1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tính an toàn của điều trị phòng ngừa tái phát tràn khí màng phổi tự phát bằng bơm talc nhũ tương qua ống dẫn lưu màng phổi: Báo cáo 75 trường hợp

7 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 242,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện trên 75 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát, được làm dày dính màng phổi bằng talc nhũ tương tại khoa bệnh hô hấp nam, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Mục đích nghiên cứu là đánh giá tất cả các biến chứng xảy ra trong vòng 96 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

TÍNH AN TOÀN CỦA ĐIỀU TRỊ PHÒNG NGỪA TÁI PHÁT TRÀN KHÍ

MÀNG PHỔI TỰ PHÁT BẰNG BƠM TALC NHŨ TƯƠNG

QUA ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI: BÁO CÁO 75 TRƯỜNG HỢP

Nguyễn Hữu Lân*, Nguyễn Huy Dũng*, Trần Ngọc Thạch*, Hoàng Thị Quý*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Talc là tác nhân hóa học thường được dùng để làm dày dính màng phổi, có hiệu quả cao,

được dung nạp tốt Tuy có vài báo cáo về hội chứng nguy ngập hô hấp cấp tính liên quan đến sự an toàn của thủ thuật này, nhưng khoa chúng tôi (khoa bệnh hô hấp nam, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ chí Minh, Việt Nam) đã quyết định sử dụng talc nhũ tương làm dày dính màng phổi theo khuyến cáo điều trị tràn khí màng phổi tự phát của Hội Bác Sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ năm 2001

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện trên 75 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát,

được làm dày dính màng phổi bằng talc nhũ tương tại khoa bệnh hô hấp nam, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Mục đích nghiên cứu là đánh giá tất cả các biến chứng xảy ra trong vòng 96 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi

Kết quả: Có 75 lần làm dày dính màng phổi bằng talc trên 75 bệnh nhân tràn khí màng phổi tự

phát Tác dụng phụ bao gồm đau ngực (n = 65; 86,67%), khó thở (n = 40; 53,33%), sốt > 38 0 C (n=13; 17,33%), nhịp tim nhanh > 100 lần/phút (n=20; 26,67%) Không có biến chứng giảm oxy máu, giảm huyết áp, hội chứng nguy ngập hô hấp cấp tính và tử vong

Kết luận: Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi là thủ thuật hữu

ích trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát Không có tử vong liên quan đến thủ thuật

SUMMARY

THE SAFETY OF TALC SLURRY PLEURODESIS FOR TREATMENT FOR

SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX: REPORT OF 75 CASES

Nguyen Huu Lan, Nguyen Huy Dung, Tran Ngoc Thach, Hoang Thi Quy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 113 – 119

Objective: Talc is a highly efficacious and commonly employed agent for chemical pleurodesis,

which has generally been felt to be well tolerated Some reports of acute respiratory distress syndrome (ARDS) have heightened safety concerns, but our department (Department of Respiratory Medicine for men, Pham Ngoc Thach Hospital, Ho Chi Minh city, Viet Nam) made a decision to use talc slurry for pleurodesis according to an American College of Chest Physicians Delphi Consensus Statement in 2001

for management of spontaneous pneumothorax

Methods: A prospective study was carried out on 75 case spontaneous pneumothorax who received

talc slurry pleurodesis at Department of Respiratory Medicine for men, Pham Ngoc Thach Hospital The purpose of the study is to evaluate all complications occurring within 96 h the procedure

Results: Seventy-five talc pleurodeses were performed on 75 patients spontaneous pneumothorax

Side effects included pain (n = 65; 86,67%), dyspnea (n = 40; 53,33%), fever > 38 0 C (n=13; 17,33%),

* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Conclusions: These results suggest that intrapleural administration of talc slurry is a useful

treatment for spontaneous pneumothorax There were no procedures-related death

ĐẶT VẤN ĐỀ

Do nguy cơ cao bị tái phát ở cùng một bên phổi

của tràn khí màng phổi tự phát và nguy cơ này tăng

lên nhiều sau các lần tái phát, do nguy cơ tử vong cao

của tái phát tràn khí màng phổi tự phát thứ phát(2,7);

năm 2001, Hội Bác Sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ (American

College of Chest Physicians) khuyến cáo nên làm dày

dính màng phổi ngay từ lần tràn khí màng phổi tự

phát nguyên phát lần thứ hai, và tràn khí màng phổi tự

phát thứ phát thứ nhất(1) Hiện nay, talc là tác nhân

hóa học có hiệu quả cao nhất làm dày dính màng phổi,

ngừa tái phát tràn khí màng phổi tự phát Tuy có một

số ít báo cáo trong y văn thế giới cho rằng talc là tác

nhân không an toàn khi bơm vào khoang màng phổi

do những tác dụng phụ như đau ngực, sốt, viêm phổi -

màng phổi, rối loạn nhịp tim, giảm huyết áp, co thắt

phế quản, hội chứng nguy ngập hô hấp cấp tính(3,5)

Nhưng talc thường được xem là tác nhân hóa học được

cơ thể dung nạp tốt(1,6,8,9,11), nên chúng tôi đã quyết

định sử dụng talc nhũ tương bơm vào khoang màng

phổi qua ống dẫn lưu để làm dày dính màng phổi,

ngừa tái phát tràn khí màng phổi tự phát

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiền cứu từ

tháng 05/2002 đến tháng 12/2004, trên những bệnh

nhân tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát từ lần

thứ hai trở đi, và bệnh nhân tràn khí màng phổi tự

phát thứ phát từ lần thứ nhất trở đi, tại khoa bệnh

phổi nam, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố

Hồ Chí Minh Bệnh nhân được đặt ống dẫn lưu màng

phổi khi thể tích phổi bị tràn khí > 20% Khi X quang

lồng ngực cho thấy phổi đã nở hoàn toàn, chúng tôi

bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi qua ống

dẫn lưu

Chúng tôi loại khỏi nhóm nghiên cứu những

bệnh nhân đang bị ung thư phổi, lao phổi, nhiễm

trùng phổi cấp tính không phải lao, suy hô hấp mạn tính với PaO2 < 60 mmHg hoặc SaO2 < 90%, Karnofsky < 60%, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc bỏ theo dõi điều trị

Qui trình làm dày dính màng phổi

+ 33 bệnh nhân đầu tiên chúng tôi cho họ sử dụng Prodafalgan 1gram (tiêm mạch chậm) nhưng

do không còn prodafalgan trên thị trường, nên 42 bệnh nhân tiếp theo chúng tôi cho họ sử dụng paracetamol 1gram (truyền tĩnh mạch) + Atropin 0,5

mg (tiêm dưới da) + Diazepam 5 mg (uống) + 12ml Lidocain 2% pha trong 30 ml nước muối sinh lý bơm vào khoang màng phổi 30 phút sau, bơm vào khoang màng phổi 2 gram bột Talc y khoa đã được hấp vô trùng, pha trong 50 ml nước muối sinh lý Sau khi bơm thuốc, ống dẫn lưu màng phổi vẫn được kẹp (đối với trường hợp ống dẫn lưu màng phổi đã ngưng hoạt động và được kẹp 24 giờ trước đó), hay luôn giữ ống dẫn lưu cao hơn thành ngực trong 6 giờ để lưu thuốc lại trong khoang màng phổi (đối với trường hợp phổi đã nở hoàn toàn nhưng ống dẫn lưu còn hoạt động) + Thời điểm rút ống dẫn lưu: 24 giờ kể từ khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (đối với trường hợp ống dẫn lưu màng phổi đã ngưng hoạt động và được kẹp 24 giờ trước khi bơm), hay 24 giờ kể từ khi kẹp ống dẫn lưu màng phổi đã ngưng hoạt động sau khi bơm talc (đối với trường hợp phổi đã nở hoàn toàn nhưng ống dẫn lưu còn hoạt động)

+ Chụp X quang lồng ngực kiểm tra xem có tràn khí màng phổi sau rút ống dẫn lưu

Thu thập số liệu

+ Trong lần khám ngay trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi qua ống dẫn lưu, chúng tôi thực hiện các đánh giá sau:

1 Mức độ đau vùng ngực bên đặt ống dẫn lưu màng phổi bằng thang điểm EVA (Eùchelle Visuelle Analogique)

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

2 Mức độ khó thở của bệnh nhân dựa vào thang

đểm Borg, nhịp thở, SpO2

3 Mạch, huyết áp, thân nhiệt

4 Triệu chứng ho, khạc đàm (số lượng, tính chất

đàm)

5 Đo điện tâm đồ nếu bệnh nhân có biểu hiện

rối loạn nhịp

+ Tại thời điểm bệnh nhân khó chịu nhất kể từ

khi bơm talc vào khoang màng phổi, 24 giờ, trong

vòng 24 - 96 giờ kể từ khi rút ống dẫn lưu màng phổi

chúng tôi thực hiện các đánh giá sau:

1 Mức độ đau khi bệnh nhân đau nhiều nhất dựa

vào thang điểm EVA, ghi nhận thời điểm xuất hiện,

khoảng thời gian đau ngực

2 Mức độ khó thở khi bệnh nhân khó thở nhiều

nhất dựa vào thang đểm Borg, ghi nhận nhịp thở, chỉ

số SpO2

3 Mạch, huyết áp, thân nhiệt

4 Triệu chứng ho, khạc đàm (số lượng, tính chất

đàm)

5 Đo điện tâm đồ nếu bệnh nhân có biểu hiện

rối loạn nhịp

6 Khả năng gắng sức của bệnh nhân dựa vào

nghiệm pháp đi bộ 6 phút (ghi nhận quãng đường

bệnh nhân đi được, sự thay đổi nhịp tim, nhịp thở,

SpO2) và, chỉ số Sadoul sau khi rút ống dẫn lưu

màng phổi được 24 giờ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tham gia nghiên cứu có 75 bệnh nhân nam, tuổi

trung bình 45,11 ± 18,53 (nhỏ nhất 15 tuổi, cao nhất

77 tuổi), gồm 33 trường hợp (44%) tràn khí màng

phổi tự phát nguyên phát (32 trường hợp (42,7%)

tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát lần 2, 1

trường hợp (1,3%) tràn khí màng phổi tự phát

nguyên phát lần 3), 42 trường hợp (56%) tràn khí

màng phổi tự phát thứ phát (34 trường hợp (45,3%)

tràn khí màng phổi tự phát thứ phát lần 1, 8 trường

hợp (10,7%) tràn khí màng phổi tự phát thứ phát tái

phát nhiều lần); 45 trường hợp (60%) tràn khí màng

phổi phải, 30 trường hợp (40%) tràn khí màng phổi

trái; 43 trường hợp (53,7%) phổi đã nở hoàn toàn nhưng ống dẫn lưu còn hoạt động trước khi bơm talc vào khoang màng phổi, 32 trường hợp (42,7%) ống dẫn lưu màng phổi đã ngưng hoạt động và được kẹp

24 giờ trước bơm talc vào khoang màng phổi; có 62 (82,7%) bệnh nhân hút thuốc lá, trong 13 bệnh nhân không hút thuốc lá, chỉ có 02 bệnh nhân không hút thuốc lá thuộc nhóm tràn khí màng phổi tự phát thứ phát, thể tích trung bình tràn khí màng phổi 76,21 ± 22,47% (nhỏ nhất 20%, cao nhất 100%)

Trong 33 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát, bệnh nhân có tuổi trung bình 30,91 ± 11,93 tuổi, thể tích trung bình tràn khí màng phổi 79,52 ± 21,20% (nhỏ nhất 40%, cao nhất 100%), 22 trường hợp (66,67%) hút thuốc lá, với số bao thuốc lá/năm là 15,20 ± 19,32 Trong 42 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát thứ phát, bệnh nhân có tuổi trung bình 56,26 ± 14,79 tuổi, thể tích trung bình tràn khí màng phổi 73,55 ± 23,91% (nhỏ nhất 20%, cao nhất 100%) 40 trường hợp (95,24%) hút thuốc lá với số bao thuốc lá/năm là 34,28 ± 16

Bảng 1 ghi nhận tần suất xuất hiện, chỉ số đánh giá đau ngực (EVA), khó thở (thang điểm Borg, nhịp thở, SpO2) ở các bệnh nhân có triệu chứng này Bảng

2 ghi nhận tần suất đau ngực, khó thở, các chỉ số EVA, Borg, nhịp thở, SpO2, nhịp tim, huyếp áp, thân nhiệt, lượng đàm của 75 bệnh nhân ở các thời điểm: (1) ngay trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi, (2) tại thời điểm bệnh nhân khó chịu nhất sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi, (3) 24 giờ sau khi rút ống dẫn lưu màng phổi, (4) trong vòng 24 giờ đến 96 giờ sau khi rút ống dẫn lưu màng phổi Bảng 3 ghi nhận các chỉ số về quảng

đường đi bộ 6 phút, nhịp tim, nhịp thở, SpO2 đo trước và sau khi làm nghiệm pháp đi bộ 6 phút, và chỉ số

Sadoul 24 giờ sau rút ống dẫn lưu màng phổi

Bảng 1: Sự thay đổi triệu chứng đau, khó thở sau

bơm talc vào khoang màng phổi

Tham số nghiên

Khó thơ û(số trường hợp (%)) 5 (6,67%)

40 (53,33%) 2 (2,67%)2 (2,67%) Borg 1,60 ± 0,89 6,30 ± 2,90 1,50 ± 0,71 1,50 ± 0,71

Trang 4

Nhịp thở (lần/phút) 1,10 20 ± 0,64 19 ±1,41 19 ±1,41

SpO 2 (%) 95 ± 1,41 96,50 ± 1,59 96 ± 1,41 96 ± 1,41

Đau ngực (số

trường hợp (%)) 12 (16%)

65 (86,67%)

8 (10,67%) 0 (0%) EVA 2,75 ± 1,86 7,29 ± 2,28 2,38 ± 1,41 0

Sốt (số trường hợp

13 (17,33%) 1 (1,33%) 0 Giờ xuất hiện đau

ngực (giờ)

3,93 ± 6,05 Thời gian đau ngực

(giờ)

15,29 ± 16,94

Bảng 2: Chỉ số EVA, Borg, nhịp thở, SpO 2, nhịp tim,

huyết áp, thân nhiệt, số lượng đàm đo trước và sau

bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (thời điểm

(1), (2), (3), (4))

Các tham số nghiên cứu Trung bình Tối

thiểu Tối đa

Giờ xuất hiện đau sau bơm talc

(giờ) 3,43 ± 5,78 0 24

Thời gian đau kéo dài sau bơm

talc (giờ) 13,25 ± 16,60 0 72

EVA (1) 0,44 ± 1,24 0 6

EVA (2) 6,32 ± 3,27 0 10

EVA (3) 0,25 ± 0,86 0 5

Borg (1) 0,11 ± 0,45 0 3

Borg (2) 3,36 ± 3,80 0 10

Borg (3) 0,04 ± 0,26 0 2

Nhịp thở (lần/phút) (1) 19,84 ± 0,70 18 22

Nhịp thở (lần/phút) (2) 19,97 ± 0,68 18 22

Nhịp thở (lần/phút) (3) 19,87 ± 0,66 18 22

SpO 2 (%) (1) 96,48 ± 1,59 91 99

SpO 2 (%) (2) 96,48 ± 1,59 91 99

SpO 2 (%) (3) 96,56 ± 1,1,49 92 98

Nhịp tim (lần/phút) (1) 91,77 ± 12,48 63 138

Nhịp tim (lần/phút) (2) 92,36 ± 12,79 63 138

Nhịp tim (lần/phút) (3) 91,15 ± 13,34 63 120

Huyết áp tối đa (mmHg) (1) 111,87 ± 8,49 100 130

Huyết áp tối đa (mmHg) (2) 111,87 ± 8,49 100 130

Huyết áp tối đa (mmHg) (3) 112,13 ± 8,27 100 130 Huyết áp tối thiểu (mmHg) (1) 66,80 ± 6,40 60 80 Huyết áp tối thiểu (mmHg) (2) 66,67 ± 6,44 60 80 Huyết áp tối thiểu (mmHg) (3) 66,80 ± 6,40 60 80 Thân nhiệt ( o C) (1) 37,05 ± 0,10 37 37,4 Thân nhiệt ( o C) (2) 37,28 ± 0,44 37 38,5 Thân nhiệt ( o C) (3) 37,06 ± 0,17 37 38,2 Số lượng đàm (ml/ngày) (1) 0,49 ± 2,50 0 20 Số lượng đàm (ml/ngày) (2) 0,83 ± 5,82 0 50 Số lượng đàm (ml/ngày) (3) 0,20 ± 1,73 0 15 Sadoul (3) 0,20 ± 0,68 0 3

Bảng 3: Quảng đường đi bộ trong 6 phút, nhịp tim,

nhịp thở, SpO 2 đo trước và sau bơm talc vào khoang màng phổi, và chỉ số Sadoul sau 24 giờ rút ống dẫn lưu màng phổi

Loại tràn khí màng phổi tự phát Các tham số nghiên cứu Chung hai

nhóm

Nguyên phát Thứ phát

Nghiệm pháp đi bộ 6 phút

(m)

356,85 ± 127,76

378,97 ± 111,36

339,48 ± 138,12 Nhịp tim trước đi bộ 6

phút (lần/phút)

91,08 ± 13,26

90,06 ± 14,79

91,88 ± 12,07 Nhịp tim sau đi bộ 6 phút

(lần/phút)

100,64 ± 17,41

98,21 ± 19,05

102,55 ± 15,98 Nhịp thở trước đi bộ 6

phút (lần/phút)

19,87 ± 0,66

19,94 ± 0,35

19,81 ± 0,83 Nhịp thở sau đi bộ 6 phút

(lần/phút)

20,01 ± 0,89

19,94 ± 0,35

20,17 ± 1,15 SpO 2 trước đi bộ 6 phút

(%)

96,53 ± 1,50

96,97 ± 1,05

96,19 ± 1,71 SpO 2 trước đi bộ 6 phút

(%)

95,57 ± 2,73

96,73 ± 1,70

94,67 ± 3,04 Sadoul 0,20± 0,68 0 0,36 ± 0,88

BÀN LUẬN

Trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi, tất cả 75 bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có thân nhiệt bình thường (nhằm thỏa mãn tiêu chí thu dung vào nghiên cứu là không có nhiễm trùng trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi) Sau bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi, có 13 bệnh nhân sốt > 38oC, với thân nhiệt

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

trung bình 38,17 ± 0,24oC, thời điểm xuất hiện sốt

3,93 ± 6,05 giờ, kéo dài 15,29 ± 16,94 giờ 24 giờ sau

rút ống dẫn lưu khoang màng phổi, chỉ còn một bệnh

nhân còn sốt 38,2oC, kéo dài thêm 12 giờ nữa thì

thân nhiệt trở về bình thường Xét trên toàn bộ 75

bệnh nhân được bơm talc nhũ tương qua ống dẫn lưu

màng phổi, có hiện tượng tăng thân nhiệt sau khi

bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (37,28 ±

0,44oC) so với trước khi bơm talc nhũ tương vào

khoang màng phổi (37,05 ± 0,10oC) (p < 0,0001), và

24 giờ sau rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (37,06

± 0,17oC) (p < 0,0001), nhưng không có khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa thân nhiệt trước khi bơm

talc nhũ tương vào khoang màng phổi và 24 giờ sau

rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (p > 0,5) Lượng

đàm sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng

phổi (0,83 ± 5,82 ml/ngày) nhiều hơn so với trước

khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (0,49

± 2,50 ml/ngày) (p > 0,4), nhiều hơn so với sau 24

giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (0,20 ± 1,73

ml/ngày) (p > 0,1) Số lượng đàm sau 24 giờ rút ống

dẫn lưu khoang màng phổi giảm so với trước khi bơm

talc nhũ tương vào khoang màng phổi (p < 0,03) Có

một bệnh nhân khạc 50 ml đàm trắng trong / ngày

sau khi bơm talc, nhưng trước khi bơm talc bệnh

nhân nàyï cũng khạc 20 ml đàm trắng trong / ngày,

đây là bệnh nhân bị dãn phế quản sau lao phổi Như

vậy, tăng thân nhiệt của bệnh nhân nhiều khả năng

vì hiện tương viêm do talc Bệnh nhân có tăng số

lượng đàm nhưng không do nhiễm trùng vì số lượng

đàm ít, màu trắng trong Sự hiện diện ống dẫn lưu

trong khoang màng phổi có thể làm tăng số lượng

đàm vì 24 giờ sau rút ống dẫn lưu, lượng đàm giảm

rất nhanh và có ý nghĩa thống kê so với khi còn ống

dẫn lưu trong khoang màng phổi (trước và sau khi

bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi) Không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trị số mạch,

huyết áp đo tại các thời điểm khác nhau (p > 0,1)

Không xuất hiện thêm tổn thương phổi, màng phổi

sau khi bơm talc vào khoang màng phổi, không ghi

nhận bất kỳ một trường hợp nào có biến chứng viêm

phổi - màng phổi, hội chứng nguy ngập hô hấp cấp

tính Đây là những biến chứng nặng, có thể gây tử

vong cho bệnh nhân, mà vì sự ghi nhận những biến chứng này trong một số nhỏ nghiên cứu, người ta đã không công nhận talc như là hóa chất lý tưởng để làm dày dính màng phổi, ngừa tái phát tràn khí màng phổi tự phát(3,5)

Hai tác dụng phụ thường gặp, gây khó chịu cho bệnh nhân là đau ngực, cảm giác khó thở Trước khi bơm talc vào khoang màng phổi, có 12 (16%) bệnh nhân than đau ngực, chỉ số EVA trung bình của 12 bệnh nhân này là 2,75 ± 1,86 Sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi, có 65 (86,67%) bệnh nhân than đau ngực, chỉ số EVA trung bình của 65 bệnh nhân này là 7,29 ± 2,28, xuất hiện vào giờ thứ 3,93 ± 6,05, thời gian đau kéo dài 15,29 ± 16,94 giờ

24 giờ sau rút ống dẫn lưu màng phổi, có 8 (10,67%) bệnh nhân than đau ngực, chỉ số EVA trung bình của

8 bệnh nhân này là 2,38 ± 1,41 Triệu chứng đau ngực hoàn toàn biến mất sau giờ thứ 72 kể từ khi rút ống dẫn lưu màng phổi Như vậy, tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng đau ngực trong vòng 24 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (86,67%) cao hơn so với trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (16%) (p < 0,0001), và cao hơn so với sau

24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (10,67%) (p

< 0,0001); tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng đau ngực trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi cao hơn so với sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (p > 0,3); chỉ số EVA của những bệnh nhân có triệu chứng đau ngực trong vòng 24 giờ sau bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (7,29 ± 2,28) cao hơn trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (2,75 ± 1,86) (p < 0,00001) và, cao hơn sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (2,38 ± 1,4) (p < 0,00001); chỉ số EVA của những bệnh nhân có triệu chứng đau ngực trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi cao hơn nhưng có ý nghĩa thống kê so với sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (p > 0,6) Xét trên toàn bộ 75 bệnh nhân, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số EVA trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi 0,44 ± 1,24 với chỉ số EVA trong vòng 24 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi 6,23 ± 3,27 (p < 0,0001), và giữa chỉ số

Trang 6

giờ sau rút ống dẫn lưu màng phổi 0,25 ± 0,86 (p <

0,0001), nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa chỉ số EVA trước khi bơm talc nhũ

tương vào khoang màng phổi so với chỉ số EVA 24 giờ

sau rút ống dẫn lưu màng phổi (p > 0,3) Như vậy,

triệu chứng đau ngực thường xuất hiện trong vòng 10

giờ đầu sau khi bơm talc vào khoang màng phổi,

giảm nhanh trong 24 giờ sau rút ống dẫn lưu màng

phổi và biến mất sau giờ thứ 72 kể từ khi rút ống dẫn

lưu màng phổi Nên triệu chứng đau ngực ngoài

nguyên nhân viêm màng phổi do tác dụng của talc,

còn bị làm nặng thêm bởi sự hiện diện của ống dẫn

lưu trong khoang màng phổi Tuy đây là biến chứng

thường gặp, gây khó chịu cho bệnh nhân, nhưng

hoàn toàn lành tính và xảy ra trong khoảng thời gian

ngắn, nên không đáng ngại, quan trọng là bác sĩ phải

nói trước cho bệnh nhân để họ bình tĩnh khi có triệu

chứng đau ngực sau bơm talc Nếu cần thiết, ta có thể

tăng liều prodafalgan hay perfalgan lên 3g/ ngày

Trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng

phổi có 5 (6,67%) bệnh nhân than khó thở với nhịp

thở trung bình 19,20 ± 1,10 lần/phút, SpO2 trung

bình 95 ± 1,41%, chỉ số borg trung bình 1,60 ± 0,89

Trong vòng 24 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào

khoang màng phổi có 40 (53,33%) bệnh nhân than

khó thở với nhịp thở trung bình 20 ± 0,64 lần/phút,

SpO2 trung bình là 96,50 ± 1,59%, chỉ số borg trung

bình 6,30 ± 2,90, thời gian xuất hiện khó thở xảy ra

gần như cùng lúc với triệu chứng đau ngực 24 giờ

sau rút ống dẫn lưu màng phổi chỉ còn 2 (2,67%)

bệnh nhân than khó thở, đây là 2 bệnh nhân tràn khí

màng phổi tự phát thứ phát do bệnh phổi tắc nghẽn

mạn tính, có khó thở trước khi bơm talc vào khoang

màng phổi, triệu chứng khó thở, chỉ số borg không

thay đổi sau khi rút ống dẫn lưu màng phổi so với

trước khi bơm talc vào khoang màng phổi Như vậy,

tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng khó thở trong vòng 24

giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng

phổi (53,33%) cao hơn so với trước khi bơm talc nhũ

tương vào khoang màng phổi (6,67%) (p < 0,0001),

và cao hơn sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng

cao hơn so với sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (p > 0,2); chỉ số Borg của những bệnh nhân có triệu chứng khó thở trong vòng 24 giờ sau bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (6,30 ± 2,90) cũng cao hơn trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi (1,60 ± 0,89) (p < 0,00001) và cao hơn sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi (1,50 ± 0,71); chỉ số Borg của những bệnh nhân có triệu chứng khó thở trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi cao hơn so với sau 24 giờ rút ống dẫn lưu khoang màng phổi Xét trên cả 75 bệnh nhân, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số Borg trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi 0,11 ± 0,45 với chỉ số Borg trong vòng 24 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi 3,36 ± 3,80 (p < 0,0001); giữa chỉ số Borg trong vòng 24 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi 3,36 ± 3,80 với chỉ số Borg 24 giờ sau rút ống dẫn lưu màng phổi 0,04 ± 0,26 (p < 0,0001), nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số Borg trước khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi với chỉ số Borg 24 giờ sau rút ống dẫn lưu màng phổi (p > 0,1) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhịp thở, nhịp tim, SpO2, huyết áp của bệnh nhân đo tại các thời điểm khác nhau (p > 0,1) Điều này có thể giả thuyết rằng cảm giác khó thở của bệnh nhân là do hạn chế cử động hô hấp vì đau ngực

Việc làm dính màng phổi bằng talc nhũ tương gây lo ngại tạo nên hội chứng hạn chế, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của bệnh nhân Tuy nhiên đánh giá sơ bộ cho thấy sau 24 giờ rút ống dẫn lưu màng phổi đã được làm dày dính bằng bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi, không thấy có hiện tượng gây suy hô hấp cho bệnh nhân: chỉ số Sadoul chung cho cả 2 nhóm là 0,20± 0,68 (Sadoul của nhóm tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát là 0 điểm, Sadoul của nhóm tràn khí màng phổi tự phát thứ phát là 0,36 ± 0,88 điểm), quảng đường đi bộ 6 phút chung cho cả 2 nhóm là 356,85 ± 127,76 m (378,97 ± 111,36 m đối với nhóm tràn khí màng

Trang 7

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

phổi tự phát nguyên phát, 339,48 ± 138,12 m đối với

nhóm tràn khí màng phổi tự phát thứ phát), so với

quảng đường trung bình đi được trong 6 phú của một

người trưởng thành khỏe mạnh là 500m Tuy nhiên

về ảnh hưởng lâu dài của bơm talc nhũ tương vào

khoang màng phổi lên chức năng hô hấp và khả

năng gắng sức của bệnh nhân đang được chúng tôi

theo dõi và đánh giá

Như vậy, chúng tôi ghi nhận được các tác dụng

phụ gây khó chịu cho bệnh nhân là sốt, đau ngực,

khó thở trong vòng 72 giờ sau khi bơm talc nhũ

tương vào khoang màng phổi Ghi nhận này phù hợp

với nhận định trong các nghiên cứu trước đây về làm

dày dính màng phổi bằng talc(1,2,6,9) Nhưng chúng tôi

không ghi nhận biến chứng rối loạn nhịp nhĩ, giảm

huyết áp, viêm mủ màng phổi, viêm phổi, co thắt phế

quản, suy hô hấp có giảm oxy máu, hội chứng nguy

ngập hô hấp cấp tính như trong các báo cáo của A

Brant, L Kennedy, R.W.Ligh, và JM Tschopp(3,4,5,10)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 43 trường

hợp ống dẫn lưu màng phổi còn hoạt động nhiều

ngày sau khi phổi đã nở hoàn toàn (có kiểm chứng

của X quang lồng ngực) Sau khi thực hiện bơm talc

nhũ tương vào khoang màng phổi qua ống dẫn lưu

không được kẹp lại, đã giúp ống dẫn lưu màng phổi

ngưng hoạt động, và chúng tôi đã rút ống dẫn lưu mà

không có tái phát tràn khí màng phổi trong cả 43

trường hợp Đây là điểm rất mới mà chúng tôi chưa

tìm thấy y văn nào trên thế giới nói đến Bởi lẽ trong

những nước phát triển, việc phẫu thuật lồng ngực

điều trị tràn khí màng phổi được tiến hành nếu tràn

khí màng phổi tự phát kéo dài trên 4 ngày(1) 43 bệnh

nhân này không chấp nhận điều trị phẫu thuật lồng

ngực, nhưng được điều trị hết tràn khí màng phổi

nhờ bơm talc nhũ tương qua ống dẫn lưu màng phổi,

khi phổi đã nở hết nhưng ống dẫn lưu màng phổi còn

hoạt động

KẾT LUẬN

Mặc dù gây đau ngực, tăng nhẹ thân nhiệt, và

cảm giác khó thở cho bệnh nhân, nhưng chúng tôi

cho rằng talc là tác nhân an toàn để làm dày dính

màng phổi ngừa tái phát tràn khí màng phổi tự phát

Việc bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi qua ống dẫn lưu không được kẹp lại, trong trường hợp ống dẫn lưu màng phổi còn hoạt động nhiều ngày sau khi phổi đã nở hoàn toàn, đã giúp cho bệnh nhân tránh được thủ thuật mổ nội soi lồng ngực, hay phẫu thuật mở lồng ngực để vá lại vết rách màng phổi Tuy nhiên, chúng tôi cần tiếp tục nghiên cứu để theo dõi thời gian dài hơn (> 2 năm) nhằm mục đích khẳng định tính an toàn, cũng như hiệu quả làm dày dính màng phổi của talc nhũ tương bơm qua ống dẫn lưu màng phổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Baumann, M H., Strange, C., Heffner, J E., Light, R., Kirby, T J., Klein, J., Luketich, J D., Panacek, E A., Sahn, S A (2001) Management of Spontaneous Pneumothorax: An American College of Chest

Physicians Delphi Consensus Statement Chest, 119:

590-602

2 Bouttrin C., Viallat J R (1996) Pathologie Pleurale Trong: Michel Aubier, Michel Fournier, René Pariente Pneumologie, trang 443-473 Flammarion Médecine-Sciences Paris

3 Brant A., Eaton T (2001), Serious complications with talc slurry pleurodesis, Respiratory, 6, 181-185

and Sahn S.A (1994) Pleurodesis using talc slurry Chest, 106, 342-346.

5 Light R W (2000), Talc Should not be used for Pleurodesis

Am J Respir Crit Care Med Vol 162 pp 2023-2026

Fernandez A., Jatene A and Light R W (1994) Intrapleural talc for the prevention of recurrent pneumothorax Chest, 106, 1162-1165

7 Peters J I., Sako E Y (1998) Pneumothorax Trong: Fishman Fishman s Pulmonary Diseases and Disorders, trang 1439-1451 International Edition New York

8 Sahn, S A., Heffner, J E (2000) Spontaneous

Pneumothorax N Engl J Med 342: 868-874

9 Shan S A (2000), Talc Should be used for Pleurodesis Am J Respir Crit Care Med Vol 162 pp 2023-2026

10 Tschopp J.M., Brutsche M and Frey J.G (1997) Treatment of complicated spontaneous pneumothorax

by simple talc pleurodesis under thoracoscopy and local anaesthesia Thorax, 52, 329-332

11 Weissberg D and Refaely Y (2000) Pneumothorax

Experience With 1,199 Patients Chest;117:

1279-1285

Ngày đăng: 20/01/2020, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w