1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp phẫu thuật nội soi cắt túi mật kết hợp nội soi tiêu hóa (ERCP) trong mổ

5 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 245,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt túi mật kết hợp nội soi tiêu hóa trong mổ điều trị sỏi ống mật chủ kèm sỏi túi mật. Nghiên cứu tiến hành trên tất cả bệnh nhân sỏi ống mật chủ đồng thời có sỏi túi mật tại khoa ngoại tổng quát bệnh viện đa khoa Kiên Giang từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013.

Trang 1

SOI CẮT TÚI MẬT KẾT HỢP NỘI SOI TIÊU HÓA (ERCP) 

 TRONG MỔ 

Sử Quốc Khởi*, Nguyễn Tấn Cường**, Trương Công Thành*, Đào Xuân Cường*, Danh Canh*  

TÓM TẮT 

Mở đầu: Theo nhiều nghiên cứu tỷ lệ sỏi ống mật chủ kết hợp sỏi túi mật là 6‐15%, tỷ lệ này gia tăng theo 

tuổi. Các nghiên cứu khác cho thấy trong mổ cắt túi mật nội soi thì có 3‐14,7% trường hợp có sỏi ống mật chủ. 

Do đó, việc xử lý đồng thời sỏi túi mật và sỏi ống mật chủ đã được chúng tôi tiến hành nghiên cứu bằng phẫu  thuật nội soi cắt túi mật kết hợp nội soi tiêu hóa (ERCP) lấy sỏi tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang nhằm mục tiêu  bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt túi mật kết hợp nội soi tiêu hóa (ERCP) trong mổ điều trị sỏi  ống mật chủ kèm sỏi túi mật. 

Đối tượng và phương pháp: Mô tả tiến cứu trên tất cả bệnh nhân sỏi ống mật chủ đồng thời có sỏi túi mật 

tại khoa ngoại tổng quát bệnh viện đa khoa Kiên Giang từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013. 

Kết quả: 5 trường hợp, 2 Nam, 3 Nữ, tuổi tung bình: 46,12 ± 6,25 tuổi, tỷ lệ thành công 100%, thời gian 

mổ: 78 ± 21,9 phút, 02 trường hợp phẫu thuật cấp cứu, thời gian nằm viện: 3,6 ± 1,2 ngày, không TH tai biến  biến chứng. 

Kết luận: Cắt túi mật nội soi kết hợp ERCP trong mổ điều trị một thì sỏi ống mật chủ và sỏi túi mật bước 

đầu nhận thấy đây là một phẫu thuật an toàn, tỷ lệ thành công cao, áp dụng được những trường hợp cấp cứu, ít  tai biến biến chứng, rút nắn thời gian nằm viện. 

Từ khóa: sỏi ống mật chủ, chụp mật tụy ngược dòng, cắt túi mật nội soi 

ABSTRACT 

EVALUATION THE INITIAL RESULT OF LAPAROSCOPIC CHOLECYSTECTOMY ASSOCIATED 

INTRAOPERATIVE DIGESTIVE ENDOSCOPY (ERCP) 

Su Quoc Khoi, Nguyen Tan Cuong, Truong Cong Thanh, Dao Xuan Cuong, Danh Canh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 316 ‐ 320 

Introduction:  According  to  researches,  rate  of  cholecystocholedolithiasis  is  6‐15%  of  symptomatic 

gallstones,  older  age  is  associated  with  higher  rate.  In  another  one,  rate  of  choledocholithiasis  of  laparoscopic  cholecystectomy  is  3‐14,7%.  However,  we  studied  one  stage  treatment  for  cholecystocholedocholithiasis  by  laparoscopic cholecystectomy associated intraoperaive ERCP procedure with objective: evaluation the initial result 

of laparoscopic cholecystectomy associated intraoperative digestive endoscopy (ERCP) treating choledocholithiasis  combined gallstones. 

Materials  and  methods:  Descriptive  prospective  study  in  all  cases  of  cholecystocholedocholithiasis  at 

general surgical department of Kien Giang general hospital from Nov 2012 to Feb 2013. 

Results: 05 cases with 02 males, 03 females. The mean age 46,12 ± 6,25 years old, success rate is 100% of 

cases, operative time is 78 ± 21,9 minutes, emergency operation has two cases, mean hospital stay time is 3,6 ± 1,2  days, no complications. 

Conclusions: Laparoscopic cholecystectomy associated intraoperative ERCP is a safe procedure with high 

* Bệnh viện Kiên Giang, ** Trường ĐHYD TP HCM 

Tác giả liên lạc: ThS Sử Quốc Khởi   ĐT: 0913121780   Email: Drkhoi78@yahoo.com 

Trang 2

Key  words:  cholecystocholedolithiasis,  intraoperative  Endoscopic  retrograde  cholangiopancreatography, 

laparoscopic cholecystectomy 

MỞ ĐẦU 

Sỏi mật là một bệnh phổ biến. Ở Việt Nam, 

tỷ  lệ  sỏi  ống  mật  chủ  kết  hợp  sỏi  túi  mật  là  6‐

cứu khác cho thấy trong mổ cắt túi mật nội soi 

Hiện  nay,  những  trường  hợp  đồng  thời  sỏi  túi 

mật  và  sỏi  ống  mật  thì  phương  pháp  điều  trị 

thường  áp  dụng  nhất  là:  thực  hiện  nội  soi  tiêu 

hóa  (ERCP),  cắt  cơ  vòng  Oddi  lấy  sỏi  ống  mật 

gian  lý  tưởng  để  thực  hiện  cắt  túi  mật  nội  soi 

không được xác định, thường 3‐7 ngày, thời gian 

làm  ERCP  thì  chỉ  tiền  mê,  bệnh  nhân  sợ,  buồn 

nôn. Nếu chịu đựng kém có thể thực hiện ERCP 

không thành công. Mặt khác, một số trường hợp 

thực  hiện  ERCP  thất  bại  do  luồn  dây  dẫn  vào 

nhú  Vater không được, nếu  phối  hợp  với  phẫu 

thuật  nội  soi  cắt  túi  mật  thì  tỉ  lệ  thành  công  sẽ 

trên  chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  này  nhằm 

mục  tiêu:  bước  đầu  đánh  giá  kết  quả  phương 

pháp phẫu thuật nội soi cắt túi mật kết hợp với 

nội soi tiêu hóa trong mổ điều trị sỏi túi mật và 

ống mật chủ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng 

Tất cả bệnh nhân sỏi ống mật chủ kèm sỏi 

túi  mật  được  thực  hiện phẫu  thuật nội  soi  cắt 

túi mật kết  hợp nội soi  tiêu hóa (ERCP) trong 

mổ  tại  khoa  Ngoại  Tổng  Quát  bệnh  viện  đa 

khoa  Kiên  Giang  từ  tháng  10  năm  2012  đến 

tháng 2 năm 2013. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Bệnh  nhân  sỏi  túi  mật,  viêm  túi  mật  cấp 

đồng  thời  có  sỏi  ống  mật  chủ  đường  kính  <  20mm.  

‐Tiêu chuẩn loại trừ 

Sỏi nhánh gan, tuổi < 18 tuổi, ASA IV và V, 

đã cắt dạ dày, nghi ngờ ung thư đường mật, rối  loạn đông máu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Mô tả tiến cứu. 

Phương pháp tiến hành 

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, tư thế  nằm  ngữa,  sẽ  được  thực  hiện  nội  soi  mật  tụy  ngược  dòng,  luồn  dây  dẫn  (guidewire)  vào  đường mật, sau đó cắt cơ vòng Oddi lấy sỏi, và  chụp  hình  lại  đường  mật  ngay  trên  bàn  mổ  để  xác  định  sạch  sỏi  ống  mật  chủ.  Ngay  sau  thưc  hiện ERCP bệnh nhân sẽ được cắt túi mật nội soi  thường quy. 

 Các  biến  số  cần  nghiên  cứu  được  thu  thập  theo  bệnh  án  mẫu  như:  tuổi,  giới,  triệu  chứng  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng,  thời  gian  mổ,  tai  biến  trong  mổ,  biến  chứng hậu  phẫu, thời  gian nằm  viện, vv…  

 Đánh  giá  kết  quả  chúng  tôi  dựa  vào:  diễn  biến  lâm  sàng  hậu  phẫu,  và  các  tai  biến,  biến  chứng trong hậu phẫu và mức độ cải thiện của  bệnh nhận. Kết quả được chia ra các mức độ:   Tốt: Trong mổ không có tai biến và hậu phẫu  không  có  biến  chứng  bệnh  nhân  ổn  định  xuất  viện, không còn  các triệu  chứng như trước  mổ,  siêu  âm  sạch  sỏi,  bilirubin,  men  tụy  trong  giới  hạn bình thường.  

Trung  bình:  Trong  mổ  và  hậu  phẫu  có  tai  biến, biến chứng nhưng đươc phát hiện và xử lý  kịp  thời,  không  ảnh  hưởng  đến  sức  khỏe  và  di  chứng về sau. 

Kém:  Có  tai  biến  trong  mổ  hay  biến  chứng  sau mổ. Phải mổ lại để giải quyết nguyên nhân  

‐Số  liệu  được  xử  lý  bằng  phần  mềm  SPSS  11.5. 

Trang 3

Trong thời gian tháng 10/2012‐ 02/2013 thực 

hiện 05 trường hợp (TH):  

‐Giới: 2 Nam, 3 Nữ 

‐Tuổi trung bình: 46,12 ± 6,25 tuổi, nhỏ nhất 

39 tuổi, lớn nhất 55 tuổi.  

‐Triệu  chứng  lâm  sàng:  tất  cả  5TH  đều  có 

biểu hiện vàng da, 2 trường hợp biểu hiện viêm 

túi mật cấp: đau hạ sườn phải, sốt, Murphy (+). 

‐Xét  nghiệm:  Tất  cả  5TH  đều  tăng  biliubin 

trực  tiếp:  6,2‐22mmol/l,  CA19‐9  trong  giới  hạn 

bình thường. 

‐Hình  ảnh  học:  Siêu  âm,  5TH  đều  xác  định 

được sỏi túi mật, 2TH thành túi mật dầy 5mm và 

6mm, 3TH còn lại thành túi mật không dầy, sỏi 

ống  mật  chủ  8‐18mm,  ống  mật  chủ  10‐22mm, 

không ghi nhận bất thường khác. 

‐Phẫu thuật cấp cứu: 02TH, chương trình: 03 

TH 

‐Tỷ lệ thành công 100% 

‐Thời  gian  ERCP:  22  ±  5,4  phút  nhanh  nhất 

15 phút, chậm nhất 30 phút 

‐Thời gian cắt túi mật: 56 ± 25,7 phút nhanh 

nhất 30 phút, chậm nhất 90 phút 

‐Thời gian mổ: 78 ± 21,9 phút nhanh nhất 50 

phút, chậm nhất 110 phút. 

‐Thời gian nằm viện: 3,6 ± 1,2 ngày, sớm nhất 

2 ngày, châm nhất 5 ngày 

‐Không TH tai biến biến chứng. 

‐100% kết quả tốt, không có trường hợp kết 

quả trung bình, kém. 

‐Các bệnh nhân được theo dõi 1‐3 tháng, tình 

trạng bệnh nhân tốt. 

BÀN LUẬN 

Trong lô nghiên cứu có 2TH giới nam, 3TH 

cao hơn nam 25% (p<0,05), trung bình 58 tuổi. 

Sự khác biệt phân bố theo giới tính theo chúng 

tôi  có  thể  do  nội  tiết  tố  của  nữ  tuổi  mãn  kinh 

nồng  độ  estrogen  làm  sự  bảo  hòa  cholesterol 

trong  mật  và  progesterol  làm  giảm  khả  năng 

co bóp túi mật và ống mật chủ dẫn đến ứ mật 

dễ hình thành sỏi, vì vậy gặp ở nữ nhiều hơn  nam.  Mặt  khác,  yếu  tố  phụ  nữ  mắc  bệnh  sỏi  mật  tăng  hơn  nam  là  có  thể  do  sinh  đẻ  làm 

100%  TH  có  biểu  hiện  tắc  mật:  vàng  da,  bilirubin tăng, không có TH nào tăng CA19‐9 và 

cả 05TH đều ghi nhận sỏi ống mật chủ, ống mật  chủ  dãn  qua  siêu  âm  hoặc  chụp  cắt  lớp  điện 

94,5%TH và chỉ định cho cả TH nghi ngờ sỏi ống  mật  chủ,  loại  trừ  nghi  ngờ  bệnh  lý  ác  tính  ở  đường  mật  và  những  TH  có  biểu  hiện  tắc  mật  nhưng  không  ghi  nhận  sỏi  sẽ  được  chụp  cộng  hưỡng từ đượng mật (MRCP) trước mổ. 

Phẫu thuật cấp cứu 02 TH có biểu hiện viêm  túi mật cấp: sốt, đau hạ sườn phải, Murphy (+),  siêu âm thành túi mật dầy, ngấm dịch quanh túi  mật nên chúng tôi tiến hành phẫu thuật cấp cứu.  Theo dõi hậu phẫu bệnh nhân đều ổn định, xuất 

cho  những  trường  hợp  cấp  cứu,  kết  quả  tốt.  Chúng tôi nghĩ đây là một phương pháp có thể 

áp dụng cho cấp cứu an toàn. 

thành  công  95,5%.  cũng  theo  Mario  khi  nghiên  cứu thực hiện nghiên cứu tiền cứu so sánh ngẫu  nhiên  giữa  2  nhóm:  ERCP  trước  sau  đó  cắt  túi  mật nội soi và nhóm cắt túi mật nội soi kết hợp  ERCP trong mổ thì thấy nhóm cắt túi mật nội soi  kết hợp ERCP trong mổ có tỷ lệ thành công cao  hơn: 95,6% so với 80% ( p = 0,06) nhưng theo tác 

của  hai  phương  pháp  này  tương  đương  nhau. 

trường hợp bệnh nhân sỏi túi mật và sỏi ống mật  chủ  thực hiện  ERCP trước  mổ thất bại,  và tỷ  lệ  thành công 95,45%. ERCP thất bại do không luồn  được  guidwire  vào  nhú  Vater  chiếm  4‐18%  TH  phụ thuộc vào giải phẫu vùng quanh bóng Vater 

và kinh nghiệm của người bác sĩ nội soi. Nguyên  nhân thất bại vì lý do giải phẫu không luồn được  guidwire là túi thừa cạnh tá tràng, trong khi một 

số bệnh nhân yêu cầu phải gây mê vì nhiều lý do  khác  nhau  và  kết  luận  rằng  kỹ  thuật  này  rất  lý 

Trang 4

mật  chủ  đặc  biệt  những  trường  hợp  thất  bại 

ERCP  trước  đó.  Theo  chúng  tôi  ưu  điểm  của 

phương pháp này là có thể phối hợp giữa nội soi 

ống  mềm  và  phẫu  thuật  nội  soi,  đặc  biệt  là 

những trường hợp ERCP gặp khó khăn luồn dây 

dẫn vào nhú Vater, lúc đó người phẫu thuật viên 

có thể luồn dây dẫn từ ống túi mật xuống sẽ dễ 

dàng  hơn,  tỷ  lệ  thành  công  sẽ  cao  hơn.  Theo 

chúng tôi đây là một phương pháp có tỷ lệ thành 

công cao do phối hợp được phẫu thuật nội soi và 

nội soi tiêu hóa. 

Thời  gian  mổ  trung  bình  là  78  ±  21,9  phút 

nhanh  nhấtlà    50  phút,  chậm  nhất:  110  phút. 

Thời gian ERCP trung bình : 22 ± 5,4 phút, thời 

gian mổ trung bình của chúng tôi có kéo dài vì 

có hai trường hợp viêm túi mật cấp, phải phẫu 

của phương pháp này là yếu tố thời gian, đây là 

nhược  điểm  nhỏ  không  ảnh  hưởng  nhiều  đến 

tiên lượng bệnh nhân. 

Thời gian nằm viện: 3,6 ± 1,2 ngày, sớm nhất 

2  ngày,  chậm  nhất  5  ngày,  những  TH  túi  mật 

không  viêm  cấp,  xuất  viện  sau  02  ngày,  những 

TH viêm túi mật cấp, có đặt ống dẫn lưu ổ bụng 

thì  thời  gian  nằm  viện  lâu  hơn.  Nhưng  nhìn 

chung  thời  gian  nằm  viện  ngắn  hơn  phương 

cứu so sánh 198 TH giữa ERCP trước mổ sau đó 

cắt túi mật với nhóm cắt túi mật kết hợp ERCP 

trong  mổ  thấy  thời  gian  nằm  viện  của  nhóm 

ERCP trong mổ ngắn hơn 1,3 ngày so với 3 ngày 

của  nhóm  ERCP  trước  mổ  và  kết  luận  cả  2 

phương pháp này là lý tưởng nhưng khi có đủ 

kinh nghiệm và phương tiện, cắt túi mật nội soi 

kết hợp ERCP trong mổ, điều trị một thì sẽ được 

ưu tiên chọn lựa do giảm thời gian nằm viện, giá 

thành, giảm những trường hợp thực hiện ERCP 

không  cần  thiết,  loại  bỏ  nhu  cầu  trở  lại  phòng 

mổ khi ERCP thất bại. Tuy nhiên, lựa chọn điều 

trị  tốt  nhất  cho  bất  cứ  bệnh  nhân  nào  có  đồng 

thời sỏi túi mật và sỏi ống mật chủ phải dựa vào 

ngay cả tiêu chuẩn chọn bệnh nghiêm ngặt nhất 

thì trên 10% trường hợp ERCP trước mổ là bình  thường và chỉ có 10‐60 % trường hợp có sỏi lúc  làm  ERCP.  Vì  vậy  ERCP  trong  mổ  giúp  giảm  thời gian nằm viện, giảm tỷ lệ ERCP trước mổ,  giảm nhu cầu trở lại phòng mổ không cần thiết.  Theo chúng tôi, phương pháp điều trị một thì sẽ  giảm  đáng  kể  thời  gian  nằm  viện,  góp  phần  giảm chi phí điều trị cho người bệnh. 

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi chưa gặp  các tai biến biến chứng như viêm tụy, chảy máu,  thủng tá tràng hay rò mật sau mổ,…Vì số lượng  còn ít nên chưa đánh giá hết được tính an toàn  của  phương  pháp  này  nhưng  bước  đầu  nhận 

ERCP  trong  mổ  là  một  phẫu  thuật  an  toàn,  tai  biến  biến  chứng  thấp.  Nếu  ERCP  sử  dụng  kỹ  thuật luồn dây dẫn từ túi mật xuống tá tràng (kỹ  thuật rendezvous) thì tai biến thấp hơn phương  pháp  ERCP  chuẩn,  đặc  biệt  giảm  viêm  tụy  cấp  sau  ERCP  do  không  bị  lạc  vào  ống  tụy,  áp  lực 

tỷ lệ tai biến, biến chứng giữa nhóm ERCP trước 

mổ  và  nhóm  cắt  túi  mật  nội  soi  kết  hợp  ERCP  trong  mổ.  Theo  chúng  tôi  đây  là  một  phương  pháp an toàn.  

Theo  dõi  bệnh  nhân  1‐3  tháng  bệnh  nhân  đều  ổn  định,  chưa  có  trường  hợp  nào  có  biến  chứng muộn. 

KẾT LUẬN 

Phẫu  thuật  nội  soi  cắt  túi  mật  kết  hợp  ERCP  trong  mổ  điều  trị  một  thì  sỏi  ống  mật  chủ và sỏi túi mật bước đầu nhận thấy đây là  một phẫu thuật an toàn, thực hiện không quá  khó,  tỷ  lệ  thành  công  cao,  ít  tai  biến  biến  chứng,  rút  nắn  thời  gian  nằm  viện,  tránh  khó  chịu  cho  người  bệnh,  có  thể  áp  dụng  điều  trị  một  thì  cho  những  trường  hợp  cấp  cứu.  Cần  nghiên  cứu  với  mẩu  lớn  hơn  nhằm  đánh  giá  hết  những  ưu  nhược  điểm  của  phương  pháp  này  và  khắc  phục  những  nhược  điểm  của  phương pháp điều trị hai thì đang tồn tại. 

Trang 5

1 Ahmed  A.,  EI  Geidie  (2011)  “Preoperative  versus 

intraoperative endoscopic sphincterotomy for management of 

common bile duct stones” Surg Endosc 25, pp 1230‐1237. 

2 Đỗ  Trọng  Hải,  Nguyễn  Hoàng  Bắc,  Nguyễn  Thúy  Oanh 

(2008) Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả các phương 

pháp điều trị sỏi ống mật chủ kèm sỏi túi mật Y Học TP.Hồ 

Chí Minh, tập 12, phụ bản số 4, trang 284‐290. 

3 Greca  G.  (2010), “Simultanous  laparoendoscopic  rendezvous 

for the treatment of cholecystocholecholithiasis” Surg endosc, 

24,pp 769‐780. 

4 Hong  D‐F,  Xin  Y,  Chen  D.W  (2006)  “  Comparison  of 

laparoscopic  cholecystectomy  combined  with  intraoperative 

endoscopicsphincterotomy and laparoscopic exploration of th 

common  bile  duct  for  cholcystocholedocholithiasis”  Surg 

Endosc 4, pp 424‐427. 

5 Lu J, Cheng Y. (2012) “Two‐stage vs single‐stage management 

for  concomitant  gallstones  and  common  bile  duct  stones” 

World Journal of Gastroenterology‐ 18(24) pp 3156‐3166. 

6 Morino M, Baracchi F, Miglietta C, Furlan N, Ragona R,  and 

Garbarini A (2006) “Preoperative endoscopic sphincterotomy 

versus  laparoendoscopic  rendezvous  in  patients  with 

gallbladder and bile duct stones” Annals of surgery vol 244(6)  – pp 889‐896 

7 Nguyễn  Đình  Hối,  Nguyễn  Mậu  Anh  (2012)  Bệnh  sỏi  mật,  nhà xuất bản y học, trang 49‐61 

8 Rabago LR (2012) “ Single‐stage treatment with intraoperative 

choledocholithiasis  and  gallbladder  in  situ  in  a  non‐tertiary  Spainish hospital” Surg Endosc 26, pp 1028‐1034 

9 Tzovaras  G,  Baloyiannis  I  (2010)  “Laparoendoscopic  rendezvous:  an  effective  alternative  to  a  failed  preoperative  ERCP  in  patients  with  cholecystocholedocholithiasis”  Surg  Endosc 24 pp 2603‐2606. 

 

Ngày nhận bài báo:       23/09/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   30/10/2013  Ngày bài báo được đăng:     15/12/2013 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w