1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả vi phẫu thuật bệnh nhân túi phình động mạch não

6 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 390,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài với mục đích nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CT scanner, DSA trước mổ và đánh giá kết quả vi phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não. Nghiên cứu tiến cứu 74 trường hợp túi phình động mạch não được điều trị vi phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định từ tháng 5‐2012 đến tháng 5‐2014.

Trang 1

VI PHẪU THUẬT BỆNH NHÂN TÚI PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO 

Đào Văn Nhân*, Nguyễn Văn Trung*, Đỗ Anh Vũ*, Nguyễn Phúc Tài* 

TÓM TẮT 

Mục  đích: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CT scanner, DSA trước mổ và đánh giá kết quả vi 

phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não. 

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu 74 trường hợp túi phình động mạch não được điều trị vi phẫu thuật tại 

Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định từ tháng 5‐2012 đến tháng 5‐2014. Các bệnh nhân được đánh giá lâm sàng  trước mổ theo WFNS, chụp CT‐scanner trước mổ phân độ theo Fisher và chụp DSA trước và sau mổ. Kết quả  phẫu thuật đánh giá bằng thang điểm GOS, thời gian theo dõi 3‐ 6 tháng. 

Kết  quả: Theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng 74 bệnh nhân trước và sau mổ, 93,2% số trường hợp được 

phẫu thuật bằng  đường  mổ  Pterion:  trán‐bướm‐thái dương  (frontosphenotemporal) và  6,8% phẫu  thuật bằng  đường mổ trên hốc mắt. Nam 33 (44,6%), nữ 41 (55,4%). Tuổi trung bình 48,2 ± 10,3. Tuổi thấp nhất 20, cao  nhất 73, độ tuổi thường gặp nhất 40 – 60 tuổi (64,3%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp: đau đầu 87,8%, cứng  gáy 94,6%. Vị trí túi phình: động mạch thông trước 37 ca (44%), động mạch thông sau 23 ca (27,4%), não giữa 

15 (15,8%), ĐM cảnh đoạn mấu giường trước 5 (5,9%), đỉnh thân nền 3 (3,6%), ĐM đốt sống 1 (1,2%). Thời  điểm can thiệp từ 3‐7 ngày chiếm phần lớn 49 ca (66,2%), biến chứng gặp trong nghiên cứu là viêm phổi 1 ca  (1,3%); máu tụ dưới màng cứng 1 ca (1,3%), ngoài màng cứng 1ca (1,3); liệt ½ người 1 ca (1,3%). Kết quả điều  trị: nhóm phẫu thuật tốt (GOS 4+5) 92,3%, tử vong 4 ca (4,05%). 

Kết luận: Phình mạch não là một bệnh nguy hiểm, nguy cơ tử vong cao. Vi phẫu thuật túi phình mạch não 

tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, cho đến nay vẫn là một phương pháp điều trị hiệu quả loại bệnh lý này với 

tỉ lệ thành công cao, tử vong và di chứng thấp. 

Từ khóa: Phình mạch máu não, chảy máu dưới màng nhện, Fisher, WFNS, GOS. 

ABSTRACT 

CLINICAL FEATURES, RADIOGRAPHY AND OUTCOMES OF PATIENTS  

WITH CEREBRAL ANEURYSMS TREATED BY MICROSURGERY 

Dao Van Nhan, Nguyen Van Trung, Do Anh Vu, Nguyen Phuc Tai  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 192 – 197 

Object:  To  analyze  the  Clinical  features,  images  of  CT‐scanner,  DSA  and  evaluate  the  results  of 

microsurgical treatment of ruptured cerebral aneurysms.  

Methods: A prospective study of 74 cases of cerebral aneurysms treated by microsurgery at the Binh Dinh 

General Hospital from May 2012 to May 2014. The patients were evaluated clinical characteristics before surgery  according to the WFNS, preoperative CT‐scanner according to Fisher grades and image of DSA before and after  surgery. Microsurgical outcomes were evaluated by GOS scale after surgerys, follow up from 3 to 6 months. 

Results:  A  total  of  74  patients  were  analyzed  the  clinical  and  paraclinical  features  before  and  after 

microsurgery, 93.2% of cases with Pterion approach: frontotemporal and 6.8% by supraorbital approach. Male  patients  33  (44.6%),  41  female  patients  (55.4%).  The  average  age  of  the  patients  was  48.2  ±  10.3  years.  The  youngest patient was 20, the oldest patient was 73, the common age group was from 40 to 60 years old (64.3%). 

* Khoa Ngoại Thần kinh và cột sống BVĐK tỉnh Bình Định

Tác giả liên lạc: ThS. Đào Văn Nhân; ĐT: 0903587795; Email: daovannhan2004@yahoo.com

Trang 2

Common clinical symptoms: 87.8% of headache, 94.6% of neck stiffness. Location aneurysms: 37 cases of AcomA  (44%),  23  cases  of  PcomA  (27.4%),  15  cases  of  MCA  (15.8%),  5  cases  of  ICA  of  anterior  clinoid  segments  (5,9%), 3 cases of BA (3.6%), 1 case of vertebral artery (1.2%). Intervention time from 3 to 7 days for most 49  cases (66,2%), the common complications were 1 case of pneumonia (1.3%); 1 case of subdural hematoma (1.3%);  1case of epidural (1.3); 1 case of hemiplegia (1.3%). Results of treatment: surgery group had good result (GOS 4 +  5) 92.3%, 4 patients died and mortality was 4.05%. 

Conclusions: Intracranial aneurysm is a dangerous diseases and high mortality Microsurgery of aneurysm 

at the Hospital of Binh Dinh province is an effective method of treatment with a high success rate, low mortality  and sequelae 

Keywords: Aneurysm, SAH, Fisher, WFNS, GOS. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Phình động mạch não là hiện tượng giãn, lồi 

hoặc  tạo  thành  túi  ở  thành  động  mạch  não 

(ĐMN)  mà  nguyên  nhân  là  do  khiếm  khuyết, 

bệnh  lý  hoặc  vết  thương  ở  thành  động  mạch. 

Bệnh  tương  đối  phổ  biến  chiếm  2‐8%  dân  số. 

Nguy cơ vỡ túi phình hàng năm theo thống kê là 

từ  0,5‐3%  trong  số  người  mắc.  Biểu  hiện  lâm 

sàng của vỡ túi phình là đau đầu đột ngột, dấu 

hiệu kích thích màng não và giảm tri giác. 

Chụp  cắt  lớp  vi  tính  (CLVT)  không  thuốc 

cản quang, chọc dò dịch não tuỷ cho phép chẩn 

đoán  xác  định  chảy  máu  dưới  màng  nhện 

(CMDMN) và chụp động mạch não số hóa xóa 

nền (DSA) là “tiêu chuẩn vàng’’để chẩn đoán và 

định  hướng  điều  trị  túi  phình  ĐMN  vỡ.  Mục 

đích chính của điều trị vỡ túi phình ĐMN là làm 

giảm áp lực nội sọ, phòng ngừa các biến chứng 

của  CMDMN  và  cuối  cùng  phải  loại  bỏ  túi 

phình  ra  khỏi  vòng  tuần  hoàn,  đảm  bảo  không 

làm hẹp mạch mang túi phình. 

Tuy  nhiên  việc  chẩn  đoán  sớm  và  điều  trị 

kịp thời vẫn còn nhiều hạn chế: do sự hiểu biết 

về  bệnh  lý  này  của  các  bệnh  viện  tuyến  trước 

còn  chưa  cao;  sự  phối  hợp  điều  trị  giữa  các 

chuyên  khoa  hồi  sức,  chẩn  đoán  hình  ảnh  và 

phẫu  thuật  thần  kinh  chưa  thành  hệ  thống. 

Phương  pháp  điều  trị  nút  mạch  (colling)  túi 

phình còn đắt tiền, chưa phù hợp với điều kiện 

kinh  tế  ở  các  tỉnh  duyên  hải  miền  trung  nói 

chung và Bình Định nói riêng, kết quả theo dõi 

lâu dài tỷ lệ tồn dư, tái thông túi phình còn cao. 

Vi  phẫu  thuật  kẹp  cổ  túi  phình  đã  được  ứng 

dụng tại bệnh viện Bình Định từ năm 2010 đến  nay  và  đã  thu  được  những  kết  quả  khích  lệ,  giảm  tỉ  lệ  tử  vong  cũng  như  di  chứng  của  loại  bệnh lý này. Tuy nhiên kết quả chưa được đánh  gia  đầy  đủ,  do  đó  chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu này. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng   

Tại  BVĐK  tỉnh  Bình  Định,  từ  tháng  5‐  2012  đến tháng 5 năm 2014 chúng tôi điều trị vi phẫu  thuật 74 bệnh nhân với 84 túi phình động mạch  não,  trong  đó  có  74  túi  phình  đã  vỡ  và  10  túi  phình chưa vỡ.  

Phương pháp 

Nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng 

Bảng 1. Phân loại lâm sàng WFNS trong xuất huyết 

dưới nhện (World Federation of Neurological  Surgeons Scale) 

I GCS= 15, không có dấu hiệu TKKT

II GCS= 13-14, không có dấu hiệu TKKT III GCS= 13-14, có dấu hiệu TKKT

IV GCS= 7-12, có hoặc không có dấu hiệu TKKT

V GCS= 3-6, có hoặc không có dấu hiệu TKKT

Bảng 2. Phân loại Fisher trên CLVT trong xuất 

huyết dưới nhện 

II Máu lan toả hoặc lớp mỏng tại khe liên bán cầu, bể đáy, bề ngoài dày ≤ 1mm III Máu tụ khu trú và/ hoặc có lớp máu dày ≥ 1mm

IV Máu lan toả hoặc không có máu khoang dưới nhện, nhưng có máu trong nhu mô não hoặc

não thất

Trang 3

GOS (Glasgow Coma Scale) 

GOS BIỂU HIỆN

1 Tử vong

2 Sống thực vật

3 Tàn phế nặng cần người chăm sóc

4 Mất khả năng làm việc, học tập nhưng có thể tự chăm sóc bản thân

5 Hồi phục tốt trở lại công việc cũ

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Những bệnh nhân chẩn đoán vỡ phình mạch 

não,  được  điều  trị  vi  phẫu  thuật  kẹp  túi  phình 

mạch. Các bệnh nhân này thăm khám, đánh giá 

lâm  sàng  theo  thang  điểm  WFNS,  có  hình  ảnh: 

cắt  lớp  vi  tính  (CT  scanner)  và  mạch  máu  xóa 

nền  (DSA);  Kết  quả  được  đánh  giá  theo  thang 

điểm GOS. 

Tiêu chuẩn loại trừ  

‐ Các bệnh nhân nặng WFNS độ V 

‐ Rối loạn đông, chảy máu 

‐  Thể  trạng  suy  kiệt  không  đảm  bảo  cho 

phẫu thuật 

‐ Bệnh nhân vỡ túi phình động mạch não sau 

chấn thương 

Các yếu tố nghiên cứu 

‐  Tuổi  bệnh  nhân  chia  thành  3  nhóm:  <  40 

tuổi, 40 – 60 tuổi, > 60 tuổi 

‐ Triệu chứng lâm sàng: đau đầu, nôn, cứng 

gáy, dấu thần kinh khu trú  

‐  Tình  trạng  lâm  sàng  của  bệnh  nhân  trước 

điều trị: dựa vào phân độ WFNS 

‐  Vị  trí  túi  phình:  động  mạch  thông  trước, 

động  mạch  cảnh  đoạn  thông  sau,  động  mạch 

não  giữa,  động  mạch  quanh  thể  chai  và  vòng 

tuần hoàn sau  

‐ Kích thước, hình thái túi phình 

‐ Thời điểm phẫu thuật 

‐  Kết  quả  điều  trị:  dựa  vào  bảng  phân  độ 

GOS 

  + Tốt: GOS 4‐5 

  + Trung bình: GOS 3 

  + Xấu: GOS 1‐ 2 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Đặc điểm chung 

Tuổi  trung  bình  48,2  ±  10,3.  Tuổi  thấp  nhất 

20, cao nhất 73, độ tuổi thường gặp nhất 40 – 60  tuổi (64,3%) 

Nam 33 (44,6%), nữ 41 (55,4%)  Trong nghiên  cứu  của  chúng  tôi, tuổi  trung  bình 48,2 ± 10,3. Độ tuổi thường gặp nhất 40 – 60  tuổi  (64,3%).  Tuổi  trung  bình  của  tác  giả  khác  như: Nguyễn phong 51,4; Ross(9) tuổi trung bình  54,3 và giới nữ chiếm 60,7%. Tuổi trung bình của  chúng tôi thấp hơn các tác giả khác, tuy nhiên độ  tuổi  thường  gặp  ở  bệnh  lý  này  cũng  tương  tự. 

Đây  là  độ  tuổi  lao  động,  do  đó  ảnh  hưởng  rất  nhiều  đến  gia  đình  cũng  như  xã  hội.  Giới  nữ  chúng tôi gặp nhiều hơn giới nam trong nghiên  cứu chiếm 55,4%; Lin và cộng sự nữ 54,5%, nam  45,5%. 

Đặc điểm lâm sàng 

Triệu chứng lâm sàng 

Bảng 4. Triệu chứng lâm sàng 

Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ %

Dấu hiệu Kernig 62 83,4

Dấu thần kinh khu trú 10 13,5 Mạch chậm < 50 lần/phút 1 1,3 Đau  đầu  87,8%  và  cứng  gáy  94,6%  là  hai  triệu  chứng  thường  gặp  trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  chưa  gặp  trường  hợp  nào  phát  hiện  phình  mạch  khi  chưa  vỡ.  Điều  đó  nói  lên  rằng  việc theo dõi cũng như phát hiện bệnh lý này ở  nước ta còn hạn chế. 

Phân độ WFSN trước phẫu thuật 

Nhóm WFSN gặp nhiều nhất 36 trường hợp  (48,6%).  Chúng  tôi  sử  dụng  bảng  điểm  WFSN  thay  cho  Hunt‐hess  trong  nghiên  cứu  này  vì  WFSN gần gũi với các phẫu thuật viên thần kinh  cũng như các điều dưỡng ngoại thần kinh hơn. 

Ngoài ra, WFSN lượng giá tình trạng bệnh nhân 

Trang 4

cách chính xác hơn. 

Biểu đồ 1. Phân độ WFSN trước phẫu thuật 

Đặc điểm cận lâm sàng 

Bảng 5. Đặc điểm cận lâm sàng 

Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ %

Số trường hợp

Fisher trước can thiệp

1

2

3

4

Vị trí túi phình

ĐM thông trước

ĐM thông sau

ĐM não giữa

ĐM cảnh đoạn mấu giường

Đỉnh thân nền

ĐM đốt sống

Kích thước túi phình

< 5 mm

5 – 10 mm

> 10 mm

Kích thước cổ

≤ 4mm

> 4 mm

Hình dạng túi

Hình túi

Hình thoi

Số lượng túi phình/BN

1 túi

2 túi

3 túi

74BN/84 túi phình

2

33

27

12

37

23

15

5

3

1

15

48

21

51

33

81

3

65

8

1

100%

2,7%

44,6%

36,5%

16,2%

44%

27,4%

17,8%

5,9%

3,6%

1,2%

17,9%

57,1%

25%

60,7%

39,3%

96,4%

3,6%

87,8%

10,8%

1,4%

Tình  trạng  xuất  huyết  dưới  nhện  chúng  tôi 

gặp  nhiều  nhất  ở  nhóm  Fisher  II  44,6%  và  III 

36,5%.  Chỉ  có  2,7%  là  Fisher  I,  đây  là  2  trường 

hợp  đau  đầu  vào  điều  trị  ở  bệnh  viện  tuyến 

trước  >  10  ngày,  đến  với  chúng  tôi  chụp  CT 

scanner không thấy hình ảnh XHDN, khám lâm  sàng thấy bệnh nhân cổ gượng chọc dò dịch não  tủy có máu không đông và chúng tôi quyết định  chụp  DSA,  kết  quả  1  trường  hợp  phình  ĐM  thông  trước  và  1  phình  ĐM  não  giữa.  Theo  Tanno (2007) cho rằng lâm sàng lúc vào viện ảnh  hưởng  nhiều  đến  kết  quả  điều  trị,  hình  ảnh  CLVT thấy có chảy máu dưới màng nhện Fisher 

độ II 53,8% và Fisher độ III 20,5%. 

Trong  74  bệnh  nhân  nghiên  cứu  có  84  túi  phình,  vị  trí  túi  phình  chúng  tôi  thường  gặp  là 

ĐM thông trước 44% và thông sau 24,3%. Vòng  tuần  hoàn  sau  (ĐM  thân  nền  và  ĐM  đốt  sống)  chiếm  4,8%.  Phần  lớn  phình  mạch  xuất  hiện  ở  chỗ các động mạch lớn chẻ đôi và điều này cũng  đúng đối với mạch máu não. Khoảng 85% phình  mạch  não  bắt  nguồn  từ  tuần  hoàn  trước.  Vị  trí  thường gặp nhất (30%‐35%) là động mạch thông  trước  (AcomA).  Tuy  nhiên  nhiều  động  mạch  thông  trước  không  bắt  nguồn  từ  giao  điểm  A1/A2  của  động  mạch  não  trước  và  không  bao  gồm động mạch thông trước. Các phình mạch ở  động mạch cảnh trong và thông sau chiếm 30% 

và  phình  mạch  ở  nhánh  động  mạch  não  giữa  chiếm  20%.  Khoảng  10‐  15%  phình  mạch  não  xuất hiện ở hệ tuần hoàn đốt sống ‐ thân nền(5,8),  Greenberg (2010) 85‐ 95% phình mạch xuất hiện 

ở  vòng  tuần  hoàn  trước  bao  gồm:  đoạn  thông  trước 30%, thông sau 25%, não giữa 20% và 5‐ 15 

% phình mạch ở vòng tuần hoàn sau.  

Kích thước túi phình 5‐ 10mm chiếm 58,1%.  chưa  có  trường  hợp  túi  phình  ≥  20mm  trong  nghiên cứu của chúng tôi. Cổ túi phình ≤ 4mm  chiếm  phần  lớn  60,7%  và  chủ  yếu  là  túi  phình  dạng hình túi 87,8%. Albuquerque (2005) phình  mạch  dạng  túi  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  94,8%  (66‐ 98%)  sau  đó  là  phình  mạch  hình  thoi  và  phình  động mạch bóc tách(4). 

Có 74 bệnh nhân trong nghiên cứu nhưng có 

84  túi  phình  và  tất  cả  bệnh  nhân  này  khi  nhập  viện  đều  bị  vỡ,  không  có  trường  hợp  nào  đến  với chúng tôi khảo sát khi chưa vỡ. Do đó 10 túi  phình chưa vỡ do lúc chụp mạch xóa nền (DSA) 

Trang 5

phát  hiện  kèm  theo  các  túi  phình  đã  vỡ.  Tất  cả 

các  trường  hợp  này  khi  phẫu  thuật  chúng  tôi 

kẹp 1 thì nếu túi phình chưa vỡ cùng bán cầu với 

túi  phình  đã  vỡ,  ngược  lại  chúng  tôi  tiến  hành 

phẫu thuật lần 2 sau 5‐ 10 ngày. 

Thời điểm từ khi nhập viện đến khi phẫu thuật 

Bảng 6. Thời điểm phẫu thuật 

Thời điểm phẫu thuật Số lượng Tỷ lệ %

Thời  điểm  phẫu  thuật  chúng  tôi  hay  gặp 

nhất  từ  4‐  7  ngày  chiếm  66,2%  và  31,1  %  phẫu 

thuật trong 3 ngày đầu sau khi từ khi nhập viện. 

Nguyên  nhân  gây  tử  vong  hàng  đầu  của  túi 

phình  mạch  não  là  tái  vỡ,  cao  nhất  trong  ngày 

đầu  tiên  là  4%  những  ngày  tiếp  theo  1,5%  cho 

đến khi 2 tuần. Do đó việc phẫu thuật sớm giúp 

tránh  được  tái  vỡ.  Gans(5)  trong  một  phân  tích 

của  11  nghiên  cứu  của  các  tác  giả  đưa  ra  kết 

luận: nếu lâm sàng bệnh nhân tốt khi nhập viện, 

thì  kết  quả  tốt  hơn  ở  nhóm  phẫu  thuật  sớm  (3 

ngày)  hoặc  nhóm  trung  gian  (4‐  7  ngày)  so  với 

nhóm phẫu thuật muộn (> 7 ngày). Còn đối với 

lâm  sàng  bệnh  nhân  lúc  nhập  viện  xấu  thì  sự 

khác biệt về kết quả phẫu thuật sớm hoặc muộn 

không có ý nghĩa thống kê. 

Ross(9)  phẫu  thuật  sớm  với  các  trường  hợp 

chảy  máu  dưới  nhện  do  vỡ  phình  ĐM  não  ở 

vòng  tuần  hoàn  trước.  Kết  quả  phẫu  thuật  ảnh 

hưởng bởi tuổi bệnh nhân và lâm sàng khi nhập 

viện.  Thời  điểm  phẫu  thuật  không  ảnh  hưởng 

đến kết quả điều trị, phẫu thuật sớm nhằm tránh 

chảy  máu  thứ  phát  và  giảm  số  ngày  nằm  viện. 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  phẫu  thuật 

muộn hơn các tác giả khác có thể có 2 lý do: thứ 

nhất,  do  sự  hiểu  biết  về  bệnh  lý  này  của  các 

tuyến  trước  còn  ít;  Thứ  hai  là  chẩn  đoán  muộn 

từ các khoa bệnh nhân được đưa vào ban đầu tại 

bệnh  viện  đa  khoa  tỉnh  như:  hồi  sức  nội,  nội 

tổng hợp, tim mạch  

Biến chứng sau mổ 

Bảng 7. Biến chứng sau mổ 

Biến chứng Số lượng Tỷ lệ %

Máu tụ ngoài màng cứng 1 1,3

Máu tụ dưới màng cứng 1 1,3 Các biến chứng chúng tôi gặp trong nghiên  cứu  như  liệt  nửa  người,  máu  tụ  NMC,  máu  tụ  DMC  và  viêm  phổi,  mỗi  biến  chứng  chỉ  có  1  trường  hợp  1,3%.  Những  trường  hợp  lâm  sàng  trước  mổ  xấu  (WFSN  4)  có  nhiều  biến  chứng  hơn các trường hợp khác. 

Kết quả phẫu thuật theo GOS 

Bảng 8. Kết quả phẫu thuật 

GOS Số lượng Tỷ lệ %

2 0

4 11 14,9

Kết quả điều trị tốt (GOS 4‐5) khi bệnh nhân 

ra  viện  là  91,9%.  Tử  vong  4  trường  hợp  (5,4%). 

Kết quả này tương đồng với các tác giả của một 

số trung tâm phẫu thuật lớn như bệnh viện Chợ  Rẫy, Bệnh viện Viêt Đức(1,2). 

KẾT LUẬN 

Phình  mạch  não  là  một  bệnh  nguy  hiểm,  nguy  cơ  tử  vong  cao.  Vi  phẫu  thuật  túi  phình  mạch não tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định,  cho  đến  nay  vẫn  là  một  phương  pháp  điều  trị  hiệu  quả  loại  bệnh  lý  này  với  tỉ  lệ  thành  công  cao, tử vong và di chứng thấp 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Albuquerque FC, Fiorella DJ, Han PP, Deshmukh VR, Kim LJ,  McDougall  CG  (2005)  Endovascular  management  of  intracranial  vertebral  artery  dissecting  aneurysms.  Neurosurg  Focus 18(2):E3 

2 Gans K, Dennis J, Gabriël (2002) Timing of Aneurysm Surgery 

in  Subarachnoid  Hemorrhage:A  Systematic  Review  of  the  Literature. Neurosurgery 50:336–342 

3 Greenberg  MS.  (2010)  Cerebral  aneurysms.  Handbook  of  Neurosurgery 1055‐1078 

Trang 6

4 Juvela S, Poussa K, Porras M (2001) Factors affecting formation 

and  growth  of  intracranial  aneurysms:  a  long‐term  follow‐up 

study. Stroke 32:485‐591 

5 Morita A, Fujiwara S, Hashi K, Ohtsu H, Kirino T (2005) Risk of 

rupture  associated  with  intact  cerebral  aneurysms  in  the 

Japanese population: a systematic review of the literature from 

Japan. J Neurosurg 102(4):601‐606   

6 Nguyễn  Minh  Anh  (2010)  “Điều  trị  vi  phẫu  túi  phình  động 

mạch  não:  kinh  nghiệm  trên  627  trường  hợp”.  Tạp  chí  y  học 

thực hành, số 733‐734, tr. 189 ‐ 197 

7 Nguyễn Thế Hào (2009) “Vi phẫu 318 ca túi phình động mạch 

não tại Bệnh viện Việt Đức”. Tạp chí y học thực hành, số 692‐

693, tr. 106‐111 

8 Nguyễn Thế Hào, Phạm Quỳnh trang (2011) “Một số yếu tố ảnh 

hưởng  đến  kết  quả  điều  trị  chảy  máu  tái  phát  sau  vỡ  phình 

động mạch não”. Tạp chí y học thực hành, số 779‐780, tr. 266‐

271 

9 Ross  N,  Hutchinson  P  (2002)  Timing  of  surgery  for 

supratentorial  aneurysmal  subarachnoid  haemorrhage:  report 

of  a  prospective  study.  J  Neurol  Neurosurg  Psychiatry;72:480–

484 

10 Wanke  I,  Dorfler  A,  Forsting  M  (2008)  Intracranial  Vascular  Malformations  and  Aneurysms  (from  Diagnostic  Work‐Up  to  Endovascular Therapy). Springer June 2008 

11 Weir B, Amidei C, Kongable G, Findlay JM, Kassell NF, Kelly J,  Dai  L,  Karrison  TG  (2003)  The  aspect  ratio  (dome/neck)  of  ruptured and unruptured aneurysms. Neurosurgery 99(3):447‐

451 

12 Wermer MJ, van der Schaaf IC, Algra A, Rinkel GJ (2007) Risk of  rupture  of  unruptured  intracranial  aneurysms  in  relation  to  patient and aneurysm characteristics: an updated meta‐analysis.  Stroke 38(4):1404‐1410.  

  Ngày nhận bài báo:       6/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   27/10/2014  Ngày bài báo được đăng:     05/12/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w