyển hóa (20 bệnh nhân) Nhiễm siêu vi (15 bệnh nhân) Động kinh (8 bệnh nhân) Chẩn đoán khác* (36 bệnh nhân)

Phân tích căn nguyên

617 người lớn

624 trẻ em

Trang 5

Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn

(n=617)

Trẻ em (n=624)

Streptococcus suis serotype 2 147 (23,82) -

Streptococcus pneumoniae 35 (5,67) 37 (5,93)

Haemophilus influenzae type b - 39 (6,25)

Neisseria meningitidis 4 (0,65) 6 (0,96)

Streptococcus spp 2 (0,32) -

Staphylococcus spp 1 (0,16) 3 (0,48)

Escherichia coli 2 (0,32) 2 (0,32)

Acinetobacter spp 1 (0,16) 1 (0,16)

Klebsiella pneumoniae 5 (0,81) 1 (0,16)

Enterococcus spp 1 (0,16) -

Salmonella spp - 2 (0,32)

Siêu vi trùng

Siêu vi viêm não Nhật Bản (VNNB) 11 (1,78) 142

(22,76) Siêu vi Dengue (DENV) 23 (3,73) 14 (2,24)

Enteroviruses 20 (3,24) 36 (5,77)

Herpes simplex 22 (3,57) 14 (2,24)

Lao

Mycobacterium tuberculosis 34 (5,51) 11 (1,76)

Nấm

Cryptococcus neoformans 2 (0,32) -

Đồng nhiễm

DENV + S, suis serotype 2 2 (0,32) -

DENV + S, pneumoniae 1 (0,16) -

DENV + N, meningitidis 1 (0,16) -

DENV + H, influenzae type b - 3 (0,48)

DENV + M, tuberculosis 2 (0,32) -

DENV + VMN tăng BC ái toan* 2 (0,32)

VNNB + S, pneumoniae 1 (0,16) -

VNNB + N,meningitidis - 1 (0,16)

VNNB + H, influenzae type b - 3 (0,48)

VNNB + Salmonella spp - 1 (0,16)

VNNB + Staphylococcus spp - 1 (0,16)

Enteroviruses + H, influenzae type b - 1 (0,16)

Enteroviruses + M, tuberculosis 1 (0,16) -

K, pneumoniae + M, tuberculosis 1 (0,16) -

K, pneumoniae + Herpes simplex 1 (0,16) -

Không xác định được tác nhân 295 (47,81) 306

(49,04)

* Số lượng BC ái toan trong DNT là 352/880 (40%)

ở 1 bệnh nhân và 330/1320 (25%) ở bệnh nhân còn

lại

Tác nhân gây bệnh viêm màng não mủ

(VMNM)

Tác nhân vi khuẩn được xác định ở 198/302

(66%) bệnh nhân viêm màng não mủ người lớn

bằng phương pháp nuôi cấy hoặc real-time

PCR Trong đó, S suis serotype 2 gây bệnh ở

147/302 (49%) bệnh nhân Tỷ lệ này gấp 4 lần tỷ

lệ của tác nhân S pneumoniae (35/302, 12%) Ở trẻ

em, H influenzae type B (39/150,26%) và S pneumoniae (37/150, 25%) là tác nhân chính gây

VMNM (xem bảng 2)

Bảng 2 Tác nhân gây bệnh viêm màng não mủ

(không kể trường hợp đồng nhiễm)

Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn

(n=302)

Trẻ em (n=150)

Streptococcus suis serotype 2* 147 (48,68) -

Streptococcus pneumoniae* 35 (11,59) 37 (24,67)

Haemophilus influenzae type b* - 39 (26,00)

Neisseria meningitidis* 4 (1,32) 6 (4,00)

Streptococcus spp 2 (0,66) -

Staphylococcus spp 1 (0,33) 3 (2,00)

Escherichia coli 2 (0,66) 2 (1,33)

Acinetobacter spp 1 (0,33) 1 (0,67)

Klebsiella pneumoniae 5 (1,66) 1 (0,67)

Enterococcus spp 1 (0,33) -

Salmonella spp - 2 (1,33) Không xác định được tác nhân 104 (34,44) 59 (39,33)

* Được xác định bởi phương pháp real-time PCR và/hoặc nuôi cấy Tất cả các tác nhân khác chỉ được xác định bằng nuôi cấy

Tác nhân gây viêm não/viêm màng não siêu vi (VN/VMNSV)

Siêu vi viêm não Nhật Bản là tác nhân gây bệnh xác định được thường gặp nhất ở trẻ viêm não (142/432, 33%) Siêu vi Dengue, nhóm

enterovirus và Herpes simplex là tác nhân siêu vi

xác định được thường gặp ở người lớn với tỷ lệ khoảng 10% cho mỗi tác nhân (xem bảng 3) Tác nhân gây bệnh không xác định được ở 359/641 (56%) bệnh nhân viêm não

Bảng 3 Tác nhân gây viêm não/viêm màng não siêu

vi (loại trừ trường hợp đồng nhiễm)

Tác nhân gây bệnh,

n (%)

Người lớn (n=209)

Trẻ em (n=432)

Giá trị

p 1

Siêu vi VNNB 11 (5,26) 142 (32,87) <0,001 Siêu vi Dengue 23 (11,00) 14 (3,24) <0,001 Enteroviruses 20 (9,57) 36 (8,33) 0,603

Herpes simplex 22 (10,53) 14 (3,24) <0,001 Không xác định

được tác nhân

133 (63,64) 226 (52,31) 0,007

1 Chi-squared test hoặc Fisher’s exact test (khi một hay

Trang 6

nhiều tần số lý thuyết nhỏ hơn 5)

Lao màng não

Khoảng 10% (122/1241) bệnh nhân bị nhiễm

trùng hệ TKTW được chẩn đoán lâm sàng là lao

màng não, trong đó 87/617 (14%) là bệnh nhân

người lớn và 31/624 (5%) là bệnh nhi ADN của

vi khuẩn lao được xác định trong DNT của 49

bệnh nhân (49/122, 40%) bằng phương pháp

real-time PCR

BÀN LUẬN

Đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát tác

nhân gây bệnh của bệnh lý nhiễm trùng hệ

TKTW tại các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh ở Việt

Nam Các bệnh viện tham gia nghiên cứu hoạt

động như là cơ sở khám chữa bệnh ban đầu của

bệnh nhân bị nhiễm trùng hệ TKTW trong khu

vực quản lý của bệnh viện Do đó, số liệu ghi

nhận trong nghiên cứu này phản ánh mức độ

bệnh tật cũng như các tác nhân gây bệnh liên

quan trong dân số Tác nhân S suis serotype 2 là

tác nhân gây viêm màng não mủ thường gặp

nhất ở người lớn Tác nhân này chiếm tỷ lệ cao

gấp 4 lần tỷ lệ của tác nhân S pneumoniae, một

tác nhân gây viêm màng não mủ thường gặp

nhất tại châu Âu và Hoa Kỳ(8,4) Kết quả của

nghiên cứu này giúp khẳng định lại kết quả của

các nghiên cứu trước ở các bệnh viện tuyến

trung ương ghi nhận S suis là tác nhân gây

VMNM thường gặp nhất ở người trưởng thành

Việt Nam(10,18) Siêu vi VNNB là tác nhân gây

bệnh nhiễm trùng hệ TKTW thường gặp nhất ở

trẻ em (142/624, 23%) Các kết quả này cho thấy

rõ ràng tầm quan trọng của bệnh lý nhiễm trùng

có nguồn gốc từ động vật ở Việt Nam, trong đó

heo là ký chủ tàng trữ chính của cả 2 tác nhân

gây bệnh này

Thuốc chủng ngừa H influenzae type B được

đưa vào tiêm chủng mở rộng của Việt Nam từ

tháng 06/2010 Do đó, tác nhân này vẫn là tác

nhân gây VMNM phổ biến nhất ở trẻ em Việt

Nam trong nghiên cứu này, tương tự như ở các

quốc gia khác trước khi thuốc chủng ngừa được

đưa vào chương trình tiêm chủng(1-9)

KẾT LUẬN

Chúng tôi xác định được tác nhân gây bệnh

ở 640/1241 (52%) trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng hệ TKTW bằng phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử, huyết thanh học và nuôi cấy

Ba tác nhân gây bệnh thường gặp nhất ở trẻ em

là siêu vi VNNB, H influenzae type b và S pneumoniae Trong khi đó, S suis serotype 2 là

nguyên nhân gây bệnh ở khoảng ¼ số bệnh nhân người lớn bị nhiễm trùng hệ TKTW hoặc ở gần ½ các trường hợp viêm màng não mủ ở người trưởng thành Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al-Tawfiq, J.A., Abukhamsin A (2009), Burden and etiology of community-acquired bacterial meningitis in a hospital in Eastern

Saudi Arabia: 1993-2005 Med Sci Monit 15(2): p PI10-14

2 Casas, I, Tenorio A., de Ory F, Lozano A., and Echevarria JM (1996), Detection of both herpes simplex and varicella-zoster

viruses in cerebrospinal fluid from patients with encephalitis J

Med Virol 50(1): p 82-92

3 Cho HK, Lee H, Kang JH, et al (2010), The causative organisms

of bacterial meningitis in Korean children in 1996-2005 J Korean

Med Sci 25(6): p 895-9

4 Gjini AB, Stuart JM, Lawlor DA, et al (2006), Changing epidemiology of bacterial meningitis among adults in England

and Wales 1991-2002 Epidemiol Infect 134(3): p 567-9

5 Le Van Tan, Phan Tu Qui, Do Quang Ha, et al (2010), Viral etiology of encephalitis in children in southern Vietnam: results

of a one-year prospective descriptive study PLoS Negl Trop Dis

4(10): p e854

6 Lo Re, V., 3rd and Gluckman SJ (2003), Eosinophilic meningitis

Am J Med 114(3): p 217-23

7 Lu CH, Huang CR, Chang WN, et al (2002), Community-acquired bacterial meningitis in adults: the epidemiology, timing

of appropriate antimicrobial therapy, and prognostic factors Clin

Neurol Neurosurg 104(4): p 352-8

8 Marlene LD, Stephen BC, David JW, et al (1993), Acute

bacterial meningitis in adults A review of 493 episodes N Engl J

Med 328(1): p 21-8

9 Molyneux E, Riordan FA, and Walsh A (2006), Acute bacterial meningitis in children presenting to the Royal Liverpool Children's Hospital, Liverpool, UK and the Queen Elizabeth

Central Hospital in Blantyre, Malawi: a world of difference Ann

Trop Paediatr, 26(1): p 29-37

suis meningitis in adults in Vietnam Clin Infect Dis 46(5): p

659-67

11 Ooi MH, Wong SC, Podin Y, et al (2007), Human enterovirus 71 disease in Sarawak, Malaysia: a prospective clinical, virological,

and molecular epidemiological study Clin Infect Dis 44(5): p

646-56

12 Peltola H (2000), Worldwide Haemophilus influenzae type b disease at the beginning of the 21st century: global analysis of the disease burden 25 years after the use of the polysaccharide

vaccine and a decade after the advent of conjugates Clin

Trang 7

Microbiol Rev 13(2): p 302-17

13 Solomon T, Dung NM, Kneen R, et al., (2000) Japanese

encephalitis J Neurol Neurosurg Psychiatry, 68(4): p 405-15

14 Solomon, T (2004), Flavivirus encephalitis N Engl J Med 351(4):

p 370-8

15 Suzaan M, Guy Th, Johan FS, et al (2010), Tuberculous

meningitis: a uniform case definition for use in clinical research

Lancet Infect Dis 10(11): p 803-12

16 Tang YW, Espy MJ, Persing DH, and Smith TF (1997),

Molecular evidence and clinical significance of herpesvirus

coinfection in the central nervous system J Clin Microbiol,

35(11): p 2869-72

Dexamethasone for the treatment of tuberculous meningitis in

adolescents and adults N Engl J Med 351(17): p 1741-51

Streptococcus suis, an important cause of adult bacterial

meningitis in northern Vietnam PLoS One 4(6): p e5973

19 WHO, The global burden of diseases: (2004) update 2008, Geneva, Switzerland: World Health Organization

vaccine-preventable diseases Revised July 2008 ed 2003, Geneva, Switzerland: World Health Organisation

Ngày đăng: 20/01/2020, 19:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm