1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá sự liên quan giữa di lệch nhãn cầu và mức độ vỡ thành dưới hốc mắt tại Bệnh viện Chợ Rẫy

6 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 474,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá lâm sàng trên bệnh nhân vỡ thành dưới hốc mắt. Sự liên quan giữa mức độ vỡ thành dưới hốc mắt và sự di lệch nhãn cầu. Nghiên cứu thực hiện trên bệnh nhân bị chấn thương vỡ thành dưới hốc mắt tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 01 tháng 6 năm 2011 đến 31 tháng 5 năm 2012.

Trang 1

VỠ THÀNH DƯỚI HỐC MẮT TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY 

Nguyễn Hữu Chức* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá lâm sàng trên bệnh nhân vỡ thành dưới hốc mắt. Sự liên quan giữa mức 

độ vỡ thành dưới hốc mắt và sự di lệch nhãn cầu. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Tiến cứu, thực  nghiệm  lâm  sàng,  lấy  hàng  loạt  trường  hợp  không  có  nhóm 

chứng. 

Đối  tượng  nghiên  cứu: Bệnh nhân bị chấn thương vỡ thành dưới hốc mắt tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 01 

tháng 6 năm 2011 đến 31 tháng 5 năm 2012. 

Kết  quả:  Có  96  bệnh  nhân  đủ  điều  kiện  trong  nhóm  nghiên  cứu.  Giới  tính:  Nam:  74  (77,1%)  Nữ:  22 

(22,9%), bệnh nhân nam bị chấn thương bằng 3,4 lần bệnh nhân nữ. Tuổi từ 16 đến 45 có 71,9%. Tai nạn giao  thông là nguyên nhân thường gặp: 64,6%. Vỡ sàn hốc mắt đơn thuần: 72 (75,0%), có phối hợp vỡ thành trong: 

24 (25,0%). Thụt nhãn cầu đơn thuần: 27 (28,1%). Thụt và hạ thấp nhãn cầu: 69 (71,9%). Có sự tương quan  thuận giữa kích thước vị trí vỡ và di lệch của nhãn cầu, chiều dài có mối tương quan chặt hơn (R=0,62) so với  chiều rộng (R = 0,51). Diện tích vị trí vỡ, lượng mô bị thóat vị càng cao thì sự thay đổi vị trí nhãn cầu càng lớn,  với R = 0,71 và 0,74. 

Kết luận: Nguyên nhân vỡ sàn hốc mắt thường gặp nhất là tai nạn giao thông. Giới nam gặp cao hơn nữ. 

Thay đổi vị trí nhãn cầu và song thị là những triệu chứng có giá trị cao trong chẩn đoán lâm sàng. Hình ảnh  trên CT Scan có giá trị cao trong chẩn đoán. Kích thước vỡ sàn hốc mắt, lương mô bị thóat vị có mối tương quan  thuận, chặt với mức độ thay đổi vị trí nhãn cầu. 

Từ khoá: Vỡ sàn hốc mắt, thụt nhãn cầu. 

ABSTRACT 

ASSESSMENT OF THE RELATIONSHIP BETWEEN DISPLACED EYEBALL AND LEVELS OF 

FRACTURES OF THE ORBITAL FLOOR AT CHO RAY HOSPITAL 

Nguyen Huu Chuc ** Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 71 ‐ 76 

Objectives:  Clinical  evaluation  of  patients  with  fractures  of  the  orbital  floor.  The  relationship  between 

displaced eyeball and levels of fractures of the orbital floor. 

Method: Prospective, clinical trials, series of cases with no control group. 

Research  Subjects:  Patients  with  traumatic  rupture  of  the  eye  socket  at  Cho  Ray  Hospital  from  June  1, 

2011 to May 31, 2012. 

Results: There are 96 eligible patients in the study group. Male: 74 (77.1%), female: 22 (22.9%), with the 

number  of  male  patients  being  3.4  times  that  of  female  patients.  Patients  between  16  and  45  years  of  age  are  71.9% of the group. Traffic accidents are a common cause in 64.6% of all cases. Fractures of the orbital floor alone  occurred in 72 cases (75.0%), with associated broken medial wall in 24 cases (25.0%). Enophalmos alone are 27  cases (28.1%). Enophalmos and lowering the eyeball happened in 69 cases (71.9%). There is a positive correlation  between the size of the breakage and displacement of the eyeball, with the length being of tighter correlation (R = 

* Khoa Mắt ‐ Bệnh viện Chợ Rẫy,  

Tác giả liên lạc: TS. BS. Nguyễn Hữu Chức ĐT: 0913650105   Email: bschuc@yahoo.com 

Trang 2

0.62) than the width (R = 0.51). The larger the total broken areas and the herniated tissues are, the bigger the  change the position of the eyeball, with R = 0.71 and 0.74 respectively. 

Conclusion: Traffic accidents are the most common cause of Fractures of the orbital floor. Male patients are 

more often seen than female. Change in the position of the eyeball and diplopia are the valuable aspects in clinical  diagnosis. CT scans are also appreciated diagnostic tools. Size of fractures of the orbital floor and the amount of  herniated tissue have strong correlation to the level of change the position of the eyeball. 

Keywords: Fractures of the orbital floor, Enophalmos. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Nhãn cầu nằm trong hốc mắt gồm các thành 

xương và mô mềm. Khi bị chấn thương hốc mắt 

thường  ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến  nhãn  cầu  về 

giải phẫu và chức năng thị giác. Vị trí của nhãn 

cầu  bị  thay  đổi  tùy  theo  tình  trạng  và  mức  độ 

chấn thương. Di lệch nhãn cầu xảy ra khi thành 

hốc  mắt  không  còn  nguyên  vẹn,  các  mô  mềm 

như mỡ, cơ, bao tennon bị sa hoặc kẹt vào các hố 

và  xoang  lân  cận(6,1,5,7).  Khi  nhãn  cầu  bị  di  lệch, 

ảnh hưởng rất nhiều đến các chức năng thị giác 

và thẩm mỹ. Song, khi mới chấn thương thường 

dấu hiệu này bị che lấp bởi tình trạng phù nề, tụ 

máu  trong  hốc  mắt  nên  rất  khó  xác  định  để  có 

phương  pháp  xử  trí  kịp  thời,  mang  lại  kết  quả 

tốt hơn cho bệnh nhân(8,1,2,4). 

Có một số nghiên cứu, đánh giá sự liên quan 

giữa mức độ vỡ thành hốc mắt và thụt nhãn cầu 

như Clauser L., và cộng sự nghiên cứu liên quan 

giữa  thụt  và  di  lệch  nhãn  cầu  với  thay  đổi  thể 

tích  trong  gãy  thành  hốc  mắt,(3).  Ahn  H  B.  tiên 

lượng  thụt  nhãn  cầu  bằng  cách  chụp  điện  toán 

đo thể tích hốc mắt bị gãy trên bệnh nhân người 

Hàn  Quốc.  Ryul  Jin  H.  nghiên  cứu  trên  bênh 

nhân cho biết có sự liên quan giữa kích thước vị 

trí  vỡ  của  thành  hốc  mắt  và  mức  độ  thụt  nhãn 

cầu(1,7).  Tại  Việt  Nam,  Lê  Minh  Thông  và  Cộng 

sự khảo sát tương quan giữa độ rộng lỗ gãy với 

mức  độ  thụt  và  hạ  nhãn  cầu  sau  chấn  thương 

gãy thành hốc mắt. 

Tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy,  bệnh  nhân  chấn 

thương  hốc  mắt  rất  thường  gặp  trong  chấn 

thương  vùng  đầu  ‐  mặt,  đặc  biệt  là  vỡ  thành 

dưới hốc mắt dễ làm di lệch nhãn cầu, để lại di 

chứng  khá  nặng  nề  về  chức  năng  và  thẩm  mỹ 

làm  ảnh  hưởng  đến  chất  lượng  sống  và  khả 

năng  lao  động  của  bệnh  nhân.  Việc  đánh  giá  sớm để điều trị kịp thời là rất quan trọng. Vì vậy 

đề tài nghiên cứu “Đánh giá sự liên quan giữa di  lệch nhãn cầu và mức độ vỡ thành dưới hốc mắt  tại bệnh viện Chợ Rẫy”  được thực hiện với các 

mục tiêu sau: 

‐  Đánh  giá  lâm  sàng  trên  bệnh  nhân  vỡ  thành dưới hốc mắt. 

‐  Khảo  sát  sự  liên  quan  giữa  mức  độ  vỡ  thành dưới hốc mắt và di lệch nhãn cầu. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Bệnh  nhân  bị  chấn  thương  vỡ  thành  dưới  hốc  mắt  tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy  từ  01  tháng  06  năm 2011 đến 31 tháng 5 năm 2012. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu 

Bệnh  nhân  từ  ≥16  tuổi,  chấn  thương  vỡ  thành dưới hốc mắt đơn thuần hoặc có phối hợp 

với gãy thành trong hốc mắt. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân bị gãy thành ngoài hốc mắt có di  lệch,  gãy  xương  gò  má,  gãy  thành  trên.  gãy  bờ  hốc mắt. 

Bệnh  nhân  không  đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Tiến  cứu,  thực  nghiệm  lâm  sàng,  lấy  hàng  loạt trường hợp, không nhóm chứng. 

Đo độ thụt nhãn cầu bằng thước Hertel. 

Đo mức độ hạ thấp nhãn cầutrong tư thế nhìn  thẳng với thước phân vạch milimet, phối hợp với 

đo trên hình ảnh CT Scan trên lát cắt trán. 

Đo  kích  thước  vị  trí  vỡ  thành  dưới  hoặc  thành trong hốc mắt theo kỹ thuật đo của Hong 

Trang 3

+ Thành dưới: Chiều rộng (chiều ngang): ký 

hiệu a1. 

Chiều dài (chiều trước‐sau): ký hiệu b1. 

Mức độ mô mềm bị sa vào xoang qua vị trí 

vỡ: c1. 

Diện  tích  vị  trí  vỡ  xương  được  tính  theo 

công thức: S 1 = π x a 1  x b 1 /4. 

Thể tích mô thoát vị tính theo công thức: V 1  = 

π x a 1 x b 1  x c 1 /6. 

+ Thành trong: Chiều cao, ký hiệu a2. 

Chiều dài (chiều trước – sau), ký hiệu b2. 

Mức độ mô mềm bị sa vào xoang qua vị trí 

vỡ: c2. 

Diện  tích  vị  trí  vỡ  xương  được  tính  theo 

công thức: S 2 = π x a 2  x b 2 /4. 

Thể tích mô thoát vị tính theo công thức: V 2  = 

π x a 2  x b 2  x c 2 /6. 

+ Vỡ phối hợp: các giá trị S  và  V  được  tính 

bằng tổng các giá trị. 

Phương tiện nghiên cứu 

Máy chụp CT scan 64 lát cắt. 

Thước đo độ lồi Hertel. 

Thước đo mm đã kiểm định. 

Bảng thị lực. 

Máy  tính  có  các  phần  mềm  cần  thiết  cho 

nghiên cứu. 

KẾT QUẢ 

Có  96  bệnh  nhân  đủ  điều  kiện  trong  nhóm 

nghiên cứu. 

Đặc điểm dịch tễ 

Giới tính 

Nam: 74 (77,1%) Nữ: 22 (22,9%). Như vậy, số 

bệnh  nhân  nam  bị  chấn  thương  bằng  3,4  lần 

bệnh nhân nữ. 

Tuổi 

Bảng 1: Tuổi của bệnh nhân (n= 96). 

Tuổi Số lượng Tỷ lệ (%)

16-25 25 26,1

Tổng số 96 100,0

Bệnh nhân tập trung ở tuổi 16 đến 45, đây là  tuổi  lao  động  và  tham  gia  hoạt  động  xã  hội 

nhiều. 

Nguyên nhân  Bảng 2: Những nguyên nhân gây chấn thương (n= 

96). 

Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ (%)

Tai nạn giao thông 62 64,6 Tai nạn lao động 12 12,5 Tai nạn sinh hoạt 7 7,3

Nguyên  nhân  do  tai  nạn  giao  thông  là  cao  nhất trong chấn thương vỡ sàn hốc mắt. 

Biểu hiện lâm sàng và phân loại  Bảng 3. Thị lực khi nhập viện (n = 96). 

Thị lực Số lượng Tỷ lê (%)

Từ ĐNT > 1m đến 1/10 7 7,3

Từ > 1/10 đến 3/10 10 10,4

Từ > 3/10 đến 5/10 41 42,7

Từ > 5/10 đến 7/10 15 15,6

Loại vỡ thành hốc mắt 

Vỡ sàn hốc mắt đơn thuần: 72 

Vỡ  sàn  hốc  mắt  phối  hợp  với  thành  trong: 

24. 

BIỂU ĐỒ PHÂN LOẠI VỠ SÀN HỐC MẮT

72 75%

24 25%

Vỡ sàn đơn thuần

Vỡ phối hợp

 

Bảng 4: Biểu hiện lâm sàng và tổn thương phối hợp 

(n=96) 

STT Biểu hiện lâm sàng Số lượng Tỉ lệ %

Trang 4

4 Song thị 86/91 94,5

5 Thụt + hạ thấp nhãn cầu 69 71,9

6 Tổn thương góc trong mi 47 48,9

9 Thụt nhãn cầu đơn thuần 27 28,1

10 Tổn thương nhãn cầu và thần

kinh thị

7

13,0

11 Vị trí nhãn cầu bình thường 5 5,2

Dấu  hiệu  thụt  và  hạ  thấp  nhãn  cầu  là  triệu 

chứng thường gặp trong vỡ sàn hốc mắt, có thể 

đơn thuần hoặc phối hợp. 

Bảng 5: Mức độ di lệch nhãn cầu (n=96). 

Mức độ di lệch (mm) Số lượng Tỷ lệ (%)

Thụt nhãn cầu

0

>0 - 1,0

>1,0 - 2,0

>2,0 - 3,0

>3,0 - 4,0

>4,0 – 5,0

>5,0

5

4

12

22

31

19

3

5,2 4,2 12,5 22,9 32,3 19,8 3,1

Hạ thấp nhãn cầu

0

>0 - 1,0

>1,0 - 2,0

>2,0 - 3,0

>3,0 - 4,0

>4,0 – 5,0

>5,0

12

7

9

30

20

15

3

12,5 7,3 9,4 31,3 20,8 15,6 3,1 Phối hợp thụt và hạ thấp nhãn

Mức độ di lệch nhãn cầu thay đổi từ không 

di  lệch  đến  >5mm,  nhiều  nhất  từ  >2mm  đến 

4mm. 

Bảng 6: Kích thước trung bình vị trí vỡ sàn hốc mắt 

(n=96). 

Tên biến số Kính thuớc (mm)

Chiều rộng (a1) 16,8 ± 5,1

Chiều dài (b 1 ) 23,6 ± 5,8

Mức độ mô mềm bị sa vào xoang (c 1 ) 14,8 ±6,2

Diện tích vị trí vỡ sàn (S1) 321,8±128,5

Thể tích mô thoát vị (V 1 ) 3127,6±1862,8

Bảng 7: Kích thước trung bình vị trí vỡ thành trong 

hốc mắt (n=24). 

Tên biến số Kính thuớc (mm)

Chiều cao (a 2 ) 7,1 ± 3,3

Mức độ mô mềm bị sa vào xoang (c 2) 6,5±4,2

Diện tích vị trí vỡ sàn (S 2 ) 147±71,8 Thể tích mô thoát vị (V2) 812,7±451,6

Sự tương quan giữa mức độ thụt nhãn cầu  với tình trạng vỡ sàn hốc mắt 

Bảng 8: Mức độ tương quan của thụt nhãn cầu và 

tình trạng vỡ sàn và thành trong hốc mắt (n=96) 

Các biến tương quan Hệ số tương quan (R)

Diện tích vị trí vỡ sàn (S1) 0,71 Thể tích mô thoát vị (V1) 0,74

Diện tích vỡ thành trong(S2) 0,38 Thể tích mô thoát vi thành trong (V2) 0,48 Tổng diện tích (S1 + S2) 0,51 Tổng thể tích (V1 + V2) 0,62

Có sự tương quan thuận, chặt giữa mức độ  thụt nhãn cầu với kích thước, diện tích vị trí vỡ  sàn hốc mắt, thể tích mô hốc mắt thoát vị. 

Bảng 9: Mức độ tương quan hạ thấp nhãn cầu với 

tình trạng vỡ sàn và thành trong hốc mắt (n=96). 

Các biến tương quan Hệ số tương quan (R)

Diện tích vị trí vỡ sàn (S1) 0,68 Thể tích mô thoát vị (V1) 0,65 Chiều cao vỡ thành trong (a 2 ) 0,01 Chiều dài vỡ thành trong (b 2 ) 0,02 Diện tích vỡ thành trong(S2) 0,02

Thể tích mô thoát vi thành trong

Tổng diện tích (S1 + S2) 0,58 Tổng thể tích (V1 + V2) 0,62

Có sự tương quan thuận, chặt giữa mức độ 

hạ thấp nhãn cầu với kích thước, diện tích vị trí 

vỡ sàn hốc mắt. Với thể tích mô hốc mắt thoát vị,  trong  vỡ  sàn  hốc  mắt  có  tương  quan  thuận  rất  chặt (R = 0,65, song với vỡ thành trong sự tương  quan thấp (R = 0,04). 

BÀN LUẬN 

Về yếu tố dịch tễ 

Giới tính 

Nam: 74 (77,1%) Nữ: 22 (22,9%). Như vậy, số  bệnh  nhân  nam  bị  chấn  thương  bằng  3,4  lần 

Trang 5

cứu khác trong nước và trên thế giới, tỷ lệ bệnh 

nhân  nam  thường  cao  gấp  2,5  đến  5  lần  bệnh 

nhân nữ(1,2,5). 

Tuổi 

Trong  khoảng  từ  16  đến  45  chiếm  71,8%, 

điều này phù hợp với các tác giả trong nước như 

Trần  Đình  Lập  tại  bệnh  viện  trung  ương  Huế 

cho  biết  bệnh  nhân  ở  lứa  tuổi  từ  20  đến  40  là 

83,0%(1).  Với  một  số  tác  giả  trên  thế  giới  như 

Pascotto A. và cộng sự: bệnh nhân từ 21 đến 30 

tuổi có 82,1% 

Đây  là  tuổi  tham  gia  hoạt  động  xã  hội,  lao 

động  nhiều  nhất  nên  khả  năng  bị  chấn  thương 

nói chung và chấn thương sàn hốc mắt nói riêng 

cao hơn. 

Nguyên nhân 

Tai nạn giao thông vẫn là nguyên nhân hàng 

đầu trong chấn thương vỡ sàn hốc mắt với tỷ lệ 

64,6%. Theo các nhận xét của tác giả Trần Đình 

Lập  thì  chấn  thương  vùng  hàm  mặt  do  tai  nạn 

giao thông còn cao hơn, với 92,3%. Song trên thế 

giới thì nguyên nhân hàng đầu lại là tai nạn sinh 

hoạt  như  bị  té,  chơi  thể  thao.  Như  vậy,  ở  nước 

ta,  vấn  đề  tai  nạn  giao  thông  vẫn  là  vấn  đề  rất 

đáng quan tâm về sức khỏe cộng đồng. 

Biểu hiện lâm sàng 

Khi  bệnh  nhân  nhập  viện,  thị  lực  từ  ST  (+) 

đến  7/10  chiếm  tỷ  lệ  81,2%.  Như  vậy,  với  bệnh 

nhân vỡ sàn hốc mắt, ảnh hưởng đến thị lực khá 

nhiều,  Những  trường  hợp  giảm  thị  lực  trầm 

trọng  thường  có  tổn  thương  trực  tiếp  tại  nhãn 

cầu hoặc thần kinh thị. 

Vỡ  sàn  hốc  mắt  đơn  thuần  gặp  75,0%,  có 

phối  hợp  với  vỡ  thành  trong  là  25,0%.  Những 

biểu hiện lâm sàng như đau, phù nề tại chỗ, tổn 

thương  mi  dưới  gặp  ở  tất  cả  các  bệnh  nhân. 

Song thị biểu hiện trên 94,5 % bệnh nhân còn thị 

lực cho phép kiểm tra được. Dấu hiệu thụt nhãn 

cầu đơn thuần gặp ở 28,1%, trong khi thụt phối 

hợp với hạ thấp chiếm 71,9%. Như vậy, khi chấn 

thương vỡ sàn hốc mắt ngoài những triệu chứng 

chung của chấn thương, dấu hiệu song thị và di 

lệch nhãn cầu rất có giá trị chẩn đoán. 

Mức  độ  di  lệch  nhãn  cầu  thay  đổi  tùy  theo  tình trạng chấn thương. Có sự tương quan giữa  kích  thước  vị  trí  vỡ  và  di  lệch  của  nhãn  cầu.  Trong đó chiều dài có mối tương quan chặt hơn  R=0,62 so với R = 0,51 của chiều rộng. Có nghĩa 

là khi vị trí vỡ sàn có cùng một diện tích thì nếu  tổn thương có chiều trước ‐ sau lớn hơn thì khả  năng  thay  đổi  vị  trí  nhãn  cầu  nhiều  hơn.  Mặt  khác,  diện  tích  vị  trí  vỡ,  lượng  mô  bị  thoát  vị  càng cao thì sự thay đổi vị trí nhãn cầu càng lớn,  mối  tương  quan  này  rất  chặt,  với  R  =  0,71  và  0,74. Điều này phù hợp với nhận xét của nhiều  tác  giả.  Fries  R.,  Steven  MB.  và  cộng  sự,  Hong  Ryun Jin khi nghiên cứu mối liên quan giữa thể  tích hốc mắt, diện tích vị trí vỡ sàn hốc mắt với 

sự di lệch nhãn cầu, cho biết: diện tích vị trí vỡ, 

sự thay đổi thể tích hốc mắt, mức độ thoát vị mô  hốc  mắt  càng  lớn  thì  nhãn  cầu  di  lệch  càng  nhiều. Chính sự di lệch này làm ảnh hưởng trực  tiếp  đến  chức  năng  thị  giác  như  song  thị,  giảm  thị lực, cũng như về thẩm mỹ. 

Khi kích thước vị trí vỡ sàn hốc mắt  không 

đủ lớn sẽ không làm di lệch nhãn cầu, trong các  trường hợp này có thể không cần can thiệp nếu  không  có  các  lý  do  khác  như  ngoại  vật,  tổn  thương  mi.  Trong  nghiên  cứu  cũng  nhận  thấy  mức độ thay đổi vị trí nhãn cầu của bệnh nhân 

vỡ sàn đơn thuần và phối hợp có vỡ thành trong  hốc mắt khác nhau không có ý nghĩa, có thể khi 

vỡ thành trong xoang sàng hẹp, lượng mô thoát 

vị không đáng kể, đồng thời các thành của các tế  bào sàng làm vai trò nâng đỡ làm nhãn cầu ít bị  ảnh hưởng. 

Như  vậy,  trước  một  bệnh  nhân  vỡ  sàn  hốc  mắt, việc đánh giá chính xác mức độ tổn thương 

là  rất  quan  trọng  và  có  ích  để  có  kế  hoạch,  phương pháp cụ thể can thiệp kịp thời. CT Scan 

là  phương  tiện  cần  thiết  để  khảo  sát  vị  trí  tổn  thương tại sàn hốc mắt và các thành khác có liên  quan.  Khi  bệnh  nhân  mới  bị  chấn  thương,  các  triệu chứng đau, xưng nề và thiếu khả năng hợp  tác  dễ  làm  cho  bỏ  sót  hoặc  không  lượng  giá  chính  xác  mức  độ  trầm  trọng.  Trên  lâm  sàng, 

Trang 6

trạng  thụt  hoặc  hạ  thấp  nhãn  cầu,  do  đó  nhiều 

trường hợp chỉ phát hiện thay đổi vị trí nhãn cầu 

sau khi hết phù nề, bệnh nhân thấy song thị. Do 

đó việc theo dõi bệnh nhân là rất cần thiết. Khi 

phát hiện vị trí nhãn cầu thay đổi, cần đánh giá 

kỹ mức độ thay đổi thể tích mô trong hốc mắt, 

mức  độ  kẹt  cơ,  khả  năng  viêm  nhiễm  từ  các 

xoang lân cận từ đó sẽ quyết định phương pháp 

phẫu thuật như lót sàn, giải phóng cơ, tái tạo các 

tổ chức để phục hồi vị trí giải phẫu, chức năng 

thị giác và thẩm mỹ cho người bệnh. 

KẾT LUẬN 

Bệnh nhân bị vỡ thành dưới hốc mắt tại Việt 

Nam  nguyên  nhân  thường  gặp  nhất  là  tai  nạn 

giao  thông,  với  tỷ  lệ  64,6%.  Giới  nam  gặp  cao 

hơn  nữ,  với  tỷ  lệ  1  nữ/3,4  nam.  Biểu  hiện  lâm 

sàng đa dạng và phức tạp. Thay đổi vị trí nhãn 

cầu  và  song  thị  là  những  triệu  chứng  có  giá  trị 

cao trong chẩn đoán lâm sàng. Chẩn đoán bằng 

hình ảnh trên CT Scan có tính chất xác định và 

đánh giá mức độ, tính chất vỡ sàn hốc mắt, định 

hướng cho phương pháp xử trí. 

Diện tích vị trí vỡ sàn hốc mắt, lương mô bị 

thoát vị càng nhiều thì sự thay đổi vị trí nhãn 

cầu càng lớn, mối tương quan này rất chặt, với 

R  =  0,71  và  0,74.  Đồng  thời  kích  thước  chiều 

dài và chiều rộng của trí vỡ cũng có liên quan 

chặt  với  mức  độ  di  lệch  của  nhãn  cầu.  Trong 

đó  chiều  dài  có  mối  tương  quan  chặt  hơn  R=0,62 so với R = 0,51 của chiều rộng, vị trí vỡ  sàn  có  cùng  một  diện  tích  thì  nếu  tổn  thương 

có chiều trước ‐ sau lớn hơn, khả năng thay đổi 

vị trí nhãn cầu nhiều hơn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

computer  based  volume  measurement  of  orbital  fracture  in  Korean  population”,  Ophthalmic  Plastic  and  reconstructive  surgery, 24(1), PP:36 – 39. 

enophthalmos”, Chang Gung Medical Journal, 29 (3), PP: 251‐

261. 

principles  of  recontruction,  and  correction”J.  Craniofacial  Surgery, 19(2), PP:351 – 359. 

fractures  with  muscle  entrapment”.  J  AAPOS.,  Apr,11(2),  pp:142‐147.  

enophthalmos”, Mod Probl Ophthalmol, (1975), 14, PP: 637. 

sàn hốc mắt kết hợp lót chỗ gãy bằng chế phẩm san hô lấy từ  vùng  biển  Việt  Nam”,  Y  Học  TPHCM.,  Hội  nghị  KHKT  thứ 

25, chuyên đề mắt ‐ Tai ‐ Mũi ‐ Họng, tập 12 số 1 Tr119‐126. 

fracture  of  the  medial  orbital  wall”,  American  association  of  oral & maxillofac surgeons, 58, PP: 617 – 621. 

phương  pháp  sử  dụng  chất  liệu  silicon  trong  phẫu  thuật  vỡ  sàn hốc mắt”Tạp chí Nhãn khoa Việt Nam, 6, trang 29 – 37.   

Ngày nhận bài báo: 3/04/2013  Ngày phản biện đánh giá bài báo: 3/05/2013  Ngày bài báo được đăng: 27/05/2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w