1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu sự thay đổi nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh ở bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa toàn phần chi tiết của tài liệu

10 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 391,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm khảo sát sự thay đổi nồng độ interleukin IL-6 và IL-10 huyết thanh và xác định một số yếu tố liên quan ở BN TOF sau phẫu thuật sửa chữa toàn phần. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ IL-6, IL-10 HUYẾT THANH

Ở BỆNH NHÂN TỨ CHỨNG FALLOT SAU PHẪU THUẬT

SỬA CHỮA TOÀN PHẦN

Đồng Sĩ Sằng*; Bùi Đức Phú*; Nguyễn Duy Thăng*

Nguyễn Ngọc Minh*; Dương Đăng Hóa*; Nguyễn Đặng Dũng**

TÓM TẮT

Khảo sát sự thay đổi nồng độ IL-6 và IL-10 huyết thanh dưới tác dụng của glucocorticoid (GC) ở

79 bệnh nhân (BN) tứ chứng Fallot (TOF) và xác định một số yếu tố liên quan đến sự thay đổi nồng

độ IL-6 và IL-10 huyết thanh sau phẫu thuật sửa chữa toàn phần từ tháng 8 - 2008 đến 4 - 2011 tại Bệnh viện Trung ương Huế Chia BN thành 2 nhóm: nhóm GC (sử dụng dexamethasone hoặc methylprednisolone) và nhóm chứng (không sử dụng GC); định lượng IL-6 và IL-10 huyết thanh trước và sau mổ Kết quả: nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh và tỷ lệ nồng độ IL-6/IL-10 không khác biệt giữa hai nhóm GC và chứng trước và sau mổ (p > 0,05) Sau mổ, IL-6 và IL-10 tăng cao so với trước mổ, nhưng chỉ có IL-6 tăng có ý nghĩa so với trước mổ (p < 0,05) Nồng độ IL-6 và IL-10 sau

mổ 2 ngày tương quan với nhiều biến chứng hậu phẫu, bao gồm: tổng số inotrop, nhiệt độ cao nhất, nhiệt độ thấp nhất, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện, nhưng chưa phát hiện mối tương quan giữa IL-6 và IL-10 với thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), thời gian kẹp động mạch chủ (ĐMC) và thời gian mổ

* Từ khóa: Tứ chứng Fallot; Tuần hoàn ngoài cơ thể; Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân; IL-6; IL-10

STUDY ON THE CHANGES OF CIRCULATING IL-6 AND IL-10 LEVELS IN PATIENTS WITH TETRALOGY OF FALLOT AFTER

COMPLETE REPAIR SURGERY SUMMARY

Investigating the changes of serum interleukin IL-6 and IL-10 levels in patients with tetralogy of Fallot TOF after complete repair surgery, along with glucocorticoid (GC) treatment before surgery and determining relationship between serum IL-6, IL-10 levels and postoperative variables in patients with TOF after complete repair surgery 79 patients with TOF undergoing complete repair surgery with CPB at Hue Central Hospital from 8 - 2008 to 4 - 2011, devided into 2 groups: GC and control (non GC) group Results: Postoperatively, IL-6 and IL-10 levels increased, but only IL-6 level showed significant increase compared to that preoperatively (p < 0.05) On the 2 nd postoperative day, IL-6 and IL-10 levels were significantly correlated with several postoperative variables including total administrated inotrops, highest and lowest body temperature, the length of ICU stay and hospital stay, but not with time of CPB, aortic cross-clamp and operation

* Key words: Tetrelogy of Fallot; Cardiopulmonary bypass; Systemic inflammatory response syndrome; IL-6; IL-10

* Bệnh viện Trung ương Huế

** Học viện Quân y

Chịu trách nhiệm nội dung khoa học: GS TS Phạm Gia Khánh

PGS TS Lê Văn Đông

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tứ chứng Fallot (TOF: Tetralogy of

Fallot) là bệnh phổ biến nhất trong số cỏc

bệnh tim bẩm sinh cú tớm Nếu khụng được

điều trị, bệnh TOF cú thể dẫn đến nhiều

biến chứng nguy hiểm Hiện nay, phẫu

thuật sửa chữa toàn phần là biện phỏp tối

ưu để điều trị bệnh lý này [2] Tuy nhiờn, mổ

tim với sự hỗ trợ của THNCT gõy ra hội

chứng đỏp ứng viờm toàn thõn (Systemic

Inflammatory Response Syndrome - SIRS)

với nhiều biến chứng như: suy hụ hấp, suy

thận, chảy mỏu sau mổ… và cuối cựng là

hội chứng suy đa tạng (Multiple Organ

Dysfunction Syndrome - MODS) [9] Đỏp

ứng viờm toàn thõn cú liờn quan đến sự gia

tăng sản xuất cytokine [6, 8] Sản xuất quỏ

mức cytokine tiền viờm trong quỏ trỡnh

THNCT cú thể làm tổn thương tim và nhiều

tạng khỏc, gúp phần gõy ra hội chứng suy

đa tạng [6, 8] Trỏi lại, giải phúng cytokine

chống viờm cú thể cú tớnh bảo vệ Mức cõn

bằng giữa những cytokine tiền viờm và

chống viờm này cú thể ảnh hưởng đến mức

độ đỏp ứng viờm và kết quả lõm sàng của

BN [6]

Để kiểm soỏt đỏp ứng viờm toàn thõn do

THNCT, nhiều kỹ thuật và dược lý đó được

ỏp dụng Một trong những chiến lược đú là

sử dụng GC, trong đú, methylprednisolone

(MP) và dexamethasone (DEXA) là hai

thuốc đó được sử dụng rộng rói trong mổ

tim mở [4, 6] Đó cú những bỏo cỏo về tỏc

dụng của steroid đến đỏp ứng cytokine

trong mổ tim, tuy nhiờn, chưa cú nhiều

nghiờn cứu về tỏc dụng của steroid đến cõn

bằng cytokine tiền viờm và chống viờm

Vỡ vậy, chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu đề

tài này nhằm: Khảo sỏt sự thay đổi nồng độ

interleukin IL-6 và IL-10 huyết thanh và xác

định một số yếu tố liờn quan ở BN TOF sau phẫu thuật sửa chữa toàn phần

đối t-ợng và ph-ơng pháp

nghiên cứu

Theo dừi trờn 79 BN TOF được phẫu thuật sửa chữa toàn phần (đủ tiờu chuẩn đưa vào nghiờn cứu) từ thỏng 8 - 2008 đến

4 - 2011 tại Trung tõm Tim mạch, Bệnh viện

TW Huế Chia BN thành 2 nhúm:

- Nhúm GC: 63 BN, gồm 2 phõn nhúm:

nhúm DEXA (31 BN sử dụng dexamethasone

1 mg/kg cõn nặng, đường tĩnh mạch ngay sau khi khởi mờ) và nhúm MP (32 BN sử dụng methylprednisolone 30 mg/kg cõn nặng, hũa trong dịch mồi THNCT)

- Nhúm chứng: 16 BN khụng sử dụng GC trước phẫu thuật

Cỏc thuốc hỗ trợ tuần hoàn sau mổ gồm thuốc tăng co búp cơ tim (inotrop) và thuốc vận mạch Điểm inotrop 24 giờ sau mổ tớnh theo cụng thức: [(dopamine + dobutamine)

x 1] + [milrinone x 20] + [(epinephrine + norepinephrine) x 100] [7] Cỏc diễn biến khỏc được ghi nhận qua bệnh ỏn, do bỏc sỹ

và điều dưỡng viờn Khoa Ngoại Lồng ngực

và Khoa Hồi sức tim, Trung tõm Tim mạch - Bệnh viện TW Huế thực hiện

Lấy mẫu mỏu xột nghiệm vào thời điểm

6 giờ của ngày trước mổ (N0) và ngày 2 sau mổ (N2), tỏch huyết thanh và bảo quản

hiện xột nghiệm định lượng IL-6 và IL-10 với bộ kớt định lượng IL-6 và IL-10 trờn mỏy xột nghiệm IMMULITE 1000 (Siemens, Hoa Kỳ), tại Khoa Sinh húa, Bệnh viện TW Huế theo nguyờn lý xột nghiệm miễn dịch húa phỏt quang

Xử lý số liệu theo phương phỏp thống kờ

y học, sử dụng phần mềm SPSS 15.0

Trang 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1 Đặc điểm chung

Bảng 1: Đặc điểm chung trước và trong mổ.

NHÓM

THAM SỐ

(n = 16)

Trung vị (median) của liều DEXA là 1,00

và của nhóm MP là 29,65 Sự khác biệt giữa

3 nhóm và giữa 2 nhóm GC và chứng không

có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, giữa nhóm

DEXA và MP có sự khác biệt có ý nghĩa về

tuổi và cân nặng (p < 0,01) và khác biệt về

thời gian THNCT và thời gian mổ (p < 0,05)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không áp

dụng được phương pháp đối chứng ngẫu

nhiên nên đã gặp phải sai số ngẫu nhiên,

dẫn đến khác biệt về tuổi, cân nặng giữa nhóm DEXA và MP, từ đó dẫn đến khác biệt

về thời gian THNCT và thời gian mổ Điều này có thể thấy qua tương quan rõ rệt giữa tuổi và thời gian THNCT(r = 0,411; p < 0,001) Đồng thời, việc lọc máu để cải thiện cân bằng dịch và làm giảm các chất trung gian viêm nhiều hơn ở nhóm GC cũng giải thích cho sai số này

Bảng 2: Đặc điểm hậu phẫu

NHÓM THAM SỐ

GC (n = 63)

CHỨNG

(n = 16)

Thời gian nằm hồi sức cấp

Trang 4

Điểm inotrop khác biệt có ý nghĩa giữa 3

nhóm (p < 0,05) và giữa 2 nhóm GC và chứng

(p < 0,01) Thời gian đặt nội khí quản khác

biệt có ý nghĩa giữa nhóm GC và chứng

(p < 0,01), nhưng thời gian nằm hồi sức cấp

cứu và nằm viện chưa thấy sự khác biệt

giữa 2 nhóm GC và chứng (p > 0,05) Mặc

dù gặp phải sai số ngẫu nhiên, nhưng việc

can thiệp chống viêm bằng GC bước đầu

cho thấy một số cải thiện hậu phẫu như:

ít dùng thuốc hỗ trợ tuần hoàn hơn (giảm điểm inotrop) và rút ngắn thời gian đặt nội khí quản (p < 0,05) Glucose máu tăng cao sau mổ so với trước mổ (p < 0,05), nhưng không khác biệt giữa 2 nhóm GC và chứng (p > 0,05), đồng thời chưa phát hiện thấy tăng tỷ lệ sử dụng insulin, tỷ lệ nhiễm trùng

ở nhóm sử dụng GC (số liệu không trình bày)

2 Thay đổi nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh và một số yếu tố liên quan

* Thay đổi nồng độ IL-6 và IL-10 huyết thanh trước và sau mổ:

Bảng 3: Nồng độ các interleukin ngày N0 và N2

NHÓM

THAM SỐ

NGÀY

IL-6 (pg/ml)

IL-10 (pg/ml)

IL-6/IL-10

(*) p (log): p tính được sau khi đưa mẫu về phân phối chuẩn bằng thuật toán logarit Giá trị p (log) ở bảng so sánh giữa 2 nhóm GC và chứng ở ngày N2

Trước mổ N0, nồng độ IL-6, IL-10 huyết

thanh và tỷ lệ IL-6/IL-10 không khác biệt

giữa 3 nhóm cũng như giữa 2 nhóm GC và

chứng (p > 0,05) Sau mổ N2, nồng độ IL-6

huyết thanh và tỷ lệ IL-6/IL-10 giảm có ý

nghĩa ở 2 nhóm DEXA và MP so với nhóm

chứng (p < 0,05); IL-10 không khác biệt

giữa 3 phân nhóm (p > 0,05) Tuy nhiên,

sau khi đưa mẫu về phân phối chuẩn để

kiểm chứng sự khác biệt này, kết quả cho thấy không còn sự khác biệt giữa các nhóm (p > 0,05), nhưng có sự khác biệt trung bình của IL-6 và IL-6/IL-10 giữa 2 nhóm GC

và chứng, lần lượt là -930,41 pg/ml và -9,92

lần (số liệu không trình bày) Đồng thời, khi

so sánh giữa N0 và N2 giữa các nhóm thấy: sau mổ, nồng độ IL-6 và IL-10 huyết thanh tăng rõ rệt so với trước mổ, nhưng chỉ có

Trang 5

IL-6 khác biệt có ý nghĩa so với trước mổ (p < 0,05)

Biểu đồ 1: Thay đổi nồng độ IL-6 và IL-10 sau mổ ở 2 nhóm GC và chứng

Đáp ứng viêm sau mổ tim mở liên quan

đến giải phóng cytokine tiền viêm, bao gồm

TNF-α, IL-1, IL-6 và IL-8 cũng như các

cytokine chống viêm IL-4, IL-10 và TGF-β

[0] Trong bệnh cảnh quanh cuộc mổ, IL-6

là một dấu ấn tổn thương và phá hủy mô

[10] Trái lại, IL-10 là cytokine chống viêm

có tác dụng ức chế mạnh sản xuất TNF-α

và IL-6 [8] Tuy nhiên, đáp ứng viêm quá

mức đối với chấn thương do phẫu thuật có

thể dẫn đến một phản ứng chống viêm bù

Tăng IL-10 gây ức chế miễn dịch và làm

cho BN nhạy cảm với nhiễm trùng sau mổ

[10] Mặc dù TNF-α và IL-1β đóng vai trò

quan trọng trong phản ứng viêm, song khó

có thể phát hiện mức thay đổi có ý nghĩa

của 2 cytokine này, vì chúng được sản xuất

nhanh chóng đáp ứng với kích thích viêm

và đào thải nhanh chóng Cả TNF-α và IL-1β

kích thích sản xuất IL-6 và IL-6 hiện diện

trong máu kéo dài hơn, nên IL-6 thường

được sử dụng như chỉ số đầu tiên của hoạt

hóa viêm [3]

Nghiên cứu của Lê Thị Phương Anh (2010) [1] cho thấy, IL-6 trước mổ (4,17 ± 2,31 pg/ml) tăng nhanh khi bắt đầu kẹp ĐMC, đạt đỉnh vào thời điểm kết thúc phẫu thuật, giảm dần từ 24 giờ (999,43 ± 852,06) đến 72 giờ sau mổ (99,14 ± 69,17), nhưng vẫn chưa trở về giá trị bình thường trước

mổ Nhiều nghiên cứu cho thấy, IL-6 tăng

có ý nghĩa trong và sau khi ngừng THNCT Theo Hennein và CS, nồng độ IL-6 cao nhất vào thời điểm 12 giờ sau khi ngừng THNCT, song Markewitz và CS lại cho rằng, giá trị đỉnh nồng độ IL-6 huyết thanh vào ngày thứ 3 sau mổ [5] Những BN nhiễm trùng hậu phẫu có IL-6 tăng có ý nghĩa từ trước mổ đến sau mổ 7 ngày Tăng IL-6 sau mổ tim mở là một yếu tố dự

đoán nhiễm trùng sau mổ [10]

Sander và CS (2006) phát hiện mổ tim

mở dẫn đến tăng IL-10 sau mổ Đồng thời, mức IL-10 tăng có ý nghĩa vào ngày 3 sau

mổ ở BN có biểu hiện nhiễm trùng sau mổ Tăng cytokine chống viêm IL-10 đã cho là một yếu tố dự đoán kết quả xấu sau mổ tim [10] Kết quả của Allan và CS cho thấy,

Chứng

gg

GC

GC Chứng

Ngày N2 N0

IL-6

Chứng

GC

GC

Chứng

N2

IL-10

Chứng

GC Chứng

GC

Trang 6

IL-10 tăng ngay sau khi ngừng THNCT

24 giờ [3]

Tuy nhiên, trong một đáp ứng viêm

thường có sản xuất đồng thời IL-6 và IL-10,

do đó, bên cạnh việc theo dõi biến động

nồng độ từng cytokine riêng lẻ, việc xem xét

tỷ lệ IL-6/IL-10 có giá trị lâm sàng Nghiên

cứu của Weis và CS (2009) cho thấy, nhóm

sử dụng hydrocortisol làm giảm tỷ lệ

IL-6/IL-10 có ý nghĩa so với nhóm chứng (p < 0,05)

Giảm tỷ lệ IL-6/IL-10 là do IL-6 giảm cũng

như IL-10 tăng ở nhóm sử dụng hydrocortisol

Tỷ lệ IL-6/IL-10 có thể sử dụng để ước tính

độ nặng của hội chứng đáp ứng viêm toàn

thân và dự đoán kết quả ở BN bỏng, chấn

thương và đại phẫu; mặt khác, tỷ lệ

IL-6/IL-10 được xem như một dấu ấn giúp hướng

dẫn điều trị steroid ở BN mổ tim [11]

Kết quả của Bocsi và CS (2011) cho

thấy, nhóm MP cải thiện một phần đáp ứng

tiền viêm (giảm IL-6 và IL-8) và hỗ trợ một

phần đáp ứng chống viêm (tăng IL-10), sử

dụng GC có thể giúp chuyển hướng đáp

ứng cytokine theo hướng chống viêm [4]

Tương tự, nghiên cứu của El Azab và CS

(2002) chứng tỏ DEXA chuyển cân bằng cytokine theo hướng chống viêm DEXA loại bỏ đáp ứng TNF-α và IL-8, làm giảm đáp ứng IL-6 và đẩy mạnh đáp ứng IL-10 [6]

Do điều kiện nghiên cứu này còn hạn chế, chúng tôi chỉ theo dõi IL-6 và IL-10 ở

2 thời điểm trước mổ và khoảng 24 giờ sau mổ (6 giờ sáng N2 sau mổ) Kết quả cho thấy: IL-6 và IL-10 đều thấp trước mổ

và tăng cao sau mổ, tương tự kết quả của những nghiên cứu khác Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi chưa cho thấy IL-6 giảm

và tỷ lệ IL-6/IL-10 ở nhóm GC cũng như chuyển hướng đáp ứng cytokine chống viêm (tăng IL-10) Điều này có thể được lý giải một phần là do sai số ngẫu nhiên, do mẫu nghiên cứu của chúng tôi có sự phân tán về lứa tuổi (gồm cả trẻ em và người trưởng thành) so với các nghiên cứu khác Mặc dù chưa có khác biệt có ý nghĩa giữa IL-6 và tỷ lệ IL-6/IL-10 ở 2 nhóm GC và chứng, nhưng sự khác biệt trung bình của chúng đã cho thấy phần nào giảm IL-6 và

tỷ lệ IL-6/IL-10 ở nhóm GC Kết quả này làm rõ hơn có sự cân bằng về đáp ứng cytokine tiền viêm và chống viêm ở nhóm

sử dụng GC

* Tương quan của nồng độ IL-6 và IL-10 huyết thanh ngày N2 sau mổ với các tham số quanh cuộc mổ:

Bảng 4: Tương quan của nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh ngày N2 với các biến quanh

cuộc mổ

NHÓM

THAM SỐ

Trang 7

Thời gian đặt

Thân nhiệt cao

Thân nhiệt thấp

Thời gian nằm

Thời gian nằm

Khối hồng cầu

Tổng đơn vị

Dấu (-): không có tương quan Nồng độ IL-6 và IL-10 huyết thanh ngày N2 không tương quan với thời gian THNCT, thời gian kẹp ĐMC và thời gian mổ (số liệu không trình bày) Trong các nghiên cứu tương tự với

nghiên cứu này, việc định lượng cytokine

được thực hiện tại nhiều thời điểm và chọn

thời điểm có nồng độ cytokine cao nhất để

tính tương quan với các biến quanh cuộc

mổ Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Phương

Anh cho thấy, nồng độ IL-6 cao nhất vào

thời điểm kết thúc phẫu thuật, tương quan

thuận với các biến của cuộc mổ: thời gian

THNCT (r = 0,36; p = 0,023), thời gian kẹp

ĐMC (r = 0,45; p = 0,003) và thời gian mổ

(r = 0,38; p = 0,020) [1] Ở trẻ nhỏ, IL-6 và

IL-8 ở thời điểm ngừng THNCT tương quan

thuận với thời gian THNCT IL-8 tương

quan thuận với thời gian kẹp ĐMC và

tương quan nghịch với hạ nhiệt trong

THNCT IL-10 không tương quan với các

biến quanh cuộc mổ [3] Trái lại, Madhok

không phát hiện mối tương quan giữa

cytokine với thời gian THNCT hoặc kẹp

ĐMC, có thể do bản chất khác nhau của loại phẫu thuật [8] Đồng thời, Carvalho cho rằng, không có tương quan giữa IL-6 với thời gian THNCT Đối với trẻ em, những báo cáo về vấn đề này còn ít và chưa phát hiện mối tương quan giữa thời gian THNCT với mức IL-6 [5] Cytokine giải phóng có thể

do nhiều tác nhân trong quá trình chạy THNCT và thiếu máu cục bộ - tái tưới máu đóng vai trò quan trọng Nồng độ IL-6 tăng cao tương quan với thời gian thiếu máu cơ tim (thời gian kẹp ĐMC) [1]

Madhok và CS (2006) chứng tỏ mối tương quan thuận có ý nghĩa giữa mức độ đáp ứng viêm (thể hiện qua nồng độ IL-6 và IL-8) sau mổ tim mở với mức độ can thiệp điều trị ở bệnh nhi trong giai đoạn đầu hậu phẫu Kết quả nghiên cứu này tương ứng với một nghiên cứu chứng tỏ IL-6 và IL-8 huyết tương sau mổ tương quan có ý nghĩa với

Trang 8

tăng nhu cầu sử dụng inotrop, giảm áp lực

sau THNCT [8] Tương tự, Carvalho và CS

cho rằng, mối tương quan khá chặt giữa

TNF-α và IL-6 với nhu cầu sử dụng các

thuốc inotrop cao Điều này có thể do tăng

cytokine viêm gây ra rối loạn huyết động ở

trẻ em sau mổ tim mở, dẫn đến tăng nhu

cầu sử dụng inotrop [5]

Nghiên cứu của Allan và CS (2010) ở

trẻ < 1 tuổi cho thấy, IL-6 ngay sau THNCT

tương quan thuận với thời gian nằm hồi

sức cấp cứu Nồng độ IL-6, IL-8 và CRP 24

giờ sau mổ không tương quan với tuổi hoặc

độ bão hòa oxy Tuy nhiên, IL-6 và IL-8

tăng cao ở thời điểm 24 giờ có liên quan

đến kết quả xấu, bao gồm thời gian thở

máy và thời gian hồi sức cấp cứu kéo dài

[3] Trái lại, kết quả của Madhok không thấy

tương quan giữa đáp ứng cytokine với thời

gian thở máy [8]

Việc sử dụng chế phẩm máu, nhất là các

sản phẩm không có hồng cầu (huyết tương

tươi đông lạnh, khối tiểu cầu) có liên quan

đến sản xuất IL-6 và IL-8 Truyền các chế

phẩm máu không có hồng cầu sau mổ liên

quan với IL-6 và IL-8 ở thời điểm ngay sau

mổ cũng như 24 giờ sau mổ Hơn nữa,

người ta cũng thấy mối liên quan giữa tổng

lượng máu toàn phần và khối hồng cầu

được truyền sau mổ với IL-8 ngay sau mổ,

nhưng không thấy liên quan với IL-10 [3]

Vào ngày N2, IL-6 và IL-10 tương quan

khá chặt trên toàn mẫu và nhóm chứng

Điều này phù hợp với cơ chế tiết đồng thời

của 2 cytokine này trong đáp ứng viêm IL-6

và IL-10 tương quan nghịch với hạ nhiệt

trong mổ và nhiệt độ thấp nhất Trái lại, hai

cytokine này có mối tương quan thuận với nhiều biến khác như tổng số inotrop, nhiệt

độ cao nhất, thời gian nằm hồi sức cấp cứu, thời gian nằm viện cũng như việc truyền một số chế phẩm máu (khối hồng cầu, khối tiểu cầu) sau mổ Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy sự tương quan của IL-6 và IL-10 với thời gian THNCT, thời gian kẹp ĐMC và thời gian mổ Nhìn chung, kết quả của chúng tôi có nhiều điểm phù hợp với kết quả của những tác giả trên, mặc dù có nhiều khác biệt về đối tượng và nhóm tuổi, thời điểm xét nghiệm interleukin cũng như loại phẫu thuật

KẾT LUẬN

trên BN tứ chứng Fallot, nồng độ IL-6 huyết thanh tăng rõ rệt so với trước mổ (p < 0,05)

tương quan với tổng số inotrop được sử dụng, nhiệt độ cao nhất, nhiệt độ thấp nhất, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện của BN tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa toàn phần với sự hỗ trợ của THNCT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Thị Phương Anh Nghiên cứu sự biến

đổi nồng độ interleukin-6 và protein phản ứng C

trong huyết thanh ở BN phẫu thuật động mạch vành tại Bệnh viện Trung ương Huế Luận v¨n Chuyên khoa Cấp II Trường Đại học Y - Dược Huế 2010

2 Lê Quang Thứu Nghiên cứu điều trị phẫu

thuật sửa chữa toàn phần bệnh tứ chứng Fallot Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện Quân y 2008

3 Allan CK, Newburger JW, McGrath E The

relationship between inflammatory activation and

Trang 9

clinical outcome after infant cardiopulmonary

bypass Anesth Analg 2010, 111, pp.1244-1251

4 Bocsi J, Hänzka MC, Osmancik P Modulation

of the cellular and humoral immune response to

pediatric open heart surgery by methylprednisolone

Cytometry Part B (Clinical Cytometry) 2011, 80B,

pp.212-220

5 Carvalho MVH, Maluf MA, Catani R

Cytokinees and pediatric open heart surgery

with cardiopulmonary bypass Cardiol Young

2001, 11, pp.36-43

6 El Azab SR, Rosseel PMJ, de Lange JJ

Dexamethasone decreases the pro- to

anti-inflammatory cytokinee ratio during cardiac

surgery British Journal of Anaesthesia 2002, 88

(4), pp.496-501

7 Li B, Chen R, Huang R Clinical benefit of

cardiac ischemic postconditioning in correction

of tetralogy of Fallot Interact CardioVasc Thorac

Surg 2009, 8, pp.17-21

8 Madhok AB, Ojamaa K, Haridas V Cytokine

response in children undergoing surgery for congenital heart disease Pediatr Cardiol 2006, 27, pp.408-413

9 Mitchell JD, Grocott HP, Phillips-Bute B

Cytokine secretion after cardiac surgery and its relationship to postoperative fever Cytokine

2007, 38, pp.37-42

10 Sander M, Heymann CV, Dossow VV

Increases interleukin-6 after cardiac surgery predicts infection Anesth Analg 2006, 102, pp.1623-1729

Ngµy nhËn bµi: 1/11/2012 Ngµy giao ph¶n biÖn: 30/11/2012 Ngµy giao b¶n th¶o in: 28/12/2012

Ngày đăng: 20/01/2020, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w