1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu đánh giá phẫu thuật nội soi nối thông túi lệ mũi qua đường mũi

7 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 219,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá kết quả của phương pháp phẫu thuật nội soi nối thông túi lệ mũi qua đường mũi trong điều trị bệnh viêm túi lệ mạn, đồng thời nhận xét về tình hình bệnh lý viêm túi lệ mạn ở bệnh viện Huế. Nghiên cứu trên tất cả những bệnh nhân bị viêm túi lệ mạn đến phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường mũi bằng phương pháp nội soi tại khoa mắt.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ PHẪU THUẬT NỘI SOI

NỐI THÔNG TÚI LỆ MŨI QUA ĐƯỜNG MŨI

NGÔ THỊ ANH TÀI, TRẦN ĐÌNH LẬP

Bệnh viện Trung ương Huế

VÕ LÂM PHƯỚC, TỐNG PHƯỚC HỘI

Bệnh viện Trung ương Huế

LÊ VIẾT MẪN, HOÀNG NGỌC CHƯƠNG

Trường ĐH Y Huế

TÓM TẮT Mục đích: Bước đầu đánh giá kết quả của phương pháp phẫu thuật nội soi nối thông túi lệ mũi qua đường mũi trong điều trị bệnh viêm túi lệ mạn, đồng thời nhận xét

về tình hình bệnh lý viêm túi lệ mạn ở bệnh viện Huế

Phương pháp: Nghiên cứu trên tất cả những bệnh nhân bị viêm túi lệ mạn đến phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường mũi bằng phương pháp nội soi tại khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế từ 10-2003 đến 7-2004 với tiêu chuẩn bệnh nhân phải trên

10 tuổi, hai lệ quản trên và dưới không bị tắc Bệnh nhân được cắt rút ống silicon 3 tháng sau mổ

Kết quả: gồm 29 mắt của 27 bệnh nhân viêm túi lệ mạn được điều trị phẫu thuật nội soi nối thông túi lệ-mũi qua đường mũi, qua quá trình theo dõi, tỉ lệ thất bại 2 tuần sau mổ là 1/29 (3,70%); 4 tháng sau mổ là 1/18 (7,14%) Thời gian phẫu thuật trung bình khoảng 45 phút đến 30 phút Không có trường hợp nào xuất huyết trong hoặc sau

mổ

Kết luận: Phẫu thuật nội soi nối thông túi lệ mũi qua đường mũi là một phương pháp phẫu thuật tiên tiến với nhiều ưu điểm như không có sẹo ở mặt, nhanh, ít chảy máu, thời gian hậu phẫu ngắn, chi phí không quá đắt, kết quả phẫu thuật buớc đầu khá cao; tuy nhiên cần phải có phương tiện nội soi và cần sự hợp tác của khoa Tai Mũi Họng

Bệnh viêm túi lệ là một bệnh

không thật phổ biến nhưng gây triệu

chứng chảy nước mắt và nhầy mủ ảnh

hưởng không ít đến tâm lý và sinh hoạt

do vậy việc tìm hiểu các đặc điểm lâm

sàng và tìm phương pháp giải quyết bệnh

là cần thiết

Để điều trị có nhiều phương pháp

đã được áp dụng như:

- Thông lệ đạo: chỉ cho kết quả tạm thời vì bệnh thường tái phát

Trang 2

- Đặt ống tạm thời: phương pháp này

đạt kết quả tốt đối với tắc lệ đạo bẩm

sinh (90,9%) [5], riêng tắc lệ đạo mắc

phải thì tỷ lệ thành công thấp (60%) [3]

- Cắt chỗ chẹt, cắt bỏ túi lệ: là

phương pháp không triệt để

- Nối thông túi lệ mũi qua đường da:

là phương pháp phẫu thuật cổ điển có tỷ

lệ thành công từ 85-95% [1] [10], nhưng

có đường rạch da cạnh mũi do đó đã để

lại sẹo; trong khi bệnh nhân viêm túi lệ

mạn đa phần là bệnh nhân nữ (tỷ lệ

nữ/nam là 5/1) [2] [10] nên vấn đề thẩm

mỹ cũng cần được lưu ý

- Nối thông túi lệ mũi qua đường mũi

dưới nội soi: là phương pháp đã được áp

dụng gần đây ở các nước tiên tiến với tỷ

lệ thành công 90-95% [4] [6] [7] [8], tuy

nhiên chưa có báo cáo nào cho thấy đã

được áp dụng tại Việt Nam Với đường

mổ qua mũi không để lại sẹo ở ngoài da;

kèm các ưu điểm như nhanh gọn, ít chảy

máu, lượng thuốc tê được sử dụng ít, có

thể quan sát trực tiếp các bệnh lý mũi,

đồng thời nhờ việc cải tiến kỹ thuật giúp

giảm kinh phí mổ; chúng tôi mạnh dạn áp

dụng phương pháp phẫu thuật nội soi nối

thông túi lệ mũi qua đường mũi và bước

đầu đánh giá kết quả của phẫu thuật này

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng:

Tất cả bệnh nhân bị viêm túi lệ

mạn đến phẫu thuật nối thông túi lệ mũi

tại khoa Mắt Bệnh viện Trung ương Huế

từ 10-2003 với tiêu chuẩn:

- Bệnh nhân trên 10 tuổi

- Hai lệ quản trên và dưới không tắc

2 Phương pháp:

- Phương tiện gồm: máy nội soi (với camera kỹ thuật số, nguồn sáng, dây dẫn sợi quang, ống kính thẳng 00, màn hình, máy cắt nạo), lưỡi dao "tricut", kìm Blaskeley, búa đục xoang, ống silicon, que thông lệ đạo đã được cải tiến, dây dẫn sợi quang, dao cắt niêm mạc

- Phương pháp phẫu thuật: kỹ thuật tiến hành gồm các bước:

+ Đặt bấc có tẩm Xylocain và Naphazolin vào hốc mũi ở cuống mũi giữa 5 phút trước khi tiến hành phẫu thuật

+ Gây tê tại chỗ 4ml Xylocain 2% nhánh dưới hố và nhánh mũi

+ Nhỏ thuốc tê Dicain 1% ở mắt + Rút bấc hốc mũi, gây tê 2ml Xylocain 2% có pha Adrenalin 1/100000 vào niêm mạc mũi đúng vị trí mà đèn sợi quang đã đánh dấu

+ Dùng lưỡi dao Tricut gắn vào máy cắt nạo niêm mạc mũi đúng vị trí đã được gây tê kích thước 1 x 1cm

+ Dùng đục xoang đục tạo cửa sổ xương khoảng 1 x 1 cm

+ Dùng dao xẻ niêm mạc túi lệ dọc

bờ cửa sổ xương

+ Dùng kìm Blaskeley cong cắt niêm mạc túi lệ qua đường xẻ

+ Trong quá trình phẫu thuật dùng ống hút hút máu nếu có máu rướm + Đặt ống silicon 2 đầu vào lỗ lệ trên

và dưới, qua túi lệ vào hốc mũi, cố định đầu dưới silicon vào tiểu trụ

Trang 3

+ Đặt bấc dầu vào hốc mũi đề phòng

chảy máu (lưu lại 24 - 48 tiếng)

3 Đánh giá kết quả qua 3 yếu tố:

- Chảy nước mắt: + Không chảy: C0

+ Bớt chảy: C1 + Chảy như cũ: C2

- Ấn túi lệ: + Không có nhầy

mủ: A0

+ Có nhầy mủ: A1

- Bơm lệ đạo: + Bơm thông tốt:

BT

+ Bơm không thông:

BX

- Tiêu chuẩn đánh giá:

+ Tốt : C0, A0, BT

+ Trung bình : C1- C2, A0, BT

+ Xấu : C2, A1, BX

4 Xử lý số liệu bằng phương pháp

thống kê

KẾT QUẢ

Nghiên cứu trên 27 bệnh nhân với

29 mắt và theo dõi với thời gian từ 1

tháng đến 9 tháng, kết quả như sau:

- Giới: 1 nam / 26 nữ

- Tuổi trung bình: 47,19  14,82

(nhỏ nhất là 15 tuổi và lớn nhất là 74

tuổi)

- Thời gian bệnh trung bình là 55,83

 8,49 tháng (ngắn nhất là 6 tháng và lâu

nhất là 240 tháng)

- Số lần thông lệ đạo trung bình: 3,10  3,54 (ít nhất: 0, nhiều nhất: 10 lần)

- Thể lâm sàng: + Nhầy mủ: 24

+ Mủ: 5

- Bệnh lý tai mũi họng:

+ Vẹo vách ngăn: 5 + Viêm xoang: 5

- Nuôi cấy vi khuẩn: 9 ca (-) và 20

ca (+) trong đó: + Streptoccoccus: 5

+ Hemophilus:4 + Staphilococcus: 3 + Moraxella: 2 + Các loại vi khuẩn khác: 5 + Nấm Aspergillus: 1

- Các bệnh lý mắt: 100% mắt đều bị viêm kết mạc mạn

- Khó khăn trong mổ:

+ Hẹp hốc mũi do vẹo vách ngăn: 5 + Chảy máu: 0

- Biến chứng sau mổ:

+ Tước tiểu trụ: 2 + Tước lỗ lệ: 1

- Kết quả phẫu thuật:

Bảng 1: Kết quả phẫu thuật

Thời gian

theo dõi

Trang 4

2 tuần 27 1 1 (3,70%) 29

BÀN LUẬN

Về mặt lâm sàng, tần suất giới và

tuổi của các bệnh nhân trong nghiên cứu

này cũng tương tự như các nghiên cứu

trong và ngoài nước Bệnh nhân nữ bao

giờ cũng chiếm đa số: 96,29% (A Reny:

83,33% ; P.N.Đông: 85/97) [1] [10] Đa

số tác giả cho rằng nữ giới dễ tắc lệ đạo

hơn nam giới vì lòng ống lệ mũi hẹp hơn

Độ tuổi thường là trung niên (trung

bình là 47,19  14,82) , nhưng có thể gặp

từ 15 đến 74 tuổi Nhóm tuổi thường gặp

nhất là từ 26-55 tuổi: 19/27 chiếm tỉ lệ

70,37% cũng tương tự nghiên cứu của

P.N.Đông: 80/97 chiếm tỉ lệ 82,47%)

Tuy nhiên cần lưu ý rằng tuổi được ghi

nhận ở trên chỉ là tuổi bệnh nhân lúc

được điều trị, còn tuổi bệnh nhân lúc bắt

đầu mắc bệnh thì sớm hơn rất nhiều Hầu

hết bệnh nhân đều mang bệnh VTL khá

lâu, trung bình là 4 đến 5 năm, có khi

trên 20 năm (P.N.Đông: trung bình

khoảng 5 năm, lâu nhất 35 năm) Sở dĩ

bệnh nhân để bệnh kéo dài có lẽ do

chúng ta thiếu câc trung tâm nhãn khoa

mổ được nối thông túi lệ mũi, bệnh nhân

lại sợ phẫu thuật nhất là khi nghe nói có

thể để lại sẹo ở vùng mặt Do đó các

bệnh nhân thường chấp nhận phương

pháp điều trị nữa vời là thông lệ đạo ở tuyến cơ sở Với cách điều trị này, bệnh nhân chỉ cảm thấy đở trong thời gian rất ngắn (vài ngày), ngoài ra còn có thể gây các hậu quả xấu cho tiến triển bệnh như gây bội nhiễm, hẹp lệ quản Trong lô nghiên cứu của chúng tôi số lần bệnh nhân đã được thông lệ đạo trung bình là trên 3 lần, có trường hợp lên đến 10 lần

Số liệu trên của chúng tôi còn thấp hơn nhiều so với báo cáo của P.N.Đông: tính trung bình mỗi mắt được thông lệ đạo 13 lần [1]

Tất cả các bệnh nhân trong lô nghiên cứu đều bị viêm túi lệ , trong đó

có 5 ca ấn túi lệ ra toàn mủ đặc, các ca còn lại khi ấn túi lệ ra dịch nhầy mủ Chúng tôi đã lấy bệnh phẩm ngay khi ấn túi lệ tại phòng vi trùng, kết quả nuôi cấy

vi khuẩn và nấm dương tính trong 20 mắt

và không mọc trong 9 mắt Như vậy kết quả dương tính khá cao: 68,97% so với kết quả nuôi cấy trong báo cáo của P.N Đông: chỉ dương tính 22% Thứ tự loại

vi khuẩn thường gặp trong lô nghiên cứu chúng tôi là: Streptoccoccus, Hemophilus, Staphilococcus, Moraxella ; hơi khác với các nghiên cứu ở Hà nội: theo thứ tự thường gặp

Trang 5

Moraxella, Staphilococcus,

Streptoccoccus, Pseudomonas

aeruginosa Đặc biệt có một ca nuôi cấy

có kết quả là nấm Aspergillus Trong kết

quả kháng sinh đồ, Staphilococcus

aureus là vi khuẩn đề kháng nhiều loại

kháng sinh thông dụng như Ofloxacin,

Tobramycin, Gentamycin, Tetramycin,

Erythromycin và chỉ nhạy cảm với các

kháng sinh Amikacin, Vancomycin,

Oxacillin Các loại vi khuẩn khác có thể nhạy cảm với các loại kháng sinh thông thường ngoại trừ Bactrim, Tetracyclin Trường hợp nuôi cấy có nấm Aspergillus, trong bệnh phẩm còn phát hiện thêm vi khuẩn Burkholderia cepacia Do điều kiện khách quan, chúng tôi không làm được kháng sinh đồ đối với nấm

Về mặt phẫu thuật, chúng tôi nhận thấy

rằng phương pháp mổ nối túi lệ mũi qua

đường mũi bằng nội soi khá nhanh so với

phương pháp mổ qua đường da, do bớt

được thì rạch da, thì khâu niêm mạc túi

lệ với niêm mạc mũi và khâu da Thời

gian phẩu thuật trung bình khoảng 45

phút, tuy nhiên khi đã khá thành thạo thì

thời gian phẫu thuật thường dưới 30

phút Chúng tôi nghĩ rằng thời gian phẫu

thuật rút ngắn còn một phần do it phải xử

lý xuất huyết thường gặp trong phương

pháp mổ qua đường da Chúng tôi gây tê

niêm mạc mũi bằng nhét bấc tẩm

naphazolin và xylocain; sau đó tiêm dưới

niêm mạc xylocain và adrenalin

1/100.000 Trong 29 mắt được mổ,

không có trường hợp nào bị xuất huyết

niêm mạc mũi gây trở ngại cho phẫu

thuật hoặc phải hoãn cuộc mổ như trong

một số trường hợp mổ qua đường da

Theo P.Klap và J.A Bernard, nếu có

chảy máu có thể dễ dàng cầm máu bằng

điện đông 2 cực hoặc nhét bấc tẩm

Adrenalin vào chỗ chảy máu trong 4 -5 phút [9]

Việc mở vách xương để bộc lộ thành túi lệ cũng có thuận lợi hơn; do túi

lệ được chiếu sáng bằng sợi quang, vách xương sẽ được mở ở vị trí sáng nhất, vị trí đối xứng với chỗ lệ quản chung đổ vào túi lệ Vùng này thường tương ứng với vị trí phía trên rể bám của cuống mũi giữa, hiếm khi nằm ngay hoặc dưới rể này Nếu vị trí lỗ xương thấp, không ngang mức lệ quản chung, sẽ làm đường thoát nước mắt xuống mũi sẽ bị gãy khúc theo hình lưỡi lê và dễ bị tắc nghẽn [9] Niêm mạc mũi vùng này sẽ được cắt bỏ bằng dao, tuy nhiên chúng tôi thích dùng dụng cụ "cắt nạo" của khoa tai mũi họng trong mổ xoang vì nhanh hơn Dùng đục

để phá thành xương rồi mở rộng lỗ xương có đường kính khoảng 10mm Tuy nhiên, trong trường hợp khe mũi bị hẹp do nhiều nguyên nhân, việc mở xương có thể hơi khó hơn Trường hợp thất bại của chúng tôi gặp ở bệnh nhân

có tiền sử viêm xoang và vẹo vách ngăn,

Trang 6

lỗ xương mở không được rộng và nằm ở

vị trí thấp hơn

Trong thì cắt thành trong túi lệ, nên

dùng que thông lệ đạo để nông thành

trong túi lệ thay cho ống sợi quang; vì

khi rạch thành túi lệ có thể làm tổn hại

sợi quang Đường rạch bắt đầu từ vị trí

cao nhất đến vị trí thấp nhất theo bờ

trước và dưới của cửa sổ xương, sau đó

tiến hành cắt thành trong túi lệ bằng kéo

hoặc kìm bấm

Thì cuối là đặt ống silicon hai đầu

qua hai lỗ lệ trên và dưới, qua lệ quản

chung vào hốc mũi để duy trì đường

thông nước mắt Thông thường, các hảng

sản xuất bán ống silicon hai đầu đẫ gắn

sẳn hai nòng kim loại để dễ thông qua lệ

quản; nhưng giá thành rất cao so với ống

silicon không có nòng Chúng tôi đã có

sáng kiến dùng que thông lệ đạo cũ mài

nhỏ một đầu và có ngấn để đủ đút lọt

lòng ống silicon nhưng không bị sút khi

đút vào lỗ lệ, lệ quản Ngoài ra với một

ống silicon không có nòng, chúng tôi cắt

ra làm hai đoạn cũng đủ dùng cho hai

bệnh nhân Như vậy chúng tôi đã giúp bệnh nhân giảm được chi phí mua ống silicon gần mười lần Lưu ý khi cố định ống silicon vào tiểu trụ, không nên kéo dây quá căng và hai dây không nên xuyên qua tiểu trụ quá gần nhau vì có thể làm tước lỗ lệ hoặc tước tiểu trụ

KẾT LUẬN

Tuy mới bắt đầu nghiên cứu trên

số lượng bệnh nhân chưa nhiều và theo dõi chưa dài, nhưng có thể nói rằng phẫu thuật nối thông túi lệ mũi bằng phương pháp nội soi qua đường mũi là một phương pháp tiên tiến với ưu điểm là không có sẹo ở mặt, nhanh, ít chảy máu, thời gian hậu phẫu ngắn, chi phí cuộc mổ không qua đắt Kết quả phẫu thuật bước đầu khá cao và ít biến chứng Tuy nhiên giới hạn của phẫu thuật là cần phải có phương tiện nội soi và cần có sự hợp tác của khoa Tai Mũi Họng

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 PHẠM NGỌC ĐÔNG, TÔ THỊ OANH (1996): Nghiên cứu phẫu thuật nối

thông túi lệ-mũi cải tiến Luận án thạc sĩ y học Trường Đại học Y khoa

Hà Nội

2 American Academy of Ophthalmology (1998-1999) Section 7

3 CAMPELL C.B, FLANAGAN J.C., SCHAEFER A.J (1987): Acquired

lacrimal disorder, Ophthalmic plastic and reconstructive surgery Mosby,

St Louis, chapter 49: 955-967

Trang 7

4 MAY A., FRIES U., ZUBCOV-IVANTSCHEFF A., LUCHTENBERGER M., WEBER A (2002): Endoillumination-guided intranasal microscospic

dacryocystorhinostomy for dificult cases; ORL J Otorhinolaryngol Relat

Spec., 64 (1): 11-5

5 PASHY R.C., RATHBUN J.E (1979): Silicone tube intubation of the

lacrimal drainage system; Arch Ophthalmol., 97: 1318-1322

6 WATKINS LM., JANFAZA P., RUBIN PA (2003): The evolution of

endonasal dacryocystorhinostomy; Surv Ophthalmol., 48 (1): 73-84

7 WEIDENBECHER M., HOSEMANN W., BUHR W (1994): Endoscopic

endonasal dacryocystorhinostomy: result in 56 patients; Ann Otol Rhinol

Laryngol, 103 (5pt1): 363-367

8 ZILELIOGLU G., TEKELI O., UGURBA SH., AKINER M., AKTURK T., ANADOLU Y (2002): Results of endoscopic endonasal non-laser

dacryocystorhinostomy; Doc Ophthalmol., 105 (1): 57-62

9 P KLAP, J.A BERNARD (2001): La dacryocystorhinostomie, GE Paris

10 A.RENY, J.L GEORGE (1981): Les stenoses du canal lacrymo-nasal; EMC (Paris), 21170 B20 - page 1-2

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w