1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh hiệu quả và các biến chứng giữa bệnh nhân mổ lần đầu và bệnh nhân có tiền căn mổ hở lấy sỏi thận trong phương pháp lấy sỏi thận qua da tại Bệnh viện Bình Dân

12 125 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 637,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm so sánh hiệu quả và các biến chứng giữa hai nhóm: Nhóm bệnh nhân mổ lần đầu và nhóm bệnh nhân có tiền căn mổ hở lấy sỏi trên thận mổ nhằm đánh giá khả năng áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da trên những bệnh nhân có tiền căn mổ hở.

Trang 1

SO SÁNH HIỆU QUẢ VÀ CÁC BIẾN CHỨNG GIỮA BỆNH NHÂN MỔ LẦN ĐẦU VÀ BỆNH NHÂN CÓ TIỀN CĂN

MỔ HỞ LẤY SỎI THẬN TRONG PHƯƠNG PHÁP LẤY SỎI THẬN

QUA DA TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Nguyễn Đình Xướng*, Vũ Lê Chuyên**, Nguyễn Tuấn Vinh**, Đào Quang Oánh**,

Lê Sĩ Hùng**, Nguyễn Vĩnh Tuấn**, Vũ Văn Ty**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu So sánh hiệu quả và các biến chứng giữa hai nhóm: nhóm bệnh nhân mổ lần đầu

và nhóm bệnh nhân có tiền căn mổ hở lấy sỏi trên thận mổ nhằm đánh giá khả năng áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da trên những bệnh nhân có tiền căn mổ hở

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Những bệnh nhân được mổ bằng phương pháp lấy sỏi thận

qua da tại bệnh viện Bình Dân từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 12 năm 2007 trong một nghiên cứu mô tả tiền cứu

Kết quả 175 bệnh nhân gồm 113 bệnh nhân mổ lần đầu chiếm 64,6% và 62 bệnh nhân có tiền căn mổ

hở chiếm 35,4% có tỉ lệ so sánh nam – nữ, thận mổ (phải – trái), độ ứ nước, độ của trục đài thận để chọc không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê So sánh hiệu quả chung tỉ lệ tốt ở nhóm mổ lần đầu là 68,1%, nhóm có tiền căn mổ hở là 62,9% Tỉ lệ phải truyền máu ở nhóm mổ lần đầu là 5,4%, nhóm có tiền căn mổ

hở là 4,8% Tỉ lệ sót sỏi nhóm mổ lần đầu là 23,6%, nhóm có tiền căn mổ hở là 33,3% Thời gian nằm viện trung bình của nhóm mổ lần đầu là 7,17 ngày và nhóm có tiền căn mổ hở là 7,85 ngày Sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê Riêng thời gian mổ trung bình có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p = 0,04 (78,4 phút ở nhóm mổ lần đầu và 70,3 phút cho nhóm có tiền căn mổ hở)

Kết luận Phương pháp lấy sỏi thận qua da áp dụng trên những bệnh nhân có tiền căn mổ hở lấy sỏi

thận trên thận mổ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả, tỉ lệ phải truyền máu, tỉ lệ sót sỏi Thời gian mổ trung bình ở nhóm có tiền căn mổ hở ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm mổ lần đầu

ABSTRACT

COMPARISON THE EFFICACY AND COMPLICATIONS BETWEEN THE PATIENTS WITH OR WITHOUT OPEN NEPHROLITHOTOMY HISTORY

IN PERCUTANEOUS NEPHROLITHOTOMY IN BINH DAN HOSPITAL

Nguyen Dinh Xuong, Vu Le Chuyen, Nguyen Tuan Vinh, Dao Quang Oanh, Le Si Hung, Nguyen Vinh Tuan,

Vu Van Ty * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 342 - 351

Objectives To compare the efficacy and complications between two groups: The patients with or

without history of open nephrolithotomy in order to evaluate the feasibility of the method of percutaneous nephrolithotomy (PCNL) on the patients with history of open stone surgery

Methods The prospective, descriptive study of the patients undergone percutaneous nephrolithotomy

in Binh Dan hospital from December 2005 to December 2007

Results In 175 patients, 113 were primary stone intervention made up 64.6% and 62 had history of

open stone surgery made up 35.4% had no significant difference of the proportion of male – female, the

* Khoa Ngoại tổng hợp II BV Nguyễn Tri Phương

** Bệnh viện Bình Dân

Trang 2

intervention kidney (right – left), hydronephrosis, the angle of the axis of involved calyx The proportion of excellent outcome of the primary intervention group were 68.1%, and 62,9% in compared group The proportions of transfusion were 5.4% in the primary intervention group and 4.8% in compared group The proportions of residual stone were 23.6% of the primary intervention group and 33.3% in the compared group The average of hospital stay of the primary intervention group was 7.17 days and 7.85 days for compared group The difference between two groups was not statistically significant However the average time of operation of the primary intervention group was significantly longer than the compared group (78.4 minutes to 70.3 minutes) p = 0.04

Conclusion Percutaneous nephrolithotomy on the patients with history of open kidney stone surgery

had no significant difference in efficacy, proportion of transfusion, proportion of residual stone The average

of intervention time was significantly longer in primary intervention group in comparison with group of open stone surgery history

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lấy sỏi thận qua da (Percutaneous

Nephrolithotomy – PCNL) là kỹ thuật mới Năm

1955 Goodwin và Casey đã mô tả bệnh nhân

đầu tiên được đặt trocar trực tiếp vào hệ thống

bài tiết qua da Cuối những năm 1960 và đầu

những năm 1970, kỹ thuật chọc kim và đặt

catheter vào hệ thống bài tiết đã bị giãn được mô

tả Sau này dựa trên nguyên lý của phương pháp

Seldinger, trong tiết niệu đã ứng dụng đặt một

dây dẫn vào hệ thống bài tiết qua kim chọc vào

hệ thống này trước đó Thông qua dây dẫn này

đặt các catheter đồng trục vào trong hệ thống bài

tiết để dẫn lưu Năm 1976 Fernstrom và

Johannson lần đầu tiên thực hiện kỹ thuật lấy sỏi

thận qua da Vài năm sau, vào năm 1979 Smith

và cộng sự tại trường đại học Minnesota bắt đầu

tiến hành lấy sỏi thận và niệu quản qua đường

mở thận qua da năm 1981 Alken và cộng sự ở

Tây Đức, năm 1983 Wickham và cộng sự ở Anh

đã thực hiện kỹ thuật lấy sỏi thận qua da thông

qua một đường mở thận ra da đã được nong

rộng trước đó Năm 1983 Segura và cộng sự đã

đã chứng minh có thể lấy sỏi thận qua da ngay

sau khi nong đường chọc vào hệ thống bài tiết

một cách an toàn Từ đó phương pháp lấy sỏi

thận qua da đã trở thành một trong những

phương pháp điều trị ngoại khoa sỏi tiết niệu và

thời gian nằm viện của bệnh nhân giảm đáng

kể(7,8,13)

Tại Việt Nam, năm 1997 Vũ Văn Ty và cộng

sự tại khoa niệu bệnh viện Bình Dân đã tiến

hành kỹ thuật lấy sỏi thận qua da và thu được một số kết quả ban đầu Năm 2001 tại bệnh viện Việt Pháp Hà nội cũng đã tiến hành kỹ thuật lấy sỏi thận qua da và cho thấy tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này Cùng với tán sỏi ngoài cơ thể (Extracorporeal Shock Wave Lithotripsy – ESWL), lấy sỏi thận qua da đã trở thành phương pháp được lựa chọn để điều trị sỏi thận và sỏi 1/3 trên niệu quản

Phải mổ lại trên những bệnh nhân có tiền căn đã mổ hở vào thận luôn luôn là thách thức với các nhà ngoại khoa do tổ chức bị viêm dính, mất các ranh giới giải phẫu do đó thường trên những bệnh nhân đã có mổ hở trước đó tỉ lệ các biến chứng cũng cao hơn Với kỹ thuật mới nhờ

áp dụng các trang thiết bị hiện đại phạm vi chỉ định mổ được mở rộng hơn Trong kỹ thuật lấy sỏi thận qua da cũng vậy Từ việc phải tiến hành lấy sỏi làm hai thì cách nhau khoảng 1 tuần (thì chọc và nong vào thận, thì soi lấy sỏi) nay cả hai thì chỉ cần làm trong một cuộc mổ Từ nong vào thận bằng ống cứng đồng trục Alken đến nong bằng các ống mềm rồi nong bằng bóng và gần đây là nong bằng nong Webb với một lần nong duy nhất Từ dẫn lưu thận bằng ống lớn sau mổ đến dẫn lưu thận bằng ống nhỏ và gần đây là các kỹ thuật không dẫn lưu sau mổ trong phương pháp lấy sỏi thận qua da Từ việc áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da trên những bệnh nhân thông thường đến việc áp dụng rộng rãi hơn cho những bệnh nhân đặc

Trang 3

biệt như: Thận móng ngựa, thận ghép, thận lạc

chỗ(5,13,15)

Basiri A và cộng sự(3) ở University of

Medical Science, Tehran – Iran đã nghiên cứu

so sánh 2 nhóm: Nhóm A gồm 51 nam và 14

nữ có tiền căn ít nhất một lần mổ sỏi thận,

nhóm B gồm 73 nam và 44 nữ được mổ lần

đầu kết quả cho thấy tỉ lệ sót sỏi nhóm A là

6,15%, nhóm B là 8,55%, sự khác biệt không có

ý nghĩa thống kê với p = 0,77 Tỉ lệ chọc và

nong vào hệ bài tiết không thành công nhóm A

là 6,2%, nhóm B là 5,1% với p = 0,74 Tỉ lệ viêm

thận bể thận và chảy máu bất thường cũng

không có sực khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p lần lượt là 0,72 và 0,74 Các tác giả đi đến kết

luận rằng tiền căn có mổ hở hay không không

ảnh hưởng đến hiệu quả và các biến chứng

trong phương pháp lấy sỏi thận qua da

Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào so sánh

giữa hai nhóm mổ lần đầu và nhóm có tiền căn

mổ hở Để góp phần tìm hiểu yếu tố tiền căn mổ

hở lên hiệu quả và các biến chứng trong phương

pháp lấy sỏi thận qua da chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh hiệu quả và các biến chứng giữa hai

nhóm: mổ lần đầu và có tiền căn mổ hở vào thận

trong phẫu thuật lấy sỏi thận qua da

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân bị sỏi niệu quản đoạn hông lưng,

sỏi thận được chỉ định mổ lấy sỏi bằng phương

pháp lấy sỏi thận qua da (PCNL: Percutaneous

Nephro-Lithotomy) tại bệnh viện Bình Dân từ

tháng 12/2005 đến tháng 12/2007

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Tất cả những bệnh nhân được mổ lấy sỏi

thận và sỏi niệu quản trên bằng phương pháp

lấy sỏi thận qua da tại bệnh viện Bình dân từ

tháng 12 năm 2005 đến tháng 12 năm 1007

Tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả những bệnh nhân đã lên chương trình

mổ theo phương pháp lấy sỏi thận qua da, nhưng vì những lý do như: gây mê hồi sức, điều kiện phòng mổ, dụng cụ hoặc thay đổi phương pháp mổ khác… không tiến hành lấy sỏi thận qua da quyết định trước khi tiến hành đặt thông niệu quản

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiền cứu

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được thu thập vào Phiếu thu thập số liệu thống nhất cho tất cả các bệnh nhân và xử lý

bằng phần mềm SPSS for Windows Các test so sánh lấy giá trị p = 0,05

Đánh giá hiệu quả chung được chia làm 4 mức độ

Tốt: Lấy hết sỏi, không biến chứng

Khá:

+ Lấy không hết sỏi nhưng không phải can thiệp bổ sung bằng phương pháp khác (mảnh sỏi nhỏ có thể tự thoát ra)

+ Thủng hoặc rách đài bể thận nhưng không phải can thiệp

bổ sung bằng các biện pháp khác

Trung bình: Có các biến chứng như ở loại

khá và phải can thiệp bổ sung bằng các phương pháp khác để giải quyết (nội soi niệu quản, tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi qua da lần hai…)

Kém:

+ Không tiến hành lấy sỏi thận qua da được phải chuyển qua phương pháp khác

+ Có các biến chứng phải chuyển qua mổ hở

để giải quyết + Chảy máy phải truyền máu

+ Bệnh nhân tử vong mà nguyên nhân liên quan trực tiếp

đến phương pháp lấy sỏi thận qua da

Trang 4

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ tháng 12 năm 2005 đến

tháng 12 năm 2007 chúng tôi đã tiến hành lấy sỏi

thận qua da trên 175 bệnh nhân Phân bố dân số

nghiên cứu như sau:

Tuổi

175

N =

90

80

70

60

50

40

30

20

10

Biểu đồ 1 Phân bố theo tuổi bệnh nhân

Bảng 1: Tuổi bệnh nhân

Th ấ p

nh ấ t

Cao nh ấ t Trung

bình

Độ l ệ ch chu ẩ n

T ổ ng s ố

Giới

100

80

60

40

20

0

Biểu đồ 2 Phân bố theo giới tính

Bảng 2: Giới tính

Trọng lượng

175

N =

90

80

70

60

50

40

30

20

Biểu đồ 3 Phân bố theo trọng lượng bệnh nhân

Bảng 3: Trọng lượng bệnh nhân

Th ấ p nh ấ t Cao nh ấ t Trung bình Độ l ệ ch chu ẩ n T ổ ng

s ố

Thận mổ

Biểu đồ 4 Phân bố thận mổ

Trang 5

Bảng 4:Phân bố thận mổ

Số lượng sỏi

100

80

60

40

20

0

Biểu đồ 5 Phân bố số lượng sỏi

Bảng 5: Số lượng sỏi

Tỉ lệ bệnh nhân có tiền căn mổ hở sỏi thận

120

100

80

60

40

20

0

Biểu đồ 6 Phân bố theo tỉ lệ bệnh nhân có tiền căn

mổ hở trên thận mổ

Bảng 6: Tỉ lệ bệnh nhân có tiền căn mổ hở trên thận

mổ

T ỉ l ệ b ệ nh nhân có ti ề n

c ă n m ổ h ở s ỏ i th ậ n S ố l ượ ng T ỉ l ệ %

Thời gian mổ (phút)

160.0 140.0 120.0 100.0 80.0 60.0 40.0

60

50

40

30

20

10

0

Biểu đồ 7 Phân bố thời gian mổ Bảng 7: Thời gian mổ

Th ấ p nh ấ t Cao nh ấ t Trung bình Độ l ệ ch

chu ẩ n T ổ ng s ố

Khuyết 9 bệnh nhân chuyển qua mổ hở trước khi kết thúc mổ lấy sỏi qua da (bệnh nhân số: 2, 9, 42, 66, 72, 74, 76, 93, 105)

Bảng 8: So sánh hai nhóm bệnh nhân: nhóm mổ lần đầu

và nhóm có tiền căn mổ hở sỏi thận trên thận mổ

ĐẦ U

TI Ề N C Ă N CÓ

M Ổ H Ở

GIÁ TR Ị

P

Gi ớ i

nam

n ữ

34,3%

30,3%

18,8%

16,6%

0,98

Th ậ n m ổ

ph ả i trái

36,6%

28,0%

16,0%

19,4%

0,14

Độ ứ n ướ c

không ứ n ướ c

độ I

độ II

độ III

20,6%

14,3%

22,9%

6,9%

10,9%

8,6%

11,4%

4,6%

0,94

Trang 6

Y Ế U T Ố M Ổ L Ầ N

ĐẦ U

TI Ề N C Ă N CÓ

M Ổ H Ở

GIÁ TR Ị

P

0 đế n 30

31 đế n 90

trên 90

6,9%

52,6%

5,1%

0,6%

32,6%

2,3%

Th ờ i gian m ổ

Th ờ i gian n ằ m

Ảnh hưởng đến hiệu quả chung

Bảng 9: So sánh hiệu quả giữa bệnh nhân mổ lần đầu

với bệnh nhân có tiền căn mổ hở sỏi thận trên thận

mổ

Hi ệ u qu ả chung

Ti ề n c ă n m ổ

h ở s ỏ i th ậ n T ố t Khá Trung bình Kém

T ổ ng

P = 0.10 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

100

80

60

40

20

0

Biểu đồ 8 Hiệu quả giữa hai nhóm bệnh nhân

Ảnh hưởng đến biến chứng chảy máu

Bảng 10: So sánh tỉ lệ chảy máu giữa hai nhóm

T ỉ l ệ bi ế n ch ứ ng ch ả y máu %

Ti ề n c ă n m ổ

P = 0,88 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

120

100

80

60

40

20

0

Biểu đồ 9 Tỉ lệ chảy máu giữa hai nhóm

Ảnh hưởng đến tỉ lệ sót sỏi

Bảng 11: So sánh tỉ lệ sót sỏi giữa hai nhóm có tiền

căn mổ hở và không có tiền căn mổ hở

T ỉ l ệ không h ế t s ỏ i %

Ti ề n c ă n m ổ h ở

H ế t s ỏ i Không h ế t s ỏ i T ổ ng

P = 0.17 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

100

80

60

40

20

0

Biểu đồ 10 Tỉ lệ sót sỏi giữa hai nhóm

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này chúng tôi có 62 bệnh nhân chiếm 35,4% có tiền căn mổ hở lấy sỏi trên thận mổ, số bệnh nhân mổ lần đầu là 113 chiếm 64,6% So sánh giữa hai nhóm về các yếu tố: giới, thận mổ (trái, phải), độ ứ nước, trục của đài thận

Tốt Khá Trung bình Kém

Tiền căn mổ hở

Mổ lần đầu Tiền căn mổ hở

Mổ lần đầu

Không chảy máu

Có chảy máu

Mổ lần đầu Tiền căn mổ hở

Không hết sỏi Hết sỏi

Trang 7

dùng chọc và nong vào thận có giá trị p lần lượt

là: 0,98; 0,14; 0,94; 0,08 Như vậy hai nhóm bệnh

nhân không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

trên yếu tố lựa chọn bệnh nhân Từ đó chúng tôi

đi khảo sát các yếu tố để tìm xem ảnh hưởng của

yếu tố có tiền căn mổ hở lên hiệu quả và các biến

chứng trong phương pháp lấy sỏi thận qua da

Đánh giá hiệu quả chung, tỉ lệ được đánh giá

là tốt ở nhóm mổ lần đầu là 68,1% còn trong

nhóm có tiền căn mổ hở là 62,9% Như vậy

nhóm có tiền căn mổ hở có tỉ lệ tốt thấp hơn Tuy

nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê với p = 0,10 Ở nhóm bệnh nhân mổ lần đầu

lại có tỉ lệ kém nhiều hơn nhóm có tiền căn mổ

hở (13,3% so với 6,5%) Có thể ở nhóm mổ lần

đầu có tỉ lệ chảy máu nhiều hơn làm cho tỉ lệ

kém tăng lên

Với tỉ lệ có biến chứng chảy máu, tuy sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê nhưng

trong nhóm có tiền căn mổ hở tỉ lệ chảy máu

nhiều hơn (5,4% so với 4,8%) Trong khi đó tỉ lệ

sót sỏi ở nhóm có tiền căn mổ hở cao hơn nhóm

mổ lần đầu (33,3% so với 23,6%) Mặc dù sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,17)

Từ sự khác biệt này chúng tôi khảo sát yếu tố số

lượng sỏi giứa hai nhóm cho thấy:

Bảng 12 So sánh số lượng sỏi giữa hai nhóm

ĐẦ U

TI Ề N C Ă N CÓ

M Ổ H Ở

GIÁ TR Ị

P

S ố l ươ ng s ỏ i

1 s ỏ i

2 s ỏ i

Trên 2 s ỏ i

42,3 6,3 16,0

10,9 6,3 18,3

0,00

P = 0,00 Như vậy sự khác biệt về số lượng sỏi

là có ý nghĩa thống kê trong đó tỉ lệ bệnh nhân

có trên 2 sỏi ở nhóm có tiền căn mổ hở là 18,3%

cao hơn nhóm mổ lần đầu là 16% Ở nhóm bệnh

nhân trên 2 sỏi thường tỉ lệ sót sỏi cao do vậy

ảnh hưởng đến kết quả chung

Các báo cáo về tỉ lệ sót sỏi rất khác nhau do

những nghiên cứu trên những đối tượng khác

nhau như trên những bệnh nhân lấy ngẫu

nhiên, những bệnh nhân có sỏi san hô, những

bệnh nhân có sỏi trong túi thừa.v.v Như

nghiên cứu của Lê Sĩ Trung và cộng sự tại

bệnh viện Pháp Việt Hà Nội(11), tỉ lệ sót sỏi tới 48,8% do đối tượng nghiên cứu là trên những bệnh nhân có sỏi san hô

Để nâng cao hiệu quả lấy hết sỏi, nhiều tác giả thống nhất rằng nên kết hợp lấy sỏi thận qua

da với nhiều phương pháp khác như: tán sỏi ngoài cơ thể, để ống mở thận ra da trong lần soi đầu tiên còn sót sỏi để soi lần hai sau một vài tuần, chọc và nong thêm một đường khác(114,11) Thậm chí có tác giả đề nghị một dụng cụ riêng đưa xuống niệu quản để tránh các mảnh sỏi vụn dịch chuyển trong quá trình tán sỏi(12)

Hình 1 Sơ đồ nón ngăn sỏi để tránh sự dịch chuyển

của mảnh sỏi khi tán sỏi Nguồn: Marij Smit, Paul C

M S Verhagen, (2004), “Preventing Stone Migration During Percutaneous Nephrolithotomy by Using the Stone Cone”, BJU International, Feb, 94, pp 672

Loại máy tán sỏi cũng góp phần nâng cao hiệu quả lấy hết sỏi Các máy tán bằng sóng siêu

âm được ưa dùng hơn(14) vì đầu dò có hệ thống hút các mảnh vụn nhỏ khi sỏi vỡ ra Còn ảnh hưởng của yếu tố tiền căn có mổ hở lên tỉ lệ sót sỏi trong nghiên cứu của Basiri A và cộng sự(3) ở University of Medical Science, Tehran – Iran, tỉ lệ

Trang 8

sót sỏi nhóm có tiền căn mổ hở là 6,15%, nhóm

mổ lần đầu là 8,55%, sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê với p = 0,77

Về biến chứng chảy máu

Chảy máu trong kỹ thuật lấy sỏi thận qua da

thường là chảy máu tĩnh mạch(14) Ở mức độ nhẹ

máu chảy sẽ làm mờ trường mổ gây khó khăn

cho thao tác lấy sỏi, mức độ nặng hơn phải

ngừng cuộc mổ để hồi sức, truyền máu hoặc

phải can thiệp để cầm máu như làm tắc động

mạch, mổ hở khâu cầm máu

Biến chứng chảy máu trong nghiên cứu của

Ahmed và cộng sự(2), tỉ lệ biến chứng chảy máu

là 5,5%, trong nghiên cứu của Khaled và cộng

sự(10) là 16,3% Theo thống kê của Dimitri và cộng

sự thì tỉ lệ phải truyền máu trong phương pháp

lấy sỏi thận qua da từ 1 đến 11%(6) Trong nghiên

cứu này tỉ lệ chảy máu chung là 5,1%, nhóm mổ

lần đầu là 5,4%, nhóm có tiền căn mổ hở là 4,8%

Có nhiều phương pháp cầm máu khi có biến

chứng chảy máu Với đa số bệnh nhân là chảy

máu tĩnh mạch Trong trường hợp này các tác

giả đều khuyên là chỉ cần kẹp ống mở thận ra

da, hoặc chèn bằng bóng nong(2,6,9,14) Nhưng

trong những trường hợp chảy máu động mạch,

các động mạch bị tổn thương thường là nhánh

trước hoặc nhánh sau của tiểu phân thùy Ít khi

là các động mạch ngoại biên vì các động mạch

ngoại biên nếu bị tổn thương cũng dễ dàng được

nhu mô thận và ống mở thận ra da ép cầm chảy

máu(6) Theo Keith L Lee và Marshall L Stoller

những trường hợp như: Chảy máu động mạch,

giả túi phình mạch máu, dò động – tĩnh mạch

cần phải được can thiệp bằng thủ thuật làm

nghẽn mạch Cũng theo tổng kết của hai tác giả

này thì những yếu tố nguy cơ gây ra biến chứng

chảy máu trong kỹ thuật lấy sỏi thận qua da là:

sử dụng các loại nong khác nhau và kích cỡ khác

nhau, bệnh nhân dùng các thuốc kháng đông

gần thời gian mổ, các nhà niệu khoa có tỉ lệ biến

chứng chảy máu ít hơn các nhà hình ảnh học,

việc soi đường nong và đốt cầm máu những

điểm chảy máu cũng làm giảm tỉ lệ biến chứng

chảy máu(9) Như vậy theo các tác giả này yếu tố tiền căn mổ hở không có ý nghĩa trong tỉ lệ có biến chứng chảy máu Tuy nhiên khi biến chứng chảy máu xảy ra ở ở những bệnh nhân có tiền căn mổ hở cần phải can thiệp làm nghẽn mạch

có cản trở gì về mặt kỹ thuật không thì chưa thấy

có nghiên cứu nào công bố Trong nghiên cứu này của chúng tôi khi bệnh nhân có chảy máu sau khi đã đặt thông mở thận ra da thì chúng tôi kẹp ống thông lại và chơ khoảng 15 đến 30 phút thấy kết quả rất tốt Trong cả hai nhóm không có bệnh nhân nào phải can thiệp bằng mổ hở để cầm máu

So sánh về thời gian mổ trong nghiên cứu này cho thấy nhóm bệnh nhân có tiền căn mổ hở

có thời gian mổ trung bình ngắn hơn và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,04 Điều này cho thấy ưu thế của phương pháp lấy sỏi thận qua da trên những bệnh nhân có tiền căn

mổ hở so với mổ hở trở lại

So sánh về thời gian nằm viện trùng bình thì

sự khác biệt giưa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê với p = 0,28

a

Trang 9

Hình 2 Chụp chọn lọc động mạch thận cực dưới

thận trái nhận thấy trên hình a: phình mạch (P),

đường dò động – tĩnh mạch (AVF), do vậy thấy được

hình mờ của tĩnh mạch thận (RV) và tĩnh mạch chủ

dưới (IVC) Trên hình b: Sau khi được làm nghẽn

mạch không còn thấy đường dò Nguồn: Ahmed R

El-nahas, Ahmed A Shokeir, Ahmed M El-Assmy, Tarek

Mohsen, Ahmed M Shoma, Ibrahim Eraky, Mahmoud R

El-Kenawy, Hamdy A El-Kappany, (2007),

“Post-Percutaneous Nephrolithotomy Extensive Hemorrhage: A

Study of Risk Factors”, The Journal of Urology, Feb, 177,

pp 577

KẾT LUẬN

Qua so sánh giữa hai nhóm: mổ lần đầu và

có tiền căn mổ hở trên thận mổ trong phương

pháp lấy sỏi thận qua da, chúng tôi rút ra một số

kết luận sau

-Tỉ lệ về giới tính, bên thận mổ (trái, phải), độ

ứ nước của thận, trục đài thận để chọc và nong

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

hai nhóm

-Thời gian mổ trung bình ở nhóm có tiền căn

mổ hở ngắn hơn nhóm mổ lần đầu (70,3 phút so

với 78,4 phút) và sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê

-Hiệu quả chung, tỉ lệ biến chứng chảy

máu, tỉ lệ sót sỏi, thời gian nằm viện trung

bình giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê

-Tiến hành lấy sỏi thận qua da trên những bệnh nhân có tiền căn mổ hở vào thận là khả thi

và nên được ưu tiên lựa chọn do mổ hở lại trên những bệnh nhân này thường gặp khó khăn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aabech J., Andersen JT (1993), “Treatment of Cystine Stones: Combined Approach Using Open Pyelolithotomy, Percutaneous Pyelolithotripsy, Extracorporeal Shock Wave Lithotripsy and Chemolysis”, Scand J Urol Nephrol., 27(3), pp 415-417

2 Ahmed R nahas, Ahmed A Shokeir, Ahmed M El-Assmy, Tarek Mohsen, Ahmed M Shoma, Ibrahim Eraky, Mahmoud R El-Kenawy, Hamdy A El-Kappany, (2007),

Hemorrhage: A Study of Risk Factors”, The Journal of Urology, Feb, 177, pp 576 -579

3 Basiri A., Karrami H., Moghaddam SM., Shadpour P (2003), “Percutaneous Nephrolithotomy in Patient with or without a History of Open Nephrolithotomy”, J Endourol., May, 17(4), pp 213-216

4 Bianchi G., Malossini G., Beltrami P., Mobilio G., Giusti, Caluccio G (1998), “Renal Staghorn Calculosis: Our Experience with the Percutaneous Treatment with or without Extracoporeal Shock Wave Lithotripsy”, Arch Esp Urol., Italia, Apr, 51(3), pp 306-309

5 Darren T Beiko, Hassan Razvi, (2002), “Stone in Urinary Diversions: Update on Medical and Surgical Issues”, Current Opinion in Urology, 12, pp 297 – 303

6 Dimitri N., Kessaris, Gary C., Bellman, Nikolaos P., Pardalidis, Arthur G., Smith, (1995),“Management of Hemorrhage after Percutaneous Renal Surgery”, The Journal of Urology, Mar, 153, pp 604 – 608

7 Frank Hinman, Jr., M.D (1989), Atlas of Urologic Surgery, USA.Fraser M., Joyce AD., Thomas DF., Eardley I., Clark PB (1999), “Minimally Invasive Treatment of Urinary Tract Calculi in Children”, BJU Int., Aug, 84(3), pp 339-342

8 James F Glenn, M.D (1991), Urologic Surgery, J.B Lippincatt Company, USA, PP 96 – 132

9 Keith L Lee, Marshall L Stoller, (2007), “Minizing and Managing Bleeding after Percutaneous Nephrolithotomy”, Current Opinion in Urology, 17, pp 120 – 124

Mosbah, Tarek Mohsen, Ahmed M Shoma, Ibrahim Eraky, Mahmoud El-Kenawy, Hamdy A El-Kappany, (2005), “Treatment of Complete Staghorn Stones: A Prospective Randomized Comparison of Open Surgery Versus Percutaneous Nephrolithotomy”, The Journal of Urology, Feb, 173, pp 469 – 473

11 Lê Sĩ Trung (2002), “Đánh Giá Kết Quả Bước Đầu Phương Pháp Nội Soi Tán Sỏi Qua Da Phối Hợp Với Tán Sỏi Ngoài

Cơ Thể Trong Điều Trị Ngoại Khoa Sỏi Tiết Niệu”, Kỷ Yếu Toàn Văn Các Đề Tài Khoa Học-Tạp Chí Ngoại Khoa, Xí Nghiệp In Chuyên Dùng TT-Huế, tr 279 – 283

12 Marij Smit, Paul C M S Verhagen, (2004), “Preventing Stone Migration During Percutaneous Nephrolithotomy

by Using the Stone Cone”, BJU International, Feb, 94, pp

671 – 672

b

Trang 10

13 Patrick C Walsh, M.D., Alan B Retik, M.D., Thomas A

Stamey, M.D., E Darracott Vaughan, Jr., M.D (1992),

Cambell’s Urology, Vol 3, pp 2085 – 2227

14 S R Payne & D R Webb (1988), Percutaneous Renal

Surgery, Great Britain at the Bath Press, Avon

15 Scott D Miller, Christopher S Ng., Stevan B Streem,

inderbir S Gill, (2002), “Laparoscopic Management of

Caliceal Diverticular Calculi”, The Journal of Urology,

Mar, 167, pp 1248 – 1252

“Laparoscopic Assisted Percutaneous Nephrolithotomy

(PCNL) in Ectopic Pelvic Kidney”, Urology, Aug, 56, (8),

pp 381 – 383

Ngày đăng: 20/01/2020, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w