Nội dung nghiên cứu nhằm xác định thành phần loài vật chủ và véc tơ của bệnh dịch hạch, đánh giá chỉ số phong phú của vật chủ, và xác định tỷ lệ nhiễm bọ chét của vật chủ bệnh dịch hạch tại địa điểm nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là các loài gặm nhấm và bọ chét thu thập đuợc trong quá trình điều tra, thời gian nghiên cứu được triển khai định kỳ theo quý trong năm 2011, địa điểm nghiên cứu tại 02 tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk.
Trang 1Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học
NGHIÊN CỨU VẬT CHỦ VÀ VÉC TƠ CỦA BỆNH DỊCH HẠCH
TẠI GIA LAI VÀ ĐĂK LĂK NĂM 2011
Nguyễn Lê Mạnh Hùng*, Đặng Tuấn Đạt*, Phạm Công Tiến*, Phan Đình Thuận*, Trần Lang *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm, tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với tỷ lệ
tử vong cao, được xếp vào diện phải kiểm dịch và khai báo quốc tế Trong công tác phòng, chống bệnh dịch hạch, việc giám sát định kỳ vật chủ và véc tơ của bệnh dịch hạch là rất quan trọng Vì thế, nghiên cứu này nhằm đánh giá công tác giám sát vật chủ và véc tơ bệnh dịch hạch tại hai tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk thuộc khu vực Tây Nguyên trong năm 2011
Mục tiêu: Xác định thành phần loài vật chủ và véc tơ của bệnh dịch hạch, đánh giá chỉ số phong phú của vật
chủ, và xác định tỷ lệ nhiễm bọ chét của vật chủ bệnh dịch hạch tại địa điểm nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Dịch tễ học mô tả cắt ngang, đối tượng nghiên cứu là các loài gặm nhấm và bọ
chét thu thập đuợc trong quá trình điều tra, thời gian nghiên cứu được triển khai định kỳ theo quý trong năm
2011, địa điểm nghiên cứu tại 02 tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk
Kết quả: Tại tỉnh Gia Lai thành phần loài vật chủ dịch hạch là chuột Lắt (Rattus exulans) 53,28%, chuột
Chù (Suncus murinus) 41,8,3%, chuột Bóng (Rattus nitidus) 2,46%, chuột Đồng Lớn (Rattus argentiventer) 1,6%, và chuột Rừng (Rattus rattus) 0,86% Tại tỉnh Đăk Lăk thành phần loài vật chủ là chuột Lắt (Rattus exulans) 75,2%, chuột Chù (Suncus murinus) 24% và chuột Bóng (Rattus nitidus) 0,8% Tại xã Iapet, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai vào tháng 04 có tỷ lệ nhiễm bọ chét cao nhất là 78,57% và vào tháng 09 có tỷ lệ nhiễm bọ chét thấp nhất là 9,09% Tại xã Ea’Hiao, huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk vào tháng 03 có chỉ số phong phú cao nhất
là 16% và vào tháng 05 có chỉ số phong phú thấp nhất là 07%
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy thành phần loài vật chủ tại hai điểm nghiên cứu ở Tây Nguyên là tương đối
giống nhau, chỉ khác nhau về một số thành phần nhỏ các loài bán hoang dại như chuột Đồng Lớn và chuột Rừng Tuy nhiên sự biến động về chỉ số phong phú và tỷ lệ nhiễm bọ chét của vật chủ dịch hạch là tương đối lớn
và khó dự đoán Do vậy cần tiếp tục giám sát định kỳ vật chủ và véc tơ bệnh dịch hạch với tần suất cao hơn tại các ổ dịch cũ, những nơi có nguy cơ bùng phát bệnh trở lại, và cần mở rộng một số điểm giám sát mới như là các điểm hoang dại và bán hoang dại phục vụ cho công tác nghiên cứu, và phòng, chống bệnh dịch hạch ở khu vực Tây Nguyên
Từ khóa: Bệnh dịch hạch, vật chủ, véc tơ, chỉ số phong phú, chỉ số nhiễm bọ chét
ABSTRACT
STUDY ON HOSTS AND VECTORS OF PLAGUE IN GIA LAI AND DAK LAK PROVINCES IN 2011
Nguyen Le Manh Hung, Dang Tuan Dat, Pham Cong Tien, Phan Dinh Thuan, Tran Lang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 251 - 254
Background: Plague is an infectious disease, acute and rapid spread with very high mortality rate, especially
plague is classified as quarantine and international declarations In the plague control and prevention, the regular supervision of the host and vector of plague is very important Therefore, this study was to assess the monitoring host and vector of plague in two provinces of Gia Lai and Dak Lak Central Highlands region in 2011
* Viện vệ sinh Dich tễ Tây Nguyên
Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Anh Tuấn, ĐT: 0904158081, Email : tuanngoc9096@gmail.com
Trang 2Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
Chuyên Đề Ký Sinh Trùng 252
Objectives: Determine the species composition of host and vector of plague, evaluate host density, and
determine the flea index which infected on plague hosts at research sites
Methods: Epidemiological cross-sectional study, study subjects are rodents and fleas collected during the
investigation, research time is deployed quarterly in 2011, local research sites in 02 provinces of Gia Lai and Dak Lak
Results: In Gia Lai province host species of plague is Lat (Rattus exulans) 53.28%, shrews (Suncus
murinus) 41.83%, cotton rats (Rattus nitidus) 2.46 %, The Great Mouse (Rattus argentiventer) 1.6%, and forest rats (Rattus Rattus) 0.86% In Dak Lak province host species are Lat rats (Rattus exulans) 75.2%, shrews (Suncus murinus) 24% and cotton rats (Rattus nitidus) 0.8% In Iapet Commune, Dak Doa District, Gia Lai Province in May flea index was 78.57% the highest, and in September flea index was 9.09% lowest In Ea'Hiao Commune, Ea H'leo District, Dak Lak Province in May has the highest flea index is 16% and at May with the lowest abundance index is 07%
Conclusions: Study show that host species composition at two research sites in the Central Highlands are
relatively similar, differing only in a small number of components to sell wild species such as rats and mice The Great Forest However, the variation in rodent density and flea index are relatively large and unpredictable So,
we continue to monitor periodically the host and vector of plague with higher frequency, and extend some new monitoring points is the wild and sell the wild for research, control, and prevent plague in the Central Highlands
Key words: Plague, host, vector, rodent density, flea index
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm tối
nguy hiểm, tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với
tỷ lệ tử vong cao, được xếp vào diện phải kiểm
dịch và khai báo quốc tế Bệnh do trực khuẩn
Yersinia pestis gây ra, lưu hành trong quần thể
động vật thuộc những loài gặm nhấm chủ yếu
là chuột, từ đó bệnh lây truyền sang người qua
trung gian bọ chét nhiễm khuẩn(4) Tại một số
nước trên thế giới đã từng có bệnh dịch hạch
được ghi nhận cho đến nay thì các loài thuộc bộ
gặm nhấm (Rodentia), trong đó họ chuột
(Muridae) đóng vai trò chủ yếu là vật chủ chính
Ở Việt Nam vật chủ của bệnh dịch hạch cũng
chủ yếu là các loài chuột, họ chuột có 43 loài
phân bố trên toàn lãnh thổ, trong đó nhiều loài
chuột mang mầm bệnh và truyền cho con người
thông qua các loài bọ chét như là Xenopsylla
cheopis Tại khu vực Tây Nguyên, thành phần
vật chủ bệnh dịch hạch trong nhiều năm qua
chủ yếu là chuột lắt (Rattus exulans), chuột chù
hay còn gọi là chuột xạ (Suncus murinus), chuột
bóng (Rattus nitidus)(2,3,5)
Trong công tác phòng, chống bệnh dịch
hạch, việc giám sát định kỳ vật chủ và véc tơ
bệnh dịch hạch là rất quan trọng Vì thế nghiên cứu này nhằm đánh giá công tác giám sát tại hai tỉnh Đăk Lăk và Gia Lai thuộc khu vực Tây Nguyên trong năm 2011 với ba mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định thành phần loại vật chủ bệnh dịch hạch tại địa điểm giám sát
- Đánh giá chỉ số phong phú của vật chủ bệnh dịch hạch tại địa điểm giám sát
- Xác định tỷ lệ nhiễm bọ chét của vật chủ bệnh dịch hạch tại địa điểm giám sát
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
- Các loài gặm nhấm thu thập đuợc trong
quá trình điều tra
- Các loài bọ chét thu thập được trên các loài gặm nhấm
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Dịch tễ học mô
tả cắt ngang
- Giám sát vật chủ và véc tơ dịch hạch theo
“Thường quy giám sát và phòng, chống bệnh dịch hạch” ban hành kèm theo quyết định số
Trang 3Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học
33/2003/QĐ-BYT ngày 07 tháng 01 năm 2003 của
Bộ Y Tế(1)
Địa điểm nghiên cứu
- Tại tỉnh Gia Lai: Xã Iapet, huyện Đăk Đoa;
Xã Ia Kênh, Tp Pleiku
- Tại tỉnh Đăk Lăk: Xã Ea’Hiao, huyện Ea
H’leo
Thời gian nghiên cứu
- Triển khai giám sát định kỳ theo quý trong
năm 2011
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả giám sát vật chủ bệnh dịch hạch
tại tỉnh Gia Lai
Kết quả giám sát tại xã Iapet, huyện Đăk
Đoa và xã Ia Kênh, thành phố Pleiku, tỉnh Gia
Lai trong năm 2011 cho thấy thành phần loài
vật chủ thu thập được chủ yếu là chuột Lắt
(Rattus exulans) 53,28% và chuột Chù (Suncus murinus) 41,8% Ngoài ra, còn ghi nhận một
số lượng nhỏ sự có mặt của các loài chuột
Bóng (Rattus nitidus) 2,46%, chuột Đồng Lớn (Rattus argentiventer) 1,6%, và chuột Rừng (Rattus rattus) 0,86% Kết quả trên có sự khác
biệt về thành phần loài vật chủ so với kết quả giám sát của năm 2010
Bảng 1 Thành phần loài vật chủ
STT Thành phần loài vật chủ Tổng số Tỷ lệ %
02 Suncus murinus (Chuột Chù) 51 41,8
Bảng 2 Các chỉ số giám sát của vật chủ
Thời
gian Địa điểm
Thành phần loài
CSPP % Tỷ lệ nhiễm
BC%
(CSPP%: Chỉ số phong phú)
(Tỷ lệ nhiễm BC%: Tỷ lệ nhiễm bọ chét)
Tại các thời điểm giám sát ở xã Ia Kênh
trong năm 2011 đều ghi nhận các chỉ số phong
phú của vật chủ dịch hạch > 07 Tỷ lệ nhiễm bọ
chét của vật chủ dịch hạch vào những tháng
mùa khô là cao hơn so với những tháng mùa
mưa Tại các thời điểm giám sát ở xã Iapet có chỉ
số phong phú thấp hơn so với xã Ia Kênh
Kết quả giám sát vật chủ bệnh dịch hạch
tại tỉnh Đăk Lăk
Kết quả giám sát tại ổ dịch xã Ea’Hiao,
huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk trong năm 2011
cho thấy thành phần loài vật chủ thu thập được
chủ yếu là chuột Lắt (Rattus exulans) 75,2% và
chuột Chù (Suncus murinus) 24%, ngoài ra có ghi
nhận sự có mặt của chuột Bóng (Rattus nitidus)
nhưng với tỷ lệ rất nhỏ Từ kết quả giám sát trên, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt
về thành phần loài vật chủ cùng tại điểm điều
tra so với năm 2010
Bảng 3 Thành phần loài vật chủ
STT Thành phần loài vật chủ Tổng số Tỷ lệ %
1 Rattus exulans (Chuột Lắt) 94 75,2
2 Suncus murinus (Chuột Chù) 30 24
3 Rattus nitidus (Chuột Bóng) 01 0,8
Tại điểm giám sát xã Ea’Hiao trong năm
2011, tất cả các chỉ số phong phú đều > hoặc = 07 (Theo Tổ chức Y tế Thế Giới chỉ số phong phú > 07% được coi là báo động)(1) Cũng tại tại điểm giám sát xã Ea’Hiao ngoại trừ tháng 08 có tỷ lệ nhiễm bọ chét là 26,1% là chấp nhận được, các
Trang 4Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
Chuyên Đề Ký Sinh Trùng 254
thời điểm giám sát còn lại đều có tỷ lệ nhiễm bọ
chét tương đối cao
Bảng 4 Các chỉ số giám sát của vật chủ
Thời
gian
Địa
điểm
Thành phần loài
CSPP%
Tỷ lệ nhiễm BC%
R
exulans
S
murinus
R
nitidus
03/2011 Ea’Hiao 45 03 0 16 52,08
04/2011 Ea’Hiao 20 03 0 7,67 65,22
08/2011 Ea’Hiao 17 06 0 7,67 26,1
11/2011 Ea’Hiao 12 08 01 07 40,9
(CSPP%: Chỉ số phong phú)
(Tỷ lệ nhiễm BC%: Tỷ lệ nhiễm bọ chét)
BÀN LUẬN
Kết quả giám sát vật chủ dịch hạch tại các
tỉnh Đăk Lăk và Gia Lai trong năm 2011 cho
thấy sự biến động về chỉ số phong phú và tỷ lệ
nhiễm bọ chét của vật chủ dịch hạch là tương
đối lớn và khó dự đoán Do vậy cần:
Tiếp tục giám sát định kỳ vật chủ bệnh dịch
hạch theo tần suất cao hơn tại các ổ dịch cũ,
những nơi có nguy cơ bùng phát bệnh trở lại
Mở rộng một số điểm giám sát vật chủ bệnh
dịch hạch mới như là các điểm hoang dại và bán
hoang dại phục vụ cho công tác nghiên cứu,
giám sát và phòng, chống bệnh dịch hạch ở khu
vực Tây Nguyên
KẾT LUẬN
Qua công tác giám sát vật chủ dịch hạch tại
các tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk trong năm 2011 cho
kết quả:
Tại tỉnh Gia Lai thành phần loài vật chủ dịch
hạch là chuột Lắt (Rattus exulans) 53,28%, chuột Chù (Suncus murinus) 41,8,3%, chuột Bóng (Rattus nitidus) 2,46%, chuột Đồng Lớn (Rattus argentiventer) 1,6%, và chuột Rừng (Rattus rattus)
0,86% Tại tỉnh Đăk Lăk thành phần loài vật chủ
là chuột Lắt (Rattus exulans) 75,2%, chuột Chù (Suncus murinus) 24% và chuột Bóng (Rattus nitidus) 0,8% Cho thấy thành phần loài vật chủ
tại hai điểm nghiên cứu ở Tây Nguyên là tương đối giống nhau, chỉ khác nhau về một số thành phần nhỏ các loài bán hoang dại như chuột Đồng Lớn và chuột Rừng
Tại xã Iapet, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai vào tháng 04 có tỷ lệ nhiễm bọ chét cao nhất là 78,57% và vào tháng 09 có tỷ lệ nhiễm bọ chét thấp nhất là 9,09%
Tại xã Ea’Hiao, huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk vào tháng 03 có chỉ số phong phú cao nhất
là 16% và vào tháng 05 có chỉ số phong phú thấp nhất là 07%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
hạch Ban hành kèm theo quyết định số 33/2003/QĐ-BYT ngày 07
tháng 01 năm 2003 của Bộ Y Tế, trang 86 – 88
gặm nhấm ở Việt Nam, trang 05 – 68
dịch tễ học, giám sát và phòng chống dịch hạch ở Việt Nam từ
1991 đến 2000 Tạp chí Y học Dự phòng 2002;54(3); trang 56 – 60
Bệnh dịch hạch: Dịch tễ học và lâm sàng Hà Nội; Nhà Xuất bản Y
học, trang 03 – 05
Distribution, Surveillance and Control WHO/CDS/CSR/EDC/99.2;
page 135 – 153