1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị chẩn đoán của tổng phân tích nước tiểu trong chẩn đoán nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng ở thai phụ trong 3 tháng đầu thai kỳ

7 163 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 508,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm của tổng phân tích nước tiểu trong chẩn đoán nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng ở phụ nữ mang thai ba tháng đầu thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn từ 1/2010 đến 6/2010.

Trang 1

GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA TỔNG PHÂN TÍCH NƯỚC TIỂU

TRONG CHẨN ĐOÁN NHIỄM KHUẨN NIỆU KHÔNG TRIỆU CHỨNG

Ở THAI PHỤ TRONG 3 THÁNG ĐẦU THAI KỲ

Lê Triệu Hải*, Nguyễn Duy Tài**

TÓM TẮT

Giới thiệu: Tổng phân tích nước tiểu (TPTNT) là một xét nghiệm thực hiện thường qui ở nhiều phòng

khám Cấy nước tiểu định lượng là phương pháp chẩn đoán nhiễm khuẩn niệu đáng tin cậy Tuy nhiên, xét nghiệm này có một số bất lợi gồm chi phí cao, cần nhân lực đã qua đào tạo, sự không thuận tiện để lấy nước tiểu

Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm của TPTNT trong chẩn

đoán NKNKTC ở phụ nữ mang thai ba tháng đầu thai kỳ tại BVPSQTSG từ 1/2010 đến 6/2010

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, chúng tôi so sánh xét nghiệm TPTNT

với tiêu chuẩn vàng là cấy nước tiểu ở 281 phụ nữ mang thai khám tại Bệnh viện Phụ sản Quốc tế sài Gòn từ 1/2010 đến 6/2010

Kết quả: 21 trường hợp (7,5%) được xác định có nhiễm khuẩn niệu có ý nghĩa dương tính với ≥ 105 khúm

vi khuẩn/ ml nước tiểu Những vi sinh vật chính phân lập là Streptococcus spp.(57,2%), Proteus mirabilis (19%), Klebsiella pneumoniae (14,3%), Escherichia coli (9,5%) Độ nhạy, độ đặc hiệu của TPTNT là 14,3% và 87,3% Giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm là 8,3% và 92,7%

Kết luận: TPTNT có độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm tốt, do vậy có thể giảm những trường hợp có kết quả

TPTNT âm tính được gửi đến phòng xét nghiệm để cấy

Từ khóa: Giá trị chẩn đoán, tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu, nhiễm trùng niệu không triệu chứng,

thai phụ

ABSTRACT

DIAGNOSTIC VALUE OF URINALYSIS IN DIAGNOSTING ASYMPTOMATIC BACTERIURIA IN

PREGNANT WOMEN AT FIRST TRIMESTER

Le Trieu Hai, Nguyen Duy Tai * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 81 - 87

Urinalysis is one of the most commonly used test in many clinics The quantitative urine culture is mainly used to confirm urinary tract infection However, high cost, need for qualified personnel and inconvenience of collecting clean-voided specimens are the among the main drawbacks

Objectives: identify the sensitivity, specificity, positive predictive value and negative predictive value of

urinalysis in diagnosting asymptomatic bacteruria in pregnant women at first trimester

Methods: In this study, we compared urinalysis with standard urine culture for 281 pregnant women at

SaiGon International OB & GYN Hospital between January 2010 and June 2010

Results: Of 281 urine specimens evaluated, 21 cases (7.5%) were determined to have ≥ 105 CFU/ml by the

culture method The main organisms were Streptococcus spp (57.2%), Proteus mirabilis (19%), Klebsiella pneumoniae (14.3%), Escherichia coli (9.5%) The sensitivity and specificity of urinalysis were 14.3% and 87.3%, respectively The positive predictive value was low (8.3%) while the negative predictive value was very high (92.7%)

* Bệnh viện phụ sản Quốc Tế ** Bộ môn Sản - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc : GS Nguyễn Duy Tài ĐT: 0903856439 Email: dr.nguyenduytai@yds.edu.com

Trang 2

Conclusions: These results suggest that the urinalysis is not a reasonable way for screening asymptomatic

bacteriuria in pregnant women However, the specificity and the negative predictive value remained strong, so in cases with normal urinalysis we should not routinely confirm by urine culture

Keywords: Diagnostic value, urinalysis, asymptomatic bacteruria, pregnant women

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn niệu (NKN) là một bệnh lý

thường gặp tại các phòng khám, trong đó nhiễm

khuẩn niệu không triệu chứng (NKNKTC) trong

thai kỳ gặp phải 5-10% Phụ nữ mang thai có

những thay đổi về giải phẫu và sinh lý tạo điều

kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây

nhiễm khuẩn đường tiết niệu Để hạn chế biến

chứng có thể xảy ra cho thai phụ và thai nhi cần

có chương trình tầm soát và điều trị NKNKTC ở

thai phụ hiệu quả Năm 2007, trong một nghiên

cứu gộp 14 thử nghiệm lâm sàng của Smaill và

cs đã cho thấy việc điều trị kháng sinh đối với

nhiễm khuẩn niệu khơng triệu chứng so với

không điều trị giúp làm giảm tần suất viêm đài

bể thận cấp (nguy cơ tương đối (RR) 0,23, KTC

95% 0,13- 0,41), giảm sanh trẻ nhẹ cân (RR 0,66,

KTC 95% 0,49- 0,89)(1)

Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ(1)

(HHSPKHK) có khuyến cáo về chiến lược tầm

soát tình trạng NKNKTC bằng cấy nước tiểu

giữa dòng trên các thai phụ ở lần khám thai đầu

tiên vào năm 2000 Tổ chức dịch vụ tiêm phòng

của Hoa Kỳ cũng khuyến cáo mẫu cấy nước tiểu

nên được thực hiện giữa tuần 12-16 của thai kỳ

hay ở lần khám thai đầu tiên (Khuyến cáo mức

độ A)(1) Tuy nhiên, việc tầm soát tình trạng

NKNKTC bằng cấy khuẩn niệu sẽ không hiệu

quả kinh tế khi tần suất lưu hành bệnh thấp Bên

cạnh đây là một xét nghiệm khá phức tạp, đắt

tiền và tốn thời gian Trong khi đó TPTNT là

một xét nghiệm nhanh rẻ tiền, đơn giản được

thực hiện thường qui ở nhiều phòng khám thai

Hiện tại, có sự chênh lệch rất lớn giữa các kết

quả về giá trị của TPTNT trong tầm soát

NKNKTC Có nghiên cứu cho rằng TPTNT giúp

loại trừ những trường hợp cấy khuẩn niệu âm

tính, từ đó làm giảm áp lực công việc cho phòng

xét nghiệm vi sinh Nhưng cũng có nghiên cứu

cho rằng TPTNT với độ nhạy và độ đặc hiệu

không đủ cao để khuyến cáo là phương tiện tốt trong tầm soát NKN Sự khác biệt này có thể do quần thể nghiên cứu với tác nhân gây bệnh và phương thức thực hiện xét nghiệm này có phần khác nhau Tại Bệnh viện Phụ Sản Quốc Tế Sài Gòn (BVPSQTSG) chưa có nghiên cứu về giá trị chẩn đoán của TPTNT trong chẩn đoán NKN ở phụ nữ mang thai ba tháng đầu thai kỳ Cho nên, việc xác định lại giá trị của xét nghiệm TPTNT trong tiên đoán bệnh lý NKNKTC ở thai phụ là quan trọng, nhất là ở tam cá nguyệt đầu

Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với câu hỏi nghiên cứu: “Giá trị của TPTNT trong chẩn đoán NKNKTC ở thai phụ trong 3 tháng đầu thai kỳ là như thế nào? ”

Mục tiêu chính

Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tiên đoán âm của TPTNT trong chẩn đoán NKNKTC ở phụ nữ mang thai ba tháng đầu thai kỳ tại BVPSQTSG từ 1/2010 đến 6/2010

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Xét nghiệm chẩn đoán

Đối tượng nghiên cứu

281 thai phụ 3 tháng đầu thai kỳ khám tại

BV Phụ Sản Quốc tế Sài Gòn từ 1-6/2010

Tiêu chuẩn nhận vào

- Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Có kèm theo một trong các bệnh lý dưới đây:

- Viêm âm đạo, âm hộ

- Ra huyết âm đạo

- Sử dụng kháng sinh trong vòng 1 tuần

- Có triệu chứng nghi nhiễm trùng tiểu (tiểu

Trang 3

- Có tiền căn bệnh lý đường tiết niệu

- Có bệnh lý cấp tính

Cách thức tiến hành

Lấy mẫu thuận tiện, tuần tự thỏa tiêu chuẩn

của nghiên cứu Lấy mẫu nước tiểu giữa dòng

để thực hiện TPTNT và cấy khuẩn niệu Sử

dụng que nhúng của hãng Bayer đọc kết quả với

máy đọc tự động Clinintex 100, soi cặn lắng

nước tiểu tìm bạch cầu, hồng cầu, trụ niệu do 2

kỹ thuật viên xét nghiệm thực hiện (chỉ số

KAPPA = 96%)

Hình: Qua soi cặn lắng thấy trụ niệu (mũi tên

dài), bạch cầu (mũi tên đậm), hồng cầu (mũi tên

ngắn) Nguồn hình: Fairley KF, Birch DF (1982)

Hematuria: a simple method for dentifying

glomerular bleeding Kidney Int 21:105

Que nhúng nước tiểu: Thử nghiệm Nitrite

dựa trên tương tác của acid amin thơm

sulfanilamic với nitrite trong môi trường đệm

acid để tạo nên muối diazo Muối diazo này bắt

cặp với hợp chất

3-hydroxy-1,2,3,4-tetra-hydrobenz-(h)-quinoline tạo ra màu đỏ azo

Bạch cầu giấy nhúng được báo cáo là âm tính,

vết, (+) hay ít, (++) hay trung bình, (+++) hay

nhiều Bạch cầu giấy nhúng là dương tính nếu

(+) hay (++), (+++) Còn âm tính hay vết được

xem là âm tính theo khuyến cáo của Marquette

và cs Soi cặn lắng nước tiểu: Lấy 10 ml nước

tiểu giữa dòng đem quay li tâm trong vòng 5

phút với tốc độ quay là 1500 vòng/phút Sau đó

đổ bỏ hết phần nước tiểu ở trên chỉ giữ lại 1ml

nước tiểu bên dưới Trộn đều phần nước tiểu

còn lại này, lấy ra 20μl (1 giọt) cho lên lam và soi

tươi dưới kính hiển vi ở quang trường 40

Cấy khuẩn niệu do một chuyên gia vi sinh thực hiện NKNKTC là khi có sự hiện diện ít nhất 105 khúm vi khuẩn/ ml nước tiểu dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán của Kass với cách lấy nước tiểu giữa dòng, nhưng không có các triệu chứng của NKN như tiểu gắt, tiểu lắt nhắt, đau hông lưng Sau đó tiến hành định danh vi khuẩn

Thu thập số liệu bằng phần mềm Excel 2003,

xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 10

Vấn đề y đức

Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu được miễn phí cấy trùng niệu Việc lấy nước tiểu xét nghiệm là một xét nghiệm thường qui trong khám thai, không gây ảnh hưởng gì lên sức khỏe thai phụ Sau khi được giải thích về thông tin nghiên cứu và sự tham gia của các thai phụ

là hoàn toàn tự nguyện Khi phát hiện bệnh lý bệnh nhân được điều trị chu đáo

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1- Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm TB ± ĐLC Tối thiểu Tối đa

BMI 19,8 ± 2,2 15,4 27,8 Tuổi thai (tuần) 9 ± 2,3 5 12,5

Hb, hemoglobin; BMI, chỉ số khối cơ thể; TB, trung bình; ĐLC, độ lệch chuẩn

Nhận xét: Tuổi trung bình của các đối tượng

tham gia nghiên cứu là 29 Tuổi thai trung bình

là 9 tuần

Bảng 2 - Các đặc điểm khác của đối tượng

Cư ngụ TP.HCM

Tỉnh Tổng

212

69

281

75,4 24,6

100 Nghề Nội trợ

Trí thức Nhân viên y tế Buôn bán nhỏ

40

150

14

77

14,2 53,4

5 27,4

Trình độ Cấp 1 trở xuống

Cấp 2, 3 Cao đẳng, đại học

2

100

179

0,7 35,6 63,7

Trang 4

Đặc điểm Tần số Tỉ lệ (%)

Giao hợp Không

118

163

42

58

Nhận xét: 75% đối tượng nghiên cứu sống

tại TP HCM Nghề nghiệp chủ yếu là trí thức

chiếm 53,4% Đa số có trình độ cao đẳng, đại học

(63,7%) Hầu hết là sử dụng nước máy (87,9%)

Hơn phân nửa có giao hợp lúc mang thai Đa số

có trình độ từ cao đẳng trở lên (63,7%)

Tỉ lệ NKNKTC ở thai phụ mang thai 3 tháng

đầu tại BVPSQTSG là 7,5%

Bảng 3 – Phân lập tác nhân gây bệnh

Kết quả cấy khuẩn niệu Số trường hợp Tỉ lệ (%)

Alpha Hemolytic Strep

Beta Hemolytic Strep

Escherichia Coli

Klebsieella pneumoniae

Proteus mirabilis

2

10

2

3

4

9,52 47,62 9,52 14,29 19,05

Tỉ lệ NKN với Beta Hemolytic Streptococcus

tìm thấy trong nghiên cứu này khác với các

nghiên cứu trên thế giới Escherichia Coli cũng

chiếm đa số 66,7% kết quả cấy dương tính

trong nghiên cứu của Abdullah A A tại Á Rập

(4).Sự hiện diện của E coli chiếm đa số trong

những nghiên cứu này cũng có thể do hầu hết

NKN là hậu quả của vi khuẩn đường ruột đặc

biệt là E coli, vi khuẩn thường trú ở vùng tầng

sinh môn, và sau đó xâm nhập vào niệu đạo và

tăng sinh và nhiễm trùng bàng quang, thận và

cấu trúc kế cận

Một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến

NKNKTC trong 3 tháng đầu thai kỳ:

Bảng 4 - Phân bố tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu theo tuổi

Tuổi NKN

≤ 20 21 - 30 31 - 40 ≥ 41

Tổng số

(+) 0 (0%) 13 (6,74%) 8 (10,67%) 0 (0%) 21 (7,5%)

(-) 4 (100%) 180

(93,26%)

67 (89,33%) 9

(100%)

260 (92,5%) Tổng

số

4

100%

193 100%

75 100%

9 100%

281 100%

Kiểm định chính xác Fischer P= 0,565

Nhận xét: Tỉ lệ NKN cao nhất trong nhóm

tuổi 31-40 tuổi: 10,67% Kế đó là nhóm tuổi 21-30 tuổi: 6,74% Tuy nhiên sự khác biệt này không có

ý nghĩa về phương diện thống kê

Bảng 5 - Phân bố tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu theo chỉ số

khối cơ thể

Dư cân NKN

Có Không

Tổng số

(+) 0 (0%) 21 (7,58%) 21 (7,47%) (-) 4 (100%) 256 (92,42%) 260 (92,53%) Tổng 4 (100%) 277 (100%) 281 (100%) Kiểm định chính xác Fischer P=0,732

Tỉ lệ NKN ở nhóm phụ nữ có chỉ số khối cơ thể là dư cân là 0%, trong khi tỉ lệ này ở người không dư cân là 7,58% Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về phương diện thống kê

Bảng 6 - Phân bố tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu theo thiếu

máu

Thiếu máu NKN

Có không

Tổng số

(+) 4 (5%) 1 (2,27%) 5 (4,03%) (-) 76 (95%) 43 (97,73%) 119 (95,97%) Tổng số 80 (100%) 44 (100%) 124 (100%) Kiểm định chính xác Fischer P=0,416

Tỉ lệ NKN cao ở nhóm thai phụ có thiếu máu chiếm tỉ lệ là 5%, trong khi nhóm không thiếu máu chỉ chiếm 2,27% Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về phương diện thống

Bảng 7 - Giá trị của que nhúng nước tiểu

nhạy

Độ đặc hiệu

McNair R D 2000(5) 528 47,2% 80,3% Phạm Thủy Linh 2000 (6) 100 76% 91% Kutlay S 2003(7) 406 38,7% 35,8% Kacmaz B 2006 (8) 250 60% 99,2% Juthani M 2007(11) 101 100% Kovavisarach E 2008(9) 360 16,7% 99,4% L.T.T Phương 2008 (10) 264 58,8% 81,7% Chúng tôi 2010 281 11,1% 92,9%

Có một sự khác biệt khá lớn về độ nhạy của que nhúng nước tiểu giữa các nghiên cứu Với cùng tiêu chuẩn chẩn đoán NKN là cấy trùng niệu ở điểm cắt đoạn ≥ 105 khúm vi khuẩn trên 1

ml nước tiểu, sự khác biệt này có thể do nghiên

Trang 5

cứu trên đối tượng khác nhau tại các cơ sở khác

nhau Tác giả Lê Thị Thanh Phương nghiên cứu

trên 3 đối tượng gồm phụ nữ mang thai 12-16

tuần, đang điều trị dọa sanh non tại bệnh viện

Hùng Vương, bệnh nhân nam đến khám tại

bệnh viện Bình Dân(10) Còn trên nghiên cứu của

chúng tôi là trên đối tượng thai phụ mang thai 3

tháng đầu không có triệu chứng nghi ngờ NKN

Độ nhạy của que nhúng nước tiểu trong nghiên

cứu của chúng tôi là 11,1% Kết quả này tương

đồng với tác giả Kovavisarach E(9) Nhưng đây là

con số quá thấp so với các tác giả khác(5,6,7,8,11).

Theo y văn thời gian tồn lưu trong bàng quang

cần để vi khuẩn chuyển nitrate thành nitrite

thường là 4 giờ trở lên, vì vậy xét nghiệm này

thích hợp khi sử dụng mẫu nước tiểu đầu tiên

vào buổi sáng Trong thực tế thực hành lâm sàng

điều này sẽ khó được tuân thủ đặc biệt là ở phụ

nữ mang thai Hơn nữa, trong nhóm cấy trùng

niệu dương tính với ≥ 105 khúm vi khuẩn của

mẫu nghiên cứu của chúng tôi thì Beta

Hemolytic Streptococcus chiếm đa số với tỉ lệ

47,6% Đây là một loại vi khuẩn gram dương,

không có khả năng khử nitrate thành nitrite do

không có men nitrate reducrase Khác với các

nghiên cứu trước đây Escherichia Coli chiếm đa

số nhưng lại chiếm tỉ lệ thấp (9,52%) trong mẫu

phân lập cấy trùng niệu dương tính của chúng

tôi Vai trò của que nhúng có giá trị trong việc

phát hiện các tác nhân gây bệnh là vi khuẩn

gram âm, nhưng là có giá trị hạn chế đối với vi

khuẩn gram dương là cũng phù hợp với

nguyên lý của xét nghiệm này

Bảng 8 - Giá trị của TPTNT so với tiêu chuẩn vàng

là cấy trùng niệu

Cấy trùng niệu (+)

Cấy trùng niệu (-)

Tổng

TPTNT (+)

TPTNT (-)

Tổng

3

18

21

33

227

260

36

245

281

Nhận xét

- Độ nhạy= 14,3% (KTC 95% 3,05% - 36,3%)

- Độ đặc hiệu= 87,3% (KTC 95% 82,6% -

91,1%)

- GTTĐ (+)= 8,33% (KTC 95% 1,75% - 22,5%)

- GTTĐ (-)= 92,7% (KTC 95% 88,6% - 95,6%) Mục đích của nghiên cứu này là xem sự tin cậy của TPTNT bao gồm que nhúng nước tiểu mười thông số kiểm tra nitrite và hoạt động của men của bạch cầu, soi cặn lắng nước tiểu tìm tiểu mủ, tiểu máu, vi khuẩn so với cấy nước tiểu trong việc chẩn đoán NKNKTC ở phụ nữ mang thai Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngay cả khi phối hợp các kết quả xét nghiệm này với nhau cũng không tăng độ nhạy lên đáng kể, tức

là cũng cho thấy que nhúng nước tiểu có thể có giá trị tương đương soi cặn lắng nước tiểu tìm tiểu mủ Đã từng có khuyến cáo về những giới hạn trong độ chính xác chẩn đoán của cả hai xét nghiệm này nên được kết hợp trong việc quyết định chẩn đoán y khoa Còn theo kiến nghị của tác giả Lê Thị Thanh Phương nếu nhiễm trùng tiểu không có triệu chứng, có thể dùng đếm bạch cầu để sàng lọc và hướng dẫn cấy vi sinh

để chẩn đoán(10) Tuy TPTNT thường được xem

là xét nghiệm tiện lợi, rẻ tiền, hiệu quả, nhưng với độ nhạy của TPTNT này thấp hơn các nghiên cứu trước đây và có lẽ không đủ để có thể sử dụng trong tầm soát vì khả năng bỏ sót bệnh cao Xét nghiệm giúp nhận diện ra 14% phụ nữ mang thai có NKNKTC nhưng điều này tương ứng với việc bỏ sót 86% phụ nữ có NKN không được phát hiện và điều trị kịp thời Cho nên phương pháp tầm soát mà bỏ sót 86% NKNKTC khó có thể chấp nhận Độ đặc hiệu của TPTNT trong nghiên cứu của chúng tôi là 87,3% với GTTĐ (-) là 92,7% như vậy có thể phần nào sử dụng giá trị này của xét nghiệm để loại trừ khả năng NKN và hạn chế chỉ định cấy trùng niệu cho những trường hợp không có tiểu

mủ cũng như TPTNT không nghi ngờ NKN Phù hợp với một số khuyến cáo trước đây cho rằng việc tầm soát dương tính là một chỉ định cho cấy nước tiểu Tức là chỉ cấy khi xét nghiệm tầm soát dương tính nhằm mục đích xác định chẩn đoán, biết được loại vi khuẩn và làm kháng

sinh đồ

Trang 6

Bảng 9 - Kết quả kháng sinh đồ

Kết quả cấy trùng niệu Tên kháng sinh

Nitrofuratoin

Augmentin

Nettilmycin

Norfloxacin

Vancomycin

S, sensitive; R, resistant

Nhận xét: Beta Hemolytic Streptococcus còn

nhạy hoàn toàn với Nitrofuratoin, Nettilmycin

và nhạy cảm với Augmentin (90%) Norfloxacin

thuộc họ Quinolones không được sử dụng khi

mang thai

Giới hạn của đề tài

Do thời gian nghiên cứu giới hạn, nên cỡ

mẫu của chúng tôi thu nhận được vào nghiên

cứu chỉ là 281 trường hợp là một con số khá

khiêm tốn để có thể đạt được tất cả mục tiêu

nghiên cứu Và có lẽ kết quả trong nghiên cứu

của chúng tôi khi khảo sát ở dân số những phụ

nữ khám thai tại BVPSQTSG chỉ có tính đại diện

cho dân số mục tiêu Để có tính khái quát cần có

nghiên cứu gộp gồm sự tham gia của nhiều cơ

sở y tế Để đạt được điều này chúng tôi hy vọng

có những nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn

hơn cũng như việc khảo sát về hiệu quả của điều

trị, kế hoạch tầm soát hiệu quả và kết cục sau

cùng của thai kỳ liên quan đến NKN sẽ được

thực hiện trong tương lai

KẾT LUẬN

Tỉ lệ NKNKTC ở thai phụ 3 tháng đầu thai

kỳ tại BVPSQTSG là 7,5% Tác nhân gây bệnh

chủ yếu là Beta Hemolytic Streptococcus Chưa ghi

nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

NKNKTC với tuổi mẹ, chỉ số khối cơ thể, tình trạng thiếu máu, nước sinh hoạt, giao hợp trong thai kỳ, tuổi thai

TPTNT là một xét nghiệm nhanh, rẻ tiền, dễ thực hiện tại nhiều phòng khám nhưng có độ nhạy không đủ cao để tầm soát NKNKTC Ngoài ra, để chẩn đoán chính xác NKNKTC chúng ta vẫn cần cấy nước tiểu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abdullah AA and Al-Moslih Moslih MI (2005), Prevalence

of asymptomatic bacteriuria in pregnant women in Sharjah, United Arab Emirates East Mediterr Health J 11(5-6): p 1045-52

2 Juthani-Mehta, Manisha M., et al (2007), Role of dipstick testing in the evaluation of urinary tract infection in nursing home residents Infect Control Hosp Epidemiol 28(7): p 889-91

3 Kacmaz B., et al.(2006), Evaluation of rapid urine screening tests to detect asymptomatic bacteriuria in pregnancy Jpn J Infect Dis, 59(4): p 261-3

4 Kovavisarach E., Vichaipruck M, and Kanjanahareutai S (2008), Reagent strip testing for antenatal screening and first meaningful of asymptomatic bacteriuria in pregnant women J Med Assoc Thai, 91(12): p 1786-90

5 Kutlay S., et al (2003), Prevalence, detection and treatment

of asymptomatic bacteriuria in a Turkish obstetric population J Reprod Med, 48(8): p 627-30

6 L Thị Thanh Phương (2008), Khảo sát giá trị xét nghiệm nitrite và bạch cầu niệu trong chẩn đoán nhiễm trùng niệu,

p 58-59

7 Lin K and Fajardo K (2008), Screening for asymptomatic bacteriuria in adults: evidence for the U.S Preventive Services Task Force reaffirmation recommendation statement Ann Intern Med, 149(1): p W20-4

8 McNair RD, et al (2000), Evaluation of the centrifuged and Gram-stained smear, urinalysis, and reagent strip testing

to detect asymptomatic bacteriuria in obstetric patients

Trang 7

9 Phạm Thủy Linh (2000), Tầm soát nhiễm khuẩn niệu vào 3

tháng cuối thai kỳ tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, p 49-51

10 Smaill F and Vazquez JC (2007), Antibiotics for

asymptomatic bacteriuria in pregnancy Cochrane

Database Syst Rev (2): p CD000490

11 StataCorp (2007), Stata Statistical Software: Release 10.2007, StataCorp

Ngày đăng: 20/01/2020, 18:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm