Nhận định chăm sóc chủ yếu phản ánh vấn đề bệnh tật chứ chưa phản ánh nhu cầu cơ bản của người bệnh. Chẩn đoán chăm sóc chủ yếu phản ánh vấn đề y tế (95%), chưa phản ánh đáp ứng của người bệnh với các vấn đề này. Kế hoạch chăm sóc được làm ngay sau khi nhập viện (90%), tuy nhiên vai trò của bệnh nhân tham gia vào xây dựng KHCS là rất thấp (15%).
Trang 1VIỆN THUỘC KHU VỰC MIỀN NÚI, TRUNG DU PHÍA BẮC VIỆT NAM
Lê Văn Duy *
, Nguyễn Thị Thanh Quyên, Trần Anh Vũ và cs
Khoa Điều Dưỡng - Trường Đại Học Y Dược - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 350 điều dưỡng viên trong khu vực miền núi phía Bắc trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 10 năm 2010 về thực trạng áp dụng qui trình điều dưỡng trong lâm sàng các tác giả đã thu được kết quả như
sau:
Nhận định chăm sóc chủ yếu phản ánh vấn đề bệnh tật chứ chưa phản ánh nhu cầu cơ bản của người bệnh Chẩn đoán chăm sóc chủ yếu phản ánh vấn đề y tế (95%), chưa phản ánh đáp ứng của người bệnh với các vấn đề này Kế hoạch chăm sóc được làm ngay sau khi nhập viện (90%), tuy nhiên vai trò của bệnh nhân tham gia vào xây dựng KHCS là rất thấp (15%) Thực hiện kế hoạch chăm sóc các hoạt động về giao tiếp, tư vấn, giải thích trước khi làm kỹ thuật tương đối tốt Kỹ thuật điều dưỡng được tiến hành chính xác và an toàn (92,5%) Tỷ lệ điều dưỡng ghi chép tiến triển chăm sóc vào hồ sơ cao (88,3%) Áp dụng qui trình chống nhiễm khuẩn chưa được tốt (49,3%) Tỷ lệ điều dưỡng phụ trách toàn diện một bệnh nhân rất thấp (8,3%) Đánh giá chăm sóc: Tỷ lệ điều dưỡng tự đánh giá và dự họp đánh giá chăm sóc và điều chỉnh KHCS khá cao (84,2%) Các tác giả đã đưa khuyến nghị để thống nhất về qui trình điều dưỡng trong toàn quốc và điều chỉnh nội dung, thời lượng hợp lý trong các cơ sở đào tạo của các trường và đào tạo lại cán bộ điều dưỡng tại các bệnh viện
Từ khóa:
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Qui trình điều dưỡng là cách suy nghĩ và hành
động đặc biệt mang tính hệ thống và sáng tạo
nhằm xác định, phòng và xử trí các vấn đề
sức khỏe có thực hoặc tiềm tàng, xác định
điểm mạnh của người bệnh và cung cấp một
nền tảng để điều dưỡng viên sử dụng tri thức,
kỹ năng thể hiện chăm sóc có tính nhân văn
Qui trình điều dưỡng mô tả mối quan hệ giữa
điều dưỡng và chăm sóc, mục tiêu, đặc điểm
và được chia thành 5 bước (Judish
Winkinson, 2001)
Sử dụng qui trình điều dưỡng trong lâm sàng
là một năng lực quan trọng và đặc thù của
ngành điều dưỡng đòi hỏi mọi điều dưỡng
viên phải tuân thủ để đảm bảo việc cung cấp
dịch vụ điều dưỡng có chất lượng và là cơ sở
để chuẩn hóa các dịch vụ điều dưỡng Qui
trình điều dưỡng được các trường đưa vào nội
dung đào tạo ở rất nhiều bộ môn điều dưỡng
tiền lâm sàng và lâm sàng hiện còn nhiều bất
*
cập, thiếu thống nhất Nhằm góp phần chuẩn hóa việc giảng dạy qui trình điều dưỡng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này để tìm hiểu hiện trạng sử dụng qui trình điều dưỡng trong các bệnh viện khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam nhằm phát hiện ra các tồn tại, các nhu cầu đào tạo cần được điều chỉnh, thay đổi trong chương trình đào tạo điều dưỡng đáp ứng nhu cầu chăm sóc người bệnh, góp phần nâng cao sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam
MỤC TIÊU
Mô tả hiện trạng tình hình áp dụng qui trình điều dưỡng tại các bệnh viện khu vực miền núi, trung du phía Bắc Việt Nam và đưa ra các khuyến cáo về thay đổi nội dung chương trình đào tạo liên quan đến việc dạy và học về qui trình điều dưỡng phù hợp tiến dần đến các chuẩn mực trong khu vực
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang (Describtive
Trang 2Cross Sectional Study)
Đối tượng nghiên cứu
- Là các cán bộ điều dưỡng đang làm việc tại
khoa phòng bệnh viện tuyến trung ương đóng
tại khu vực, bệnh viện tuyến tỉnh, huyện Các
đối tượng này trực tiếp cung cấp các dịch vụ
chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh thông
qua áp dụng qui trình điều dưỡng
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Các tỉnh thuộc khu vực miền núi
phía Bắc nơi trường Đại học Y Dược Thái
Nguyên có nhiệm vụ đào tạo và có số lượng
sinh viên tuyển sinh hàng năm chiếm số
lượng trên 80% tổng số sinh viên sinh viên
điều dưỡng hệ đại học Khu vực Tây Bắc
gồm: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai
Châu, Lao cai, Yên Bái Khu Đông Bắc gồm:
Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Quảng Ninh Khu trung du miền
núi gồm: Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh
Phúc, Phú Thọ
- Thời gian: từ tháng 1 năm 2009 đến tháng
10 năm 2010
Chọn mẫu
- Chọn mẫu phân tầng 3 khu vực, mỗi khu
vực chọn 2 tỉnh nghiên cứu: Điện Biên, Lao
Cai thuộc khu Tây Bắc, Tuyên Quang, Quảng
Ninh thuộc khu Đông Bắc, Thái Nguyên, Phú
Thọ thuộc khu trung du miền núi Các tỉnh
được chọn đại diện cho khu vực về địa lý,
kinh tế, mô hình bệnh tật, hệ thống chăm sóc
sức khỏe
- Chọn các huyện: Mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên
3 huyện để tiến hành nghiên cứu
Chỉ tiêu nghiên cứu
Các thông tin liên quan đến thực hiện qui
trình điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân.Cụ thể:
-Bước 1: Nhận định chăm sóc: điều dưỡng thu thập thông tin gì và bằng cách nào ?
- Bước 2: Chẩn đoán điều dưỡng: phương pháp chẩn đoán,sự khác biệt với chẩn đoán y khoa
- Bước 3: Lập kế hoạch chăm sóc: ai lập kế hoạch, kế hoạch có thực tế, khả thi và hướng đến kết quả mong muốn, việc phối kết hợp với cán bộ y tế khác
- Bước 4: Thực hiện kế hoạch chăm sóc: việc triển khai kế hoạch chăm sóc, ghi chép hồ sơ, việc thực hiện các qui trình kỹ thuật, sử dụng
kế hoạch điều dưỡng trong thực tế
- Bước 5: Đánh giá kết quả chăm sóc: ai là người đánh giá, kết quả như thế nào
Công cụ nghiên cứu
- Bảng đánh giá dịch vụ điều dưỡng bệnh viện của Irene G Ramey để chuẩn hoá chất lượng chăm sóc dựa theo qui trình điều dưỡng
- Bộ câu hỏi có cấu trúc phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý điều dưỡng tuyến tỉnh, huyện
Phương pháp thu thập số liệu
- Quan sát trực tiếp điều dưỡng thực hiện qui trình điều dưỡng tại khoa phòng
- Quan sát trực tiếp việc thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng sử dụng bảng kiểm
- Phỏng vấn trực tiếp điều dưỡng viên và cán
bộ quản lý điều dưỡng liên quan
- Phân tích số liệu sẵn có tại bệnh viện các tuyến
Phân tích, xử lý số liệu:bằng phần mềm
SPSS 10.0 trên máy vi tính KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1 Tỷ lệ % thông tin về nhu cầu của bệnh nhân trong bước nhận định chăm sóc (n=350)
1 Nhận định chăm sóc bao gồm các nội dung sau Có (%) Không
(%)
Trang 3Hoạt động thể lực, nghỉ ngơi 17,5 85,5
2 Nhận định phản ánh tổng thể nhu cầu cơ bản của người bệnh 23,3 76,7
3 Nhận định phản ánh chủ yếu vấn đề bệnh tật của người bệnh 96,7 3,3
Nhận xét: Các thông tin về nhu cầu thể chất của người bệnh đã được thu thập khá đầy đủ Tuy
nhiên các thông tin về tinh thần, dinh dưỡng, giấc ngủ, hoạt động thể lực, tình hình kinh tế xã hội, sức khỏe tình dục, người chăm sóc có tỷ lệ khá thấp dưới 30% Nhận định chủ yếu phản ánh vấn
đề bệnh tật chứ chưa phản ánh nhu cầu cơ bản của người bệnh
Bảng 2 Thông tin về chẩn đoán điều dưỡng (n=350)
(%)
2 Phản ánh đáp ứng của người bệnh với các vấn đề y
Nhận xét: Chẩn đoán điều dưỡng chủ yếu phản ánh vấn đề y tế (95%), chưa phản ánh đáp ứng
của người bệnh với các vấn đề này
Bảng 3 Tỷ lệ % các nội dung công việc khi lập kế hoạch chăm sóc (n=350)
2 Bệnh nhân tham gia vào xây dựng kế hoạch chăm
5 KHCS có được làm thống nhất theo mẫu chung của
Nhận xét: KHCS được làm ngay sau khi nhập viện (90%), tuy nhiên vai trò của bệnh nhân tham
gia vào xây dựng KHCS là rất thấp (15%) Phần lớn các bản KHCS không thống nhất theo mẫu chung của đơn vị (5%)
Bảng 4: Tỷ lệ % các hoạt động trong quá trình thực hiện kế hoạch chăm sóc (350)
5 Điều dưỡng thông báo cho bệnh nhân tình hình chăm
Trang 48 Tiến hành kỹ thuật an toàn, chính xác 92,5 7,5
Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng phụ trách toàn diện một bệnh nhân rất thấp (8,3%) Các hoạt động về
giao tiếp, tư vấn, giải thích trước khi làm kỹ thuật tương đối tốt Kỹ thuật điều dưỡng được tiến hành chính xác và an toàn (92,5%) Tỷ lệ điều dưỡng ghi chép tiến triển chăm sóc vào hồ sơ cao (88,3%) Áp dụng qui trình chống nhiễm khuẩn chưa được tốt (49,3%)
Bảng 5 Tỷ lệ % các hoạt động của điều dưỡng khi đánh giá chăm sóc (n=350)
(%)
1 Tổ chức họp đánh giá đáp ứng của bệnh nhân với can thiệp điều
Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng họp đánh giá chăm sóc và điều chỉnh KHCS khá cao ( 84,2% %)
BÀN LUẬN
Năm 1955, Hall là người đầu tiên mô tả điều
dưỡng là một qui trình Sau đó 1959 thuật
ngữ “Qui trình điều dưỡng” được Johnson sử
dụng lần đầu tiên, Orlando (1961),
Wiedenbach (1963) Trong những năm 1970,
qui trình được chia thành 3 bước (Vitale), 5
bước (Schultz) và Nugent (1974) cho rằng qui
trình điều dưỡng là nền tảng của chất lượng
chăm sóc khách hàng
Qui trình điều dưỡng giúp mọi người hiểu
điều dưỡng viên làm gì, tăng cường giao tiếp
và tránh được các sai sót, nhầm lẫn trong
chẩn đoán, xử trí và giải quyết vấn đề của
người bệnh đồng thời giảm chi phí cho cơ sở
y tế Sử dụng thành công qui trình điều dưỡng
sẽ giúp điều dưỡng viên đạt được chuẩn mực
nghề nghiệp [13]
Sử dụng qui trình điều dưỡng cung cấp một
ngôn ngữ chung (chẩn đoán điều dưỡng)
trong thực hành làm thống nhất nghề điều
dưỡng cung cấp một bộ máy đánh giá, hỗ trợ
trong việc phát triển chẩn đoán điều dưỡng,
thúc đẩy tính liên tục và phối hợp trong chăm sóc đảm bảo rằng tất cả các thành viên đều đã được thông báo về nhu cầu của bệnh nhân, tăng được sự hài lòng nghề nghiệp Kế hoạch chăm sóc tốt giúp tiết kiệm thời gian, sức lực
và giảm sự buồn chán trong công việc hàng ngày Qui trình điều dưỡng là một quá trình
tư duy sử dụng các kỹ năng phân tích để giải quyết vấn đề và ra quyết định
Bước nhận định của qui trình điều dưỡng là quá trình thu thập có hệ thống số liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe chung của khách hàng, hình dung một bức tranh về mức độ thể chất, tinh thần, văn hóa, xã hội, tâm linh, tri thức và phát triển, tình hình kinh tế, hoạt động chức năng và lối sống Đó là sự phối hợp thu thập số liệu từ việc lấy thông tin chủ quan là những thứ do khách hàng và người khác cung cấp và thông tin khách quan là do điều dưỡng viên trực tiếp khám bệnh, quan sát và thu thập từ các nguồn khác [10] Kết quả nghiên cứu cho thấy điều dưỡng viên đã lấy khá đầy đủ thông tin về thể chất, bệnh tật
Trang 5nhưng các thông tin về tinh thần, dinh dưỡng,
giấc ngủ, hoạt động thể lực, tình hình kinh tế
xã hội, sức khỏe tình dục, người chăm sóc có
tỷ lệ khá thấp dưới 30% Nhận định chủ yếu
phản ánh vấn đề bệnh tật chứ chưa phản ánh
nhu cầu cơ bản của người bệnh
Chẩn đoán điều dưỡng là việc phân tích số
liệu thu thập được để xác định nhu cầu hay
vấn đề của khách hàng [11] Khác với chẩn
đoán y khoa là thường chỉ có một chẩn đoán
và ít thay đổi trong quá trình điều trị bệnh
nhân, số lượng chẩn đoán điều dưỡng phụ
thuộc vào các nhu cầu thể chất, tinh thần, xã
hội và tâm linh Vì các số liệu thu thập được
chủ yếu là các thông tin về bệnh tật nên chẩn
đoán điều dưỡng chủ yếu xác định vấn đề bệnh
tật (95%) và các nhu cầu khác là rất hạn chế
Giai đoạn tiếp theo là lập kế hoạch can thiệp
điều dưỡng nghĩa là điều dưỡng viên xây
dựng một kế hoạch mô tả chiến lược và cách
lựa chọn để đạt được kế quả mong muốn Sự
tham gia và tính tự chủ của bệnh nhân, giúp
họ nhận thức được tầm quan trọng về sự đóng
góp của bản thân, nâng cao các quyết định về
sức khoẻ và tính độc lập trong tự chăm sóc là
rất quan trọng trong giai đoạn này [13] Kết
quả nghiên cứu cho thấy các điều dưỡng viên
đã tiến hành lập kế hoạch ngay khi nhập viện
song vai trò của bệnh nhân, người nhà trong
quá trình này là rất hạn chế
Thực hiện kế hoạch chăm sóc là các hành
động do điều dưỡng viên làm hoặc phối hợp
với cán bộ y tế khác, với người nhà và với
bệnh nhân để cùng đạt mục đích, kết quả
mong muốn
Kết quả nghiên cứu cho mô hình chăm sóc
theo kỹ thuật điều dưỡng còn rất phổ biến thể
hiện bằng chất lượng các kỹ thuật điều dưỡng
làm khá tốt mặc dù việc tuân thủ các qui định
về phòng chống nhiễm khuẩn còn rất hạn chế
(< 50%) Rõ ràng là mô hình làm việc theo ca
và chăm sóc toàn diện thể hiện một điều
dưỡng phụ trách tổng thể một bệnh nhân rất
thấp (< 10%) Việc phối hợp với cán bộ y tế
khác là tương đối tốt song chưa thấy rõ vai trò
của điều dưỡng viên trong việc hướng dẫn
người nhà và bệnh nhân tự chăm sóc cá nhân
Việc ghi chép các diễn biến, nội dung công việc của điều dưỡng viên rất sơ sài Trong hồ
sơ bệnh án không có phần ghi chép một cách
hệ thống, đầy đủ các hoạt động điều dưỡng
mà chỉ có phiếu chăm sóc đính kèm vào hồ sơ bệnh án
Công tác đánh giá kế hoạch chăm sóc đã được tiến hành tương đối tốt, khách quan và là cơ
sở điều chỉnh kế hoạch để đảm bảo tính thực thi Công việc này được thể hiện bởi chính điều dưỡng viên, trong các cuộc họp giao ban chuyên môn với tỷ lệ khá cao (> 80%) KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu trên 350 điều dưỡng viên trong khu vực miền núi phía Bắc về thực trạng áp dụng qui trình điều dưỡng trong lâm sàng như sau:
1 Nhận định chăm sóc: thu thập khá đầy đủ thông tin về thể chất Các thông tin về tinh thần, dinh dưỡng, giấc ngủ, hoạt động thể lực, tình hình kinh tế xã hội, sức khỏe tình dục thấp dưới 30% Nhận định chủ yếu phản ánh vấn đề bệnh tật chứ chưa phản ánh nhu cầu cơ bản của người bệnh
2 Chẩn đoán chăm sóc chủ yếu phản ánh vấn
đề y tế (95%), chưa phản ánh đáp ứng của người bệnh với các vấn đề này
3 Kế hoạch chăm sóc được làm ngay sau khi nhập viện (90%), tuy nhiên vai trò của bệnh nhân tham gia vào xây dựng KHCS là rất thấp (15%) Phần lớn nội dung các bản KHCS không thống nhất theo mẫu chung của đơn vị (5%)
4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc: Các hoạt động về giao tiếp, tư vấn, giải thích trước khi làm kỹ thuật tương đối tốt Kỹ thuật điều dưỡng được tiến hành chính xác và an toàn (92,5%) Tỷ lệ điều dưỡng ghi chép tiến triển chăm sóc vào hồ sơ cao (88,3%) Áp dụng qui trình chống nhiễm khuẩn chưa được tốt (49,3%) Tỷ lệ điều dưỡng phụ trách toàn diện một bệnh nhân rất thấp (8,3%)
5 Đánh giá chăm sóc: Tỷ lệ điều dưỡng tự đánh giá và dự họp đánh giá chăm sóc và điều chỉnh KHCS khá cao (84,2%)
KHUYẾN NGHỊ
Trang 61 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của
qui trình điều dưỡng cho cán bộ quản lý và
điều dưỡng viên và là cơ sở để phân hạng
chất lượng điều dưỡng
2 Qui trình điều dưỡng cần được thống nhất
lại trong toàn quốc trên cơ sở đảm bảo tính
khoa học, tính cập nhật và môi trường làm
việc tại Việt Nam, chú trọng vào giai đoạn
nhận định và chẩn đoán chăm sóc điều dưỡng
3 Tiến hành điều chỉnh chương trình, tăng
thời lượng dạy/ học qui trình điều dưỡng tại
các môn điều dưỡng cơ bản và lâm sàng
4 Tiến hành các khóa đào tạo lại giáo viên
điều dưỡng về qui trình điều dưỡng, từng
bước tổ chức các khoá đào tạo bổ xung cho
điều dưỡng trong toàn quốc như là một điều
kiện để cấp chứng chỉ hành nghề điều dưỡng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ y tế (2006), Kiến thức, thái độ, kỹ
năng cần đạt khi tốt nghiệp bác sỹ đa khoa,
Nhà xuất bản y học, Hà Nội
[2] Niên giám thống kê Bộ Y tế (2009), NXB
Thống kê, Hà Nội
[3] Nguyễn Văn Lình và cs (2007), Phân bổ
nhân lực y tế một số tỉnh miền Trung Việt
Nam, Y học thực hành, NXB y học, Hà Nội
[4] WHO (1997), Health Manpower
Planning, A guide for medical practice
[5] Diane M Billing, Judisch A Halstead,
(2006), Teaching in Nursing, a guide for
faculty; (pp87-149)
[6] CarolJ.Giet, Marilyn Duncan Boyd
(2002); Teaching in nursing practice;
(pp3-15)
[7] G Posner, Rudisky (1997); Course Designs, a guide to curriculum development
for teachers; Fifth edition, Longman; (pp
63-185)
[8] Fred Abbatt, A Mejia (1988); Continuing
the Education of health workers, WHO,
Geneva
[9] Phạm Song, Đào Ngọc Phong (2001); Nghiên cứu hệ thống y tế, phương pháp
nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản y học Hà
Nội (5-108)
[10] Marilynn E Doengens (2007), Manual
of Nursing Diagnose, Longman publishing House, London
[11] Porter Perry (2008) Fundamental of Nursing, 7th edition; MOSBY Ensevier publishing house, USA
[12] Ann Marinner Tomey (2008) Guide to Nursing Management and Leadership, eighth edition, MOSBY Ensenver publishing house, USA
[13] American Nurses Association (2004)
Nursing: Scope & Standards of Practice
Silver Spring, MD: Nursesbooks.org
Trang 7SUMMARY
EVALUATING THE APPLICATION PROCESS IN A NUMBER OF HOSPITAL CARE
OF MOUNTAIN AREA, CENTRAL NORTH VIETNAM TRAVEL
Le Van Duy * , Nguyen Thi Thanh Quyen, Tran Anh Vu et al
Faculty of Nursing - Thai Nguyen Medicine and Pharmacy of University
With the cross- section described study on 350 nurses in the northern mountainous region in the period from January 2009 to October 2010 on the status of applied clinical nursing process, the authors obtained the following results: the asessment mainly reflects the problems of disease but not reflecting the basic needs of the patient Nursingdiagnosis reflects maily medical problems (95%), but not response of the patient to the disease Care plans are made shortly after hospitalization (90%), however the role of the patient involved in building care plan is very low (15%) However, the implementation of the care plan as: the communication, consultation, technical procedures go relatively well Nursing technique was conducted correctly and safely (92.5%) The nursing care progress notes on high-profile (88.3%) Applying anti-bacterial is not that great (49.3%) The comprehensive nursing care is very low (8.3%) In evaluation of nursing care percentage of self assessment and meeting reviews and adjust care plan is quite high (84.2%) The author has taken the recommendation to unify the process of nursing in the country and adjust content, reasonable duration in the nursing training institutions and retraining to nursing staff in hospitals
Keywords:
*