1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện A Thái Nguyên

8 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 260,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu 180 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Phòng khám bệnh Bệnh viện A Thái Nguyên, các tác giả thấy: - Tuổi mắc bệnh trung bình là 59,62  11,50; chủ yếu là người trên 60 tuổi (48,89%). Tại phòng khám ngoại trú, tỷ lệ nam, nữ bằng nhau. Người làm ruộng chiếm 57,22% bệnh nhân đái tháo đường. Thời gian mắc bệnh từ 1 - 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (76,67%).

Trang 1

ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN A THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thị Ngọc Lan * , Bùi Nguyên Kiểm, Trịnh Xuân Tráng

Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nghiên cứu 180 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Phòng khám bệnh Bệnh viện A Thái Nguyên, các tác giả thấy:

- Tuổi mắc bệnh trung bình là 59,62  11,50; chủ yếu là người trên 60 tuổi (48,89%) Tại phòng khám ngoại trú, tỷ lệ nam, nữ bằng nhau Người làm ruộng chiếm 57,22% bệnh nhân đái tháo đường Thời gian mắc bệnh từ 1 - 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (76,67%) Đa

số bệnh nhân có BMI trung bình: 68,89% Tỷ lệ bệnh nhân béo phì trung tâm là 42,78%

- Về triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ ăn nhiều: 12,22%; uống nhiều 7,20%; gày sút 16,10%; mệt mỏi 23,89%; 77,22% bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng lâm sàng bệnh nhân có bệnh ở răng miệng 77,22% , biến chứng mắt là 26,82%

- Hàm lượng HbA 1 c trung bình là 6,93  0,98% Tỷ lệ bệnh nhân có hàm lượng HbA 1 c ở mức tốt và chấp nhận được đạt 70% Glucose máu lúc đói trung bình là 7,96  2,43 Tỷ lệ bệnh nhân có mức kiểm soát glucose máu tốt là 14,4%; kém là 67,78%

- Tỷ lệ rối loạn lipid máu: tăng cholesterol là 42,22%; tăng triglycerid 76,67%; giảm HDL-C 2,22%; tăng LDL-C 38,89%

Từ khóa:

ĐẶT VẤN ĐỀ *

Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá

glucid mạn tính Bệnh có tốc độ gia tăng

nhanh chóng trên thế giới, đặc biệt là ở các

nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Đái tháo đường đã và đang trở thành gánh

nặng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội bởi

sự phổ biến và hậu quả nặng nề của các biến

chứng [3]

Tại Việt Nam, năm 2002, theo điều tra trên

phạm vi toàn quốc ở lứa tuổi từ 30 - 64 của

Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ mắc đái

tháo đường chung cho cả nước là 2,7%, ở các

thành phố 4,4%, vùng đồng bằng ven biển

2,2% và miền núi 2,1% [3]

Với số lượng bệnh nhân lớn và thời gian điều

trị cho bệnh nhân bắt buộc phải liên tục suốt

đời, cho nên việc điều trị ngoại trú cho người

bệnh đái tháo đường là hết sức cần thiết để

giảm tải cho các cơ sở y tế và giúp người

bệnh có cuộc sống lao động bình thường,

đồng thời giảm bớt gánh nặng kinh tế cho

bệnh nhân và xã hội Hiện nay, đã có rất

nhiều bệnh viện và trung tâm y tế trong nước

*

thành lập phòng khám ngoại trú đái tháo đường, đã có một số nơi nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị của các phòng khám này Tháng 3/2010, Bệnh viện A Thái Nguyên thành lập phòng khám đái tháo đường với nhiệm vụ theo dõi điều trị ngoại trú cho bệnh nhân đái tháo đường trong tỉnh Số lượng bệnh nhân điều trị ở đây ngày một đông Việc nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị và xác định các yếu tố liên quan là hết sức cần thiết,

là cơ sở khoa học để có thể phát huy những

ưu điểm đồng thời khắc phục những tồn tại, xây dựng các giải pháp dự phòng và điều trị thích hợp làm hạn chế những biến chứng cho bệnh nhân Để tăng cường hiệu quả trong công tác điều trị đái tháo đường và hạn chế các biến chứng của bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nµy nh»m môc tiªu :

Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện A Thái Nguyên

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Trang 2

Gồm 180 bệnh nhân đái tháo đường typ 2

điều trị ngoại trú tại Phòng khám bệnh

Bệnh viện A Thái Nguyên Thời gian từ

tháng 2/2011 đến hết tháng 9/2011

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả

cắt ngang

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới - 1999

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp :

theo JNC VII - 2003

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lipid

máu: theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch

Việt Nam - 2006

+ Đánh giá chỉ số khối cơ thể theo khuyến

cáo của Tổ chức Y tế thế giới đề nghị cho

khu vực châu Á- Thái Bình Dương tháng

2/ 2002

2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ:

Bệnh nhân có các bệnh mạn tính liên quan

đến đông máu, chảy máu như bệnh về

máu, ung thư, xơ gan…

2.2.4 Phương tiện nghiên cứu: Các xét

nghiệm sinh hoá được làm tại Khoa Sinh

hoá Bệnh viện A Thái Nguyên

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y

học

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN

LUẬN

Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và

giới

(13,89%)

(32,22%)

(33,33%)

(15,56%)

Tổng

180 (100%)

Số liệu của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình là 59,62  11,50, lứa tuổi từ 61-70 mắc bệnh đái tháo đường có tỷ lệ cao nhất chiếm tỷ lệ 33,33% Tiếp đến là nhóm 51-

60 tuổi chiếm tỷ lệ 32,22% Như vậy, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc đái tháo đường càng tăng Từ 61 tuổi trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh là 48,89%

Nghiên cứu của Trần Đức Thọ, Lê Thị Thu Hà (1999) thấy tỷ lệ đái tháo đường ở

nữ nhiều hơn ở nam: 4 nữ/1 nam [11] Triệu Quang Phú (2006) lại thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nam là 62% và ở nữ là 38% [9] Tác giả Nguyễn Thanh Mạnh (2008) thấy tỷ lệ nữ chiếm 69,67%, nam chiếm 30,03% [7] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Khang tại bệnh niện C Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ nữ là 52,5%, nam

là 47,5% [6] Nghiên cứu của chúng tôi tỷ

lệ mắc đái tháo đường ở nam và ở nữ là bằng nhau 50% Số liệu này chỉ phản ánh

tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường theo giới điều trị tại bệnh viện, chứ không phản ánh

tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tại cộng đồng

Bảng 2 Nghề nghiệp của đối tượng

nghiên cứu

Nghề nghiệp

Số

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu là cán bộ hưu chiếm 32,22%, người làm ruộng chiếm 57,22%, lao động khác (tiểu thương, nội trợ, viên chức) chiếm 10,56% Kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Đợi (2007) tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy bệnh nhân ở khu vực thành thị

Trang 3

chiếm 71,7%, khu vực nông thôn chiếm

28,3% [5] Có sự khác nhau như vậy là do

địa bàn chúng tôi nghiên cứu là vùng

nông thôn, người dân chủ yếu làm ruộng

Nhưng qua đó cũng thấy rằng bệnh đái

tháo đường không còn tập trung ở khu

vực thành thị nữa mà ngày càng lan rộng

Bảng 3 Thời gian phát hiện bệnh đái

tháo đường

Thời gian phát

hiện bệnh đái

tháo đường

(năm)

N (người)

Tỷ lệ (%)

Đối tượng nghiên cứu có thời gian mắc

bệnh từ 1 - 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất

(76,67%), thứ hai là đối tượng mắc bệnh

trên 5 năm (17,78%), thấp nhất là đối

tượng mắc bệnh <1 năm (5,00%) Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi tương tự như

của Bùi Thế Bừng, Vũ Tiến Thăng,

Nguyễn Thị Khang, thời gian mắc bệnh

chủ yếu từ 1 đến 5 năm [2], [10], [6]

Điều này phù hợp với nhận định chung về

tình hình mắc bệnh hiện nay trên toàn thế

giới là tỷ lệ bệnh đái tháo đường không

ngừng gia tăng [13]

Bảng 4 Đặc điểm chỉ số khối cơ thể

(BMI)

BMI

bình

Quá cân

Béo phì độ

I

Béo phì độ

II

5

(2,78%

)

124

(68,89

%)

43 (23,89

%)

8 (4,44%

)

0

BMI ((X  SD) = 22,81  10,46

Khi nghiên cứu về đái tháo đường đa số các tác giả đều cho rằng tỷ lệ mắc béo phì, đặc biệt béo trung tâm và tỷ lệ mắc đái tháo đường luôn song hành với nhau Nguyễn Huy Cường và cộng sự nghiên cứu thấy nhóm bệnh nhân có BMI  23-24,9 kg/m2 nguy cơ đái tháo đường tăng lên 1,4 lần và rối loạn lipid tăng lên gấp 3 lần nhóm bệnh nhân có BMI 25 kg/m2; nguy cơ đái tháo đường tăng lên 3,74 lần

và rối loạn lipid máu tăng lên 3,5 lần [3] Nguyễn Thanh Mạnh, Nguyễn Hải Thuỳ (2008) cho thấy BMI thừa cân ở bệnh nhân đái tháo đường chiếm tỷ lệ 61,4% [7], Nghiên cứu của Trần Vĩnh Thuỷ thấy

tỷ lệ này là 67,95% Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tỷ lệ BMI trung bình là 68,89% ; quá cân là 23,89%, béo

độ I là 3,89%; béo độ II là 0% và gầy 2,78% Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của UKPDS (9/1990) [13] Điều này cho thấy kết quả điều trị đái tháo đường ở đây tương đương với những nơi khác về mặt quản lý trọng lượng cơ thể

Bảng 5 Phân loại đối tượng nghiên cứu

theo chỉ số eo/hông

Chỉ số eo/hông

Bình thường Béo trung tâm

Eo / hông ( X  SD) = 0,81  0,16

Nguyễn Huy Cường (2002) thấy tỷ lệ béo trung tâm chiếm 82,3% [3], Bùi Thế Bừng (2004) tỷ lệ này là 65,8% [2], Phạm Hoài Anh (2003) là 85,1% [1] Đây có lẽ

là đặc điểm chung của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tỷ lệ vòng eo/vòng hông trung bình bằng 0,81  0,16, tỷ lệ bệnh nhân béo phì trung tâm là 42,78% Nghiên cứu

Trang 4

một số tác giả nước ngoài như: Case

Report (2007) cũng cho kết quả tương tự

[13] Qua đó phần nào thấy được việc

quản lý và điều trị bệnh nhân đái tháo

đường ngoại trú ở bệnh viện A Thái

Nguyên đạt kết quả tương đối cao

Đặc điểm lâm sàng

3.6 Triêu chứng lâm sàng tại thời điểm

nghiên cứu (Sau khi đã được điều trị)

Số bệnh nhân

Tỷ lệ

%

Tê bì rối loạn cảm giác 4 2,22

Không biểu hiện triệu

Ngoài những triệu chứng cổ điển thường

gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, triệu

chứng lâm sàng ở bệnh nhân của chúng

tôi còn biểu hiện đa dạng như: đau đầu,

mệt mỏi, tê bì rối loạn cảm giác, đau

ngực, khó ngủ Thái Hồng Quang (2000)

nghiên cứu 120 bệnh nhân đái tháo đường

ở Viện Quân y 103 thấy 93,33% số các

bệnh nhân có các triệu chứng ăn nhiều,

uống nhiều, đái nhiều, sút cân [8] Triệu

Quang Phú (2006), sút cân chiếm 90,3%

[9]; Trần Vĩnh Thuỷ (2007) nhận thấy tỉ

lệ bệnh nhân có đái nhiều mệt mỏi chiếm

92,3% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

thấy tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện triệu

chứng ăn nhiều: 12,22%; uống nhiều

7,20%; gày sút 16,10%; mệt mỏi 23,89%;

khó ngủ 12,78%; tê bì rối loạn cảm giác

2,22%; đau ngực 1,67% và đặc biệt có

130/tổng số 180 bệnh nhân không biểu

hiện triệu chứng lâm sàng Kết quả này

thấp hơn với kết quả của các tác giả khác

do đây là các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân ĐTĐ sau khi đã được điều trị, điều này cho thấy hiệu quả điều trị bước đầu của chúng tôi trong việc cải thiện triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân

3.7 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có biến chứng của bệnh

nhân

Tỷ lệ

%

Bệnh mạch

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 139/180 chiếm 77,22% bệnh nhân có bệnh ở răng miệng như rụng răng, viêm quanh răng, áp xe quanh răng, viêm lợi được xác định bằng khám chuyên khoa

Tỷ lệ này là cao so với nghiên cứu của Vũ Tiến Thăng (2004) là 38,9%; Triệu Quang Phú (2006) là 22,0% [9]; Bùi Thế Bừng là 35,4% có biến chứng về răng lợi [2] Như vậy, trong điều trị đái tháo đường cần hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh răng miệng, những trường hợp viêm nặng cần được điều trị thích hợp

Biến chứng mạch vành được phát hiện trên điện tâm đồ của chúng tôi là 15,48%

so với nghiên cứu của Vũ Tiến Thăng 38,9% [10]; Nguyễn Thị Khang 36,1% [6]

là thấp hơn Điều đó có thể là do trong quá trình điều trị tại phòng khám những bệnh nhân có dấu hiệu thiếu máu cơ tim trên điện tâm đồ đã được các bác sĩ cho dùng thêm thuốc giãn mạch vành

Theo Nguyễn Thị Bích Đào (1999) biến chứng mắt là 76,5%, trong đó có đục thủy tinh thể Nguyễn Kim Lương, Thái Hồng Quang (2000) biến chứng võng mạc là 22,22% [8], Vũ Tiến Thăng (2004) biến chứng mắt trong đó có đục thủy tinh thể

Trang 5

và bệnh lý võng mạc là 33,33% [9] Theo

Nguyễn Thị Khang biến chứng mắt là

20,50% [6] Nghiên cứu của chúng tôi tỷ

lệ này là 26,82% So sánh các kết quả cho

thấy những năm gần đây tỷ lệ biến chứng

mắt ở bệnh nhân đái tháo đường giảm đi,

có lẽ một phần do công tác quản lý và

điều trị đái tháo đường có nhiều tiến bộ

nhưng cũng có thể do tuổi đối tượng mắc

đái tháo đường ngày càng trẻ, vì vậy cần

giáo dục và hướng dẫn bệnh nhân tốt hơn

để đề phòng các biến chứng giúp người

bệnh đảm bảo chất lượng cuộc sống về

lâu dài

Đặc điểm cận lâm sàng

3.8 Kiểm soát đường huyết ở đối tượng

Mức kiểm

soát đường

huyết

máu

Tỷ lệ

%

Trung bình 73 40,56 32 17,78

( X SD ) 6,93  0,98 7,96 2,43

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hàm

lượng HbA1c trung bình ở 180 đối tượng

nhiên cứu là 6,93  0,98% thuộc vùng

kiểm soát chấp nhận được Tỷ lệ bệnh

nhân có hàm lượng HbA1c ở mức tốt và

chấp nhận được đạt 70% tương đương với

các nghiên cứu của Đào Thị Dừa (2009),

hàm lượng HbA1c trung bình sau điều trị

là 7,10  0,87% [4] và Nguyễn Bá Việt

(2005) là 6,79  1,37%; Hoàng Trung

Vinh (2006) 6,79  1,37% [12]

Glucose máu lúc đói trung bình là 7,96 

2,43 mmol/l Tỷ lệ bệnh nhân có mức

glucose máu tốt là 14,4% ; trung bình là

17,78% ; kém là 67,78% Chính vì vậy

mà tỷ lệ bệnh nhân có đồng thời hàm

lượng HbA1c và glucose máu ở mức tốt

còn thấp (7,22%), tỷ lệ bệnh nhân có đồng

thời HbA1c và glucose máu ở mức kém còn cao chiếm 26,11% Kết quả này có thể là do bệnh nhân chưa thực hiện đúng, thường xuyên, liên tục chế độ điều trị nên trong một vài ngày lượng glucose máu có thể thay đổi trong khi HbA1c chưa kịp thay đổi Điều này nói lên là trong điều trị chúng ta chưa hướng dẫn bệnh nhân kỹ lưỡng về tuân thủ điều trị hoặc bệnh nhân không thực hiện thường xuyên, liên tục theo hướng dẫn

3.9 Liên quan giữa kiểm soát glucose

≤ 40 tuổi

2 (22,22%)

4 (44,44%)

3 (33,33%)

41 - 50 5

(20,00%)

9 (36,00%)

11 (44,00%)

51 - 60 18

(25,86%)

23 (39,65%)

17 (29,31%)

61 - 70 22

(36,66%)

24 (40,00%)

14 (23,33%)

> 70 6

(21,42%)

13 (46,42%)

9 (32,14%) Nhóm tuổi 61-70 kiểm soát glucose máu tốt chiếm tỷ lệ (36,66%), tỷ lệ này ở nhóm 51-60 tuổi là 25,86% Theo Vũ Tiến Thăng (2004), tuổi bệnh nhân càng cao thì càng khó đạt được đích điều trị nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi thấy nhóm tuổi lớn hơn 70 kiểm soát đường huyết ở mức kém chiếm 32,14%; nhóm tuổi 41-

50 hàm lượng HbA1C chiếm 44% [10] Vì lứa tuổi 41-50 là tuổi còn lao động và giao lưu xã hội nên họ rất khó thực hiện tiết chế trong điều trị mặc dù đã được hướng dẫn, 92,00% đối tượng trong nhóm tuổi này không tuân thủ điều trị Như vậy chúng ta cần thông tin đầy đủ cho người bệnh thấy được những biến chứng nguy hiểm của bệnh để họ tự giác tuân thủ điều trị đặc biệt là tiết thực

3.10 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có chỉ số lipid ở giới hạn bệnh lý

Trang 6

Giới hạn bệnh lý

(mmol/l)

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Cholesterol TP (>5,2) 104 42,22

Triglycerid (>2,3) 138 76,67

LDL-C (>3,12) 70 38,89

Nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt

Nam đều có chung một nhận xét: có thể gặp

70-100% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có bất thường

một hoặc nhiều thành phần lipid máu, điểm

nổi bật của bất thường lipid máu ở bệnh nhân

đái tháo đường týp 2 là tăng hàm lượng

triglycerid và giảm hàm lượng HDL-C [3],

[11], [13]

Hoàng Trung Vinh (2004) thấy tỷ lệ tăng

Cholesterol là 61,90%, triglycerid tăng

59,04%, LDL-C tăng 68,57% [12] Nguyễn

Thị Khang tại Bệnh viện C–Thái Nguyên

(2009) thấy kết quả tương tự như các tác giả

trên: cholesterol ở giới hạn bệnh lý là 67,2% ;

triglycerid 59,0%; HDL-C 36,9% ; LDL-C

52,5% [6]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tăng

Cholesterol là 42,22% ; tăng triglycerid là

76,67% ; giảm HDL-C là 2,22% ; tăng

LDL-C là 38,89% Mặc dù kết quả trên là tốt hơn

so với các nghiên cứu khác nhưng tỷ lệ bệnh

nhân rối loạn thành phần lipid vẫn còn cao,

trong điều trị cần chú ý tới việc hướng dẫn

bệnh nhân chế độ ăn uống, giảm mỡ động vật,

đồng thời dùng thêm các thuốc chống rối loạn

lipid máu cho bệnh nhân

Kết luận:

Qua nghiên cứu 180 bệnh nhân đái tháo

đường typ 2 gồm 90 nam và 90 nữ điều trị

ngoại trú tại Phòng khám bệnh Bệnh viện A

Thái Nguyên, chóng t«i thÊy:

1 Tuổi mắc bệnh trung bình là 59,62  11,50;

chủ yếu là người trên 60 tuổi (48,89%)

Người làm ruộng chiếm 57,22% bệnh nhân

đái tháo đường Thời gian mắc bệnh từ 1 - 5

năm chiếm tỷ lệ cao nhất (76,67%) Bệnh

nhân có BMI trung bình chiếm 68,89% Tỷ lệ

bệnh nhân béo phì trung tâm là 42,78%

2 Về triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ bệnh nhân

có triệu chứng ăn nhiều là 12,22%; uống nhiều 7,20%; gày sút 16,10%; mệt mỏi 23,89%; có 130/180 bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng lâm sàng 77,22% có bệnh ở răng miệng, biến chứng mắt là 26,82%

3 Hàm lượng HbA 1 c trung bình là 6,93  0,98% Tỷ lệ bệnh nhân có hàm lượng HbA 1 c

ở mức tốt và chấp nhận được đạt 70% Glucose máu lúc đói trung bình là 7,96  2,43 mmol/l Tỷ lệ bệnh nhân có mức kiểm soát glucose máu tốt là 14,4%; kém là 67,78%

Tỷ lệ rối loạn lipid máu: tăng Cholesterol là 42,22%; tăng triglycerid 76,67%; giảm

HDL-C 2,22%; tăng LDL-HDL-C 38,89%

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Phạm Hoài Anh (2003), "Nghiên cứu rối loạn chuyển hoá lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị tại Bệnh viện Đa

khoa Trung ương Thái Nguyên", Luận văn thạc sỹ Y học, tr.30-45

[2] Bùi Thế Bừng (2004), "Nghiên cứu hàm lượng một số thành phần lipid máu và mối liên quan với biến chứng mãn tính thường gặp

ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2", Luận văn thạc sỹ Y học, tr 30-45

[3] Nguyễn Huy Cường, Tạ Văn Bình, Trần Đức Thọ và cộng sự (2002), "Điều tra dịch tễ bệnh đái tháo đường và giảm dung nạp

glucose khu vực Hà Nội 1999 - 2001", Hội nội tiết và đái tháo đường Việt Nam viện tim mạch Quốc gia, Chương trình nội tiết sau đại

học lần thứ 3, Hà Nội 2/08/2002, tr.1-15 [4] Đào Thị Dừa (2010), "Kiểm soát chuyển hóa bệnh nhân đái tháo đường kèm béo phì điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trung ương

Huế", Tạp chí y học thực hành số 703 , tr

5-9

[5] Hoàng Thị Đợi (2007), "Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường typ 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa Trung ương

Thái Nguyên năm 2006", Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, tr 20 – 41

[6] Nguyễn Thị Khang (2009), "Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2 bằng Diamicron kết hợp Metformin tại Bệnh

viện C Thái Nguyên", Luận án Bác sĩ chuyên khoa cấp 2, tr.33-45

Trang 7

[7] Nguyễn Thanh Mạnh, Nguyễn Hải Thủy

(2008), "Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng

kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo

đường cao tuổi", Kỷ yếu toàn văn các đề tài

khoa học, Hội nghị đái tháo đường nội tiết và

rối loạn chuyển hóa Miền Trung lần thứ VI,

tr 255-259

[8] Nguyễn Kim Lương, Thái Hồng Quang

(2000), "Bệnh mạch máu và rối loạn chuyển

hoá lipid ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2",

Tạp chí Y học thực hành số 3, tr 37-40

[9] Triệu Quang Phú (2006), "Nghiên cứu

đặc điểm lâm sàng và sự thay đổi hàm lượng

thành phần lipid máu ở bệnh nhân đái tháo

đường týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng

Sơn", Luận văn thạc sỹ Y học, tr.36-39

[10] Vũ Tiến Thăng (2004), "Nghiên cứu

hàm lượng HbA 1 c, insulin huyết thanh và mối

liên quan với một số chỉ số sinh hoá, lâm

sàng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2", Luận văn thạc sỹ Y học, tr 24-38

[11] Trần Đức Thọ, Lê Thị Thu Hà (1999), Nghiên cứu cường insulin, rối loạn chuyển hoá lipid và HbA 1 c ở người đái tháo đường

týp 2, Tổng hội Y Dược học Việt Nam, số

3/1999, tr 28-31

[12] Hoàng Trung Vinh, Nguyễn Bá Việt (2004), “Đánhgiá hiệu quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường týp 2 dựa vào nồng độ glucose

máu và HbA1C”, Y học thực hành, Đại hội nội tiết – ĐTĐHà Nội, (498), tr 96- 99

[13] American Diabetes Association (2007)

“Clinical Practice and recomenzymdation”,

Diabetes care 3, (Supp 1), pp S1-S22

SUMMARY

STUDY OF THE CLINICAL AND PARACLINICAL FEATURES OF TYP 2

DIABETES OUTPATIENTS AT THAI NGUYEN A HOSPITAL

Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy

Studying 180 type 2 diabetes outpatients at Hospital A Thai Nguyen hospital, the authors found:

1 The average age of patients were 59.62  11.50; 48.89% patients were over 60 old of age In outpatient clinics, the proportion of men and women is equally The farmer accounting for 57.22% of patients with diabetes Disease duration from 1 to 5 years accounted for 76.67% Most patients had an average BMI: 68.89% The rate of patients with central obesity were 42.78%

2 Regarding clinical symptoms, eat too much: 12.22%, 7.20% thirst; weight loss 16.10%; fatigue 23.89%; there are 130/180 patients without clinical symptoms 77.22% have dental disease, eye complications were 26.82%

3 The average HbA1c concentration was 6.93  0.98% The percentage of patients with HbA1c levels in good and acceptable level were 70% The average fasting blood glucose was 7.96 

2.43 The percentage of patients with good blood glucose level was 14.4%, poorer level was 67.78% The rate of dyslipidemia: Increased cholesterol was 42.22%, increased triglycerides was 76.67% and reduced HDL-C was 2.22%; increased LDL-C 38.89%

Keywords: Diabetes, outpatient patients, clinical symptoms, paraclinical, treatment, Hospital

A Thai Nguyen

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w