1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HbA1c, glucose huyết đói và glucose huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp 75g glucose trong chẩn đoán đái tháo đường

7 122 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 423,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện những mục tiêu sau (1) Đánh giá tỷ lệ đái tháo đường trong dân số nghiên cứu tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (Thành phố Hồ Chí Minh) theo các tiêu chí chẩn đoán dựa trên glucose huyết tương tĩnh mạch khi đói, HbA1c, glucose huyết tương tĩnh mạch hai giờ sau nghiệm pháp dung nạp 75g glucose; (2) xác định xét nghiệm hoặc tổ hợp xét nghiệm nào cho kết quả chẩn đoán bệnh đái tháo đường gần với tiêu chuẩn vàng chẩn đoán đái tháo đường trong nghiên cứu này là bệnh nhân phải thỏa cả ba trị số.

Trang 1

VÀ GLUCOSE HUYẾT 2 GIỜ SAU NGHIỆM PHÁP DUNG NẠP   75G GLUCOSE TRONG CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 

Trần Quang Khánh* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: (1) Đánh giá tỷ lệ đái tháo đường trong dân số nghiên cứu tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương 

(Thành phố  Hồ Chí Minh) theo các tiêu chí chẩn đoán dựa trên glucose huyết tương tĩnh mạch khi đói, HbA1c,  glucose huyết tương tĩnh mạch hai giờ sau nghiệm pháp dung nạp 75g glucose; (2) Xác định xét nghiệm hoặc tổ  hợp xét nghiệm nào cho kết quả chẩn đoán bệnh đái tháo đường gần với tiêu chuẩn vàng chẩn đoán đái tháo  đường trong nghiên cứu này là bệnh nhân phải thỏa cả ba trị số.  

Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang bao gồm các đối tượng trên 18 tuổi chưa từng được chẩn đoán 

đái tháo đường cho đến thời điểm nghiên cứu. Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường được dựa trên tiêu chí chẩn  đoán do Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ đề nghị năm 2009 và được Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới và Tổ  chức Sức khỏe Thế giới chấp thuận năm 2011: (1) glucose huyết tương tĩnh mạch khi đói ≥ 7 mmol/L, (2) glucose  huyết tương hai giờ sau uống 75g glucose ≥ 11 mmol/L, (3) HbA1c ≥ 6,5%. Xét nghiệm HbA1c được thực hiện  bằng phương pháp sắc k ý lỏng cao áp.  

Kết quả: có 1010 đối tượng tham gia nghiên cứu bao gồm 721 (71,4%) nữ và 298 (28,6%) nam. Độ tuổi 

trung bình của dân số nghiên cứu là 51,1 tuổi. Cân nặng trung bình 58,9 kg và chỉ số khối cơ thể trung bình là  23,9. Tỷ lệ đái tháo đường trong dân số nghiên cứu lần lượt là 5,8% (sử dụng tiêu chí glucose huyết khi đói),  12% (sử dụng tiêu chí glucose huyết tương hai giờ sau uống 75g glucose), 8,7% (nếu sử dụng tiêu chí HbA1c), 

và 4,1% (sử dụng cả ba tiêu chí). Tổ hợp xét nghiệm gồm glucose huyết khi đói và HbA1c được xem là tổ hợp xét  nghiệm cho kết quả gần đúng nhất với “tiêu chuẩn vàng” (4,5% so với 4,1%).  

Kết luận: Tỷ lệ đái tháo đường sử dụng tiêu chí glucose huyết tương khi đói gần tương đồng nhất với tỷ lệ 

đái  tháo  đường  được  chẩn  đoán  theo “tiêu  chuẩn  vàng”  (sử  dụng  cả  ba  tiêu  chí).  Dùng  tiêu  chí  HbA1c  đơn  thuần làm tăng gấp đôi tỷ lệ đái tháo đường so với tỷ lệ theo “tiêu chuẩn vàng”. Dùng tiêu chí nghiệm pháp  dung nạp glucose đơn thuần làm tăng gấp ba tỷ lệ đái tháo đường được chẩn đoán theo “tiêu chuẩn vàng”.Tổ  hợp hai xét nghiệm glucose huyết khi đói và HbA1c là phù hợp để rút ngắn thời gian chẩn đoán, tiết kiệm chi phí 

và thời gian đi lại của bệnh nhân. 

Từ khóa: đái tháo đường, glucose huyết khi đói, nghiệm pháp dung nạp glucose, HbA1c 

ABSTRACT 

ROLE OF HBA1C, FASTING PLASMA GLUCOSE, AND ORAL GLUCOSE TOLERANCE TEST 

 IN THE DIAGNOSIS OF DIABETES MELLITUS 

Tran Quang Khanh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ No 4 ‐ 2014: 37 ‐ 43 

Objective:  (1)  to  evaluate  the  prevalence  of  diabetes  mellitus  in  the  studied  population  at  Nguyen  Tri 

Phuong hospital (Ho Chi Minh City), with diagnosis made by criteria of fasting plasma glucose, HbA1c, and two  hour plasma glucose in an oral glucose tolerance test; (2) to determine which test or which combination of tests  could  yield diabetes prevalence  close  to  that given  by gold  standard  when  all  of  these  above‐mentioned  criteria 

were met. 

* Bộ Môn Nội Tiết ‐ Đại Học Y Dược TP. HCM  

Tác giả liên lạc: TS.BS Trần Quang Khánh,   ĐT: 0903882968,   Email: khanh.tran007@yahoo.com 

Trang 2

mellitus  before.  Diagnosis  was  made  based  on  diagnostic  criteria  for  diabetes  mellitus  suggested  by  American  Diabetes  Association  in  2009  and  accepted  later  by  International  Diabetes  Federation  and  World  Health  Organization in 2011: (1) fasting plasma glucose ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L), (2) 2‐h plasma glucose ≥ 200 mg/dl  (11.1  mmol/l)  during  an  oral  glucose  tolerance  test,  (3)  HbA1c  ≥  6.5%.  HbA1c  was  measured  by  high  performance liquid chromatography method. 

Results: There are 1010 participants in our study, including 721 (71.4%) females and 298 (28.6%) males. 

The average age of these subjects was 51.1 years. They had an average weight of 58.9 kg and an average body mass  index of 23.9. The prevalence of diabetes mellitus in our population was 5.8%, 12%, 8.7% and 4.1% when we  used the diagnostic criteria for fasting plasma glucose, 2‐hour plasma glucose in an oral glucose tolerance test,  HbA1C, and all of these three tests, respectively. The combination of fasting plasma glucose and HbA1c gave us  the closest prevalence to that given by the “gold standard test” (4.5% compared to 4.1%). 

Conclusion:  The  prevalence  of  diabetes  mellitus  using  fasting  plasma  glucose  criteria  was  the  closest 

compared to that given by the “gold standard” (using all of three criteria). Using HbA1c alone as a diagnostic test  doubled the diabetes prevalence that was noted according to the gold standard test. Using oral glucose tolerance  test alone as a diagnostic test tripled the diabetes prevalence noted based on the gold standard test. Combination of  fasting  plasma  glucose  and  HbA1c  as  a  diagnostic  test  was  appropriate  for  application,  which  could  make  diagnosis faster and save time, money for the patients as well. 

Keywords: diabetes mellitus, fasting plasma glucose, oral glucose tolerance test, HbA1C 

MỞ ĐẦU 

Bệnh đái tháo đường không chỉ là một trong 

những  bệnh  không  lây nhiễm thường gặp nhất 

mà  còn  được  xem  là  một  đại  dịch  trong  thế  kỷ 

21. Việt nam là một quốc gia đang phát triển và 

do đó cũng là một trong số những quốc gia có tỷ 

lệ đái tháo đường tăng rất nhanh. Liên đoàn Đái 

tháo đường Thế giới ước tính đến năm 2025 Việt 

nam sẽ nằm trong số 10 quốc gia có dân số đái 

tháo đường cao nhất Á châu. Cùng với các biến 

chứng mạn tính, bệnh đái tháo đường thật sự là 

một  gánh  nặng  kinh  tế  không  những  cho  bản 

thân người bệnh và gia đình mà còn là một gánh 

nặng cho nền kinh tế y tế nói chung. Vì vậy, việc 

chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường mang một 

tầm  quan  trọng  rất  lớn  trong  việc  hoạch  định 

chính  sách  chăm  sóc  sức  khỏe  cộng  đồng  của 

ngành y tế. 

Tiêu  chí  glucose  huyết  tương  tĩnh  mạch 

nhịn đói ít nhất 8 giờ qua đêm (≥ 7 mmol/L) và 

tiêu  chí  glucose  huyết  tương  bất  kỳ  (≥  11,1 

mmol/L)  nếu  có  kèm  theo  triệu  chứng  lâm 

sàng của tình trạng tăng glucose huyết thường 

được  áp  dụng  nhất  trên  lâm  sàng.  Trong  khi 

đó, glucose huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung  nạp 75 g glucose (≥ 11,1 mmol/L) được xem là  tiêu  chuẩn  vàng  trong  chẩn  đoán  bệnh  đái  tháo  đường.  Tuy  nhiên,  nghiệm  pháp  dung  nạp glucose rất phức tạp về mặt chuẩn bị bệnh  nhân,  tốn  nhiều  thời  gian  và  ít  khi  được  sử  dụng trên lâm sàng. Ngoài ra, tính lặp lại của  nghiệm  pháp  này  rất  thấp,  chỉ  khoảng  53%‐ 58%(5).  Glucose  huyết  mặc  dù  là  một  xét  nghiệm  đơn  giản  và  rẻ  tiền  nhưng  lại  bị  tác  động  bởi  nhiều  yếu  tố  khác  như  sử  dụng  thuốc,  tình  trạng  stress,  bệnh  đi  kèm,  chế  độ 

ăn, vận động thể lực, kỹ thuật xét nghiệm, Do 

đó cũng như nghiệm pháp dung nạp glucose,  tính  lặp  lại  của  xét  nghiệm  này  cũng  không  cao,  chỉ  khoảng  70%(9).  Quan  trọng  hơn,  glucose huyết chỉ phản ảnh nồng độ glucose ở  một thời điểm nhất định và không tương hợp  với glucose huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung  nạp 75 g glucose(15). Trước các thách thức này, 

từ năm 2009, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ  (ADA) đã chính thức đề nghị đưa xét nghiệm  HbA1c  (≥  6,5%)  vào  tiêu  chí  chẩn  đoán  và  được sự chấp thuận của Tổ chức Sức khỏe Thế  giới (WHO) và Liên đoàn Đái tháo đường thế 

Trang 3

điểm  hơn  glucose  huyết  tương  khi  đói  và 

glucose  huyết  2  giờ  sau  nghiêm  pháp  dung 

nạp  glucose,  xét  nghiệm  HbA1c  lại  đòi  hỏi 

những tiêu chuẩn khắt khe về việc chuẩn hóa 

theo  phương  pháp  đã  dùng  trong  các  nghiên 

cứu  DCCT/UKPDS.  Một  phân  tích  gộp  cho 

thấy  điểm  cắt  HbA1c  để  chẩn  đoán  đái  tháo 

đường  không  hằng  định.  HbA1c  cũng  phụ 

thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, giới, và nhất 

là chủng tộc(1).  

Tại  Việt  nam  cho  đến  thời  điểm  hiện  tại, 

glucose  huyết  khi  đói  vẫn  được  xem  là  xét 

nghiệm  đầu  tay  để  chẩn  đoán  bệnh  đái  tháo 

đường. Năm 2004, một nghiên cứu sử dụng tiêu 

chí này đã cho kết quả tỷ lệ bệnh đái tháo đường 

tại Thành phố Hồ chí Minh là 6,6%(6). Năm 2010, 

một  nghiên  cứu  khác  cũng  tại  Thành  phố  Hồ 

Chí  Minh  sử  dụng  tiêu  chí  glucose  huyết  2  giờ 

sau  nghiệm  pháp  uống  75g  glucose  đã  cho  kết 

quả tỷ lệ bệnh đái tháo đường là 11%(11). Chưa có 

nghiên  cứu  nào  sử  dụng  HbA1c  như  một  xét 

nghiêm duy nhất để chẩn đoán đái tháo đường 

theo khuyến cáo của các hiệp hội chuyên ngành 

và Tổ chức sức khỏe Thế giới. Trong nghiên cứu 

này, glucose huyết khi đói, glucose huyết hai giờ 

sau  nghiệm  pháp  dung  nạp  75g  glucose  và 

HbA1c  được  sử  dụng  để  chẩn  đoán  bệnh  đái 

tháo đường. Chúng tôi sẽ đánh giá tỷ lệ đái tháo 

đường theo từng tiêu chí chẩn đoán và xác định 

xét  nghiệm  hay  tổ  hợp  xét  nghiệm  nào  có  kết 

quả  gần  tương  đồng  với  tỷ  lệ  đái  tháo  đường 

dựa trên tiêu chí thỏa cả ba trị số glucose huyết 

khi  đói,  HbA1c  và  glucose  huyết  hai  giờ  sau 

nghiệm pháp dung nạp glucose. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  gồm  hai  mục 

tiêu:  (1)  xác  định  tỷ  lệ  đái  tháo  đường  theo 

từng tiêu chí chẩn đoán gồm glucose huyết khi 

đói,  HbA1c  và  glucose  huyết  hai  giờ  sau 

nghiệm pháp dung nạp glucose và (2) xác định 

xét  nghiệm  hoặc  tổ  hợp  xét  nghiệm  nào  cho 

kết  quả  chẩn  đoán  bệnh  đái  tháo  đường  gần 

với tiêu chuẩn vàng chẩn đoán đái tháo đường 

trong  nghiên  cứu  này  là  bệnh  nhân  phải  thỏa 

cả ba trị số.  

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 

Đây là một nghiên cứu cắt ngang bao gồm 

1010  đối  tượng  từ  18  đến  85  tuổi  tham  gia.  Thông  báo  tuyển  đối  tượng  nghiên  cứu  được  đăng tải trên phương tiện truyền thông và báo  chí  hai  tháng  trước  khi  tiến  hành.  Các  đối  tượng là người chưa từng được chẩn đoán đái  tháo  đường  từ  trước  đến  thời  điểm  tham  gia  nghiên  cứu,  không  sử  dụng  bất  kỳ  một  loại  thuốc  điều  trị  đái  tháo  đường  nào,  không  có  bệnh lý về thận. Các đối tượng sẽ được phỏng  vấn, ghi nhận các chỉ số nhân trắc học và thực  hiện  các  xét  nghiêm  cận  lâm  sàng.  Các  xét  nghiêm  cận  lâm  sàng  bao  gồm  glucose  huyết  tương  tĩnh  mạch  nhịn  đói  ít  nhất  8  giờ  qua  đêm  (đã  được  ghi  rõ  trong  thông  báo  tuyển  chọn),  HbA1c,  và  glucose  huyết  2  giờ  sau  khi  uống 75g glucose sau khi thỏa thuận tham gia  nghiên  cứu  được  ký.  Các  đối  tượng  tham  gia  nghiên cứu sẽ được lấy máu tĩnh mạch khi đói 

để thực hiện xét nghiệm glucose huyết khi đói 

và HbA1c. Sau đó, đối tượng tham gia nghiên  cứu  được  cho  uống  250ml  dung  dịch  glucose  30%  và  được  ngồi  nghỉ  ngơi  tại  chỗ.  Xét  nghiệm  glucose  huyết  được  thực  hiện  lần  thứ  nhì sau 120 phút và được xem là glucose huyết 

2 giờ sau khi uống 75g glucose. Tất cả các mẫu  xét nghiệm sẽ được vận chuyển ngay và được  phân tích tại Trung tâm Medic Thành phố Hồ  Chí  Minh.  HbA1c  được  tiến  hành  phân  tích  bằng  phương  pháp  sắc  ký   lỏng  cao  áp  (high  pressure liquid chromatography).  

KẾT QUẢ 

Bảng  1  trình  bày  đặc  điểm  chung  của  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu.  Các  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu  có  độ  tuổi  trung  bình  là 

51, chỉ số khối cơ thể ở mức trung bình, không  tăng  huyết  áp,  không  đái  tháo  đường  theo  cả 

ba  tiêu  chí  glucose  huyết  khi  đói,  HbA1c  và  glucose  huyết  hai  giờ  sau  nghiệm  pháp  dung  nạp glucose. 

Trang 4

Trung vị (*) min max SE

Tuổi (năm) 51 18 85 0,3

Chiều cao (mét) 1,56 1,34 1,83 0

Cân nặng (kg) 58 31 121 0,32

BMI (kg/m2) 23,73 14,67 42,86 0,1

Huyết áp tâm thu (mmHg) 120 90 190 0,42

Huyết áp tâm trương

(mmHg)

70 60 100 0,26

Vòng eo (cm) 81 54 132 0,3

Glucose huyết khi đói

(mmol/L)

5,1 3,6 21,3 0,05

HbA1c (%) 5,4 3,9 14 0,03

Glucose sau 120 phút

(mmol/L)

6,7 2,8 35,1 0,13

(*) Biểu diễn bằng trung vị do các biến số không tuân theo 

luật phân phối chuẩn (ShapiSro‐Wilk normaliti test, p < 

0,05). 

Chúng tôi cũng ghi nhận có sự tương quan ở 

mức độ trung bình giữa các trị số glucose huyết 

khi đói, HbA1c và glucose huyết hai giờ sau khi 

làm nghiệm pháp dung nạp glucose (r=0,45, p < 

0,0001). 

Tỷ  lệ  đái  tháo  đường  trong  dân  số  nghiên 

cứu  được  ghi  nhận  trong  bảng  2.  Nếu  chỉ  sử 

dụng  tiêu  chí  glucose  huyết  khi  đói  để  chẩn 

đoán  thì  tỷ  lệ  đái  tháo  đường  trong  dân  số 

nghiên  cứu  là  5,8%.  Nếu  chỉ  sử  dụng  tiêu  chí 

HbA1c để  chẩn đoán thì tỷ lệ đái tháo đường 

sẽ  là  8,7%.  Nếu  chỉ  sử  dụng  nghiệm  pháp 

dung  nạp  glucose  để  làm  tiêu  chí  chẩn  đoán 

thì  tỷ  lệ  đái  tháo  đường  sẽ  là  12%.  Nếu  chẩn  đoán  đái  tháo  đường  phải  thỏa  cả  ba  tiêu  chí  chẩn  đoán  glucose  huyết  khi  đói,  HbA1c  và  nghiệm  pháp  dung  nạp  glucose  thì  tỷ  lệ  đái  tháo đường sẽ là 4,1%. 

 

Hình 1. Mối tương quan giữa glucose huyết khí đói, 

HbA1c và glucose huyết hai giờ sau nghiệm pháp  dung nạp glucose.  

( * ) Spearmanʹs rank correlation: tương quan hạng  Spearman’s   

Bảng 2: Tỷ lệ đái tháo đường theo các tiêu chí chẩn đoán 

Tiêu chí glucose huyết đói ≥ 126mg/dL 951 94,2 59 5,8 Tiêu chí OGTT ≥ 200mg/dL 889 88 121 12 Tiêu chí A1c≥ 6,5% 922 91,3 88 8,7 Tiêu chí glucose huyết đói ≥ 126mg/dL và OGTT≥ 200mg/dL 960 95,0 50 5,0 Tiêu chí glucose huyết đói≥ 126mg/dL và A1c≥ 6,5% 965 95,5 45 4,5 Tiêu chí A1c≥ 6,5% và OGTT≥ 200mg/dL 945 93,6 65 6,4 Tiêu chí glucose huyết đói≥ 126mg/dL và A1c≥ 6,5% và OGTT ≥ 200mg/dL 969 95,9 41 4,1

BÀN LUẬN 

Chẩn đoán đái tháo đường luôn là một chẩn 

đoán  thận  trọng  đối  với  thầy  thuốc.  Việc  chẩn 

đoán đái tháo đường đồng nghĩa với việc bệnh 

nhân  phải  sử  dụng  thuốc  dài  hạn  và  phải  theo 

một  chế  độ  tư  vấn  cũng  như  quản  lý  bệnh  rất 

đều đặn và kiên trì nhằm phòng ngừa hoặc làm  chậm sự xuất hiện của các biến chứng. Việc chẩn  đoán  xác  định  bệnh  đái  tháo  đường  hiện  nay  vẫn dựa vào tiêu chí glucose huyết khi đói. Bệnh  nhân cần phải nhịn đói ít nhất tám giờ qua đêm  trước khi đến cơ sở y tế để thực hiện xét nghiệm 

fbs

4 6 8 10 12 14

0.44

0.45

a1c

0.45

5 10 15 20 5 10 15 20 25 30 35

ogtt

Trang 5

huyết khi đói là rẻ tiền, thuận tiện, dễ thực hiện 

ở nhiều cơ sở y tế với các máy xét nghiệm sinh 

hóa  tự  động.  Tuy  nhiên,  xét  nghiệm  glucose 

huyết  không  hoàn  toàn  là  một  xét  nghiệm  đơn 

giản. Điều tra NHANES III đã chứng minh rằng 

chỉ có 70,4% bệnh nhân có glucose huyết khi đói 

≥ 126 mg/dl trong lần xét nghiệm thứ nhất cũng 

có trị số glucose huyết khi đói ≥ 126 mg/dl trong 

lần xét nghiệm thứ nhì được tiến hành hai tuần 

sau  đó(10).  Glucose  huyết  khi  đói  còn  thay  đổi 

hằng  ngày  trên  cùng  một  đối  tượng  và  phụ 

thuộc nhiều vào chế độ ăn, tình trạng vận động 

thể lực, việc sử dụng thuốc cũng như tình trạng 

stress  của  đối  tượng  được  xét  nghiệm.  Nhiều 

bệnh nhân lại cố ý ăn chế độ ăn năng lượng thấp 

liên  tục  nhiều  ngày  trước  khi  đến  xét  nghiệm. 

Việc bệnh nhân cần nhịn đói ít nhất tám giờ quả 

đêm cũng là một vấn đề khiến bệnh nhân không 

cảm thấy thoải mái khi được lấy máu tĩnh mạch. 

Một nghiên cứu tầm soát đái tháo đường trong 

cộng đồng cho thấy chỉ có 3% đối tượng đến tầm 

soát  trong  tình  trạng  nhịn  đói  qua  đêm;  chin 

mươi bảy phần trăm còn lại được tầm soát bằng 

glucose huyết bất kỳ(4). Glucose huyết cũng giảm 

từ 5‐7% mỗi giờ do hiện tượng ly giải glucose. Vì 

vậy một mẫu xét nghiệm có giá trị 126 mg/dl chỉ 

còn  khoảng  110  mg/dl  sau  hai  giờ  ở  nhiệt  độ 

phòng(8).  Cuối  cùng  kỹ  thuật  định  lượng  bằng 

các  phương  pháp  enzyme  oxydase  hay 

hexokinase  cũng  dẫn  đến  kết  quả  không  thống 

nhất giữa các phòng xét nghiệm(7).  

Nghiệm  pháp  dung  nạp  glucose  trong 

nhiều năm được xem là “tiêu chuẩn vàng” để 

chẩn  đoán  đái  tháo  đường  do  tình  trạng  tăng 

glucose  huyết  sau  ăn  được  xem  là  xuất  hiện 

trước  khi  glucose  huyết  khi  đói  tăng.  Nghiệm 

pháp  dung  nạp  75  g  glucose  cũng  được  Hiệp 

hội Đái tháo đường  Hoa kỳ và Liên đoàn Đái 

tháo đường Thế giới chấp thuận là một tiêu chí 

để  chẩn  đoán  đái  tháo  đường(14).  Tuy  nhiên 

việc chuẩn bị bệnh nhân để thực hiện nghiệm 

pháp dung nạp glucose tương đối phức tạp và 

trong  điều  kiện  thưc  tế  tại  Việt  nam  thì  hầu 

như  không  khả  thi.  Tính  lặp  lại  rất  kém,  tốn  nhiều  thời  gian  và  chi  phí,  cồng  kềnh  trong  việc  thực  hiện  khiến  cho  nghiệm  pháp  dung  nạp  glucose  không  được  Hiệp  hội  Đái  tháo  đường Hoa kỳ khuyến cáo là xét nghiệm được 

ưu tiên chọn trong chẩn đoán(14).   Xét nghiệm HbA1c được khuyến cáo là một  xét  nghiệm  thuận  tiện  nhất  để  chẩn  đoán  bệnh  đái tháo đường. HbA1c phản ảnh tình trạng tăng  glucose  huyết  trong  một  thời  gian  khoảng  2‐3  tháng trước và có mối liên hệ chặt chẽ với biến  chứng  võng  mạc  đặc  trưng  cho  bệnh  đái  tháo  đường(12).  Để  xét  nghiệm  HbA1c,  bệnh  nhân  không  cần  phải  nhịn  đói  và  có  thể  lấy  mẫu  xét  nghiệm vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Xét  nghiệm  HbA1c  cũng  không  bị  ảnh  hưởng  bởi  các  yếu  tố  như  tình  trạng  stress,  chế  độ  ăn  và  việc sử dụng thuốc của bệnh nhân. Xét nghiệm  cũng tương đối ổn định và ít bị ảnh hưởng bởi  các yếu tố kỹ thuật(2). Những nhược điểm chính  của xét nghiệm HbA1c là không phải luôn luôn  sẵn có, đắt tiền, phụ thuộc vào yếu tố chủng tộc 

và tuổi tác và đặc biệt là điều kiện chuẩn hóa xét  nghiệm rất khắt khe(3).  

Vấn  đề  sử  dụng  HbA1c  trong  tiêu  chí  chẩn  đoán đái tháo đường tại Việt nam nói chung và  tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng còn nhiều  ý  kiến  tranh  luận.  Khuyến  cáo  cập  nhật  gần  đây  của  Hiệp  hội  Đái  tháo  đường  và  Nội  tiết  Việt  nam (VADE) cũng đề nghị sử dụng tiêu chí này  một  cách  thận  trọng  để  chẩn  đoán  đái  tháo  đường do xét nghiệm này chưa được chuẩn hóa  theo các tiêu chuẩn xét nghiệm trong các nghiên  cứu DCCT và UKPDS. Với mục tiêu xác định tỷ 

lệ  đái  tháo  đường  tại  thành  phố  Hồ  chí  Minh  theo  tiêu  chí  mới  nhất  vừa  được  Tổ  chức  Sức  khỏe Thế giới và Liên đoàn Đái tháo đường Thế  giới  chấp  thuận,  chúng  tôi  ghi  nhận  tỷ  lệ  đái  tháo đường trong dân số nghiên cứu lần lượt là  5,8%,  8,7%  và  12%  nếu  chỉ  sữ  dụng  một  xét  nghiệm  duy  nhất  là  glucose  huyết  khi  đói,  HbA1c  và  nghiệm  pháp  dung  nạp  glucose.  So  với  “tiêu  chuẩn  vàng”  chẩn  đoán  đái  tháo  đường là phải thỏa cả ba tiêu chí (tỷ lệ đái tháo 

Trang 6

vẫn  là  xét  nghiệm  phù  hợp  hơn  cả.  Trong  điều 

kiện tại thành phố Hồ chí Minh, nếu chỉ sử dụng 

HbA1c là xét nghiệm duy nhất đề chẩn đoán đái 

tháo đường thì tỷ lệ đái tháo đường sẽ tăng hơn 

hai lần so với “tiêu chuẩn vàng”. Trong thực tế 

lâm sàng, glucose huyết khi đói vẫn được xem là 

xét  nghiệm  đầu  tay  để  chẩn  đoán  đái  tháo 

đường. Trong khi đó nếu sử dụng nghiệm pháp 

dung nạp 75 g glucose như một xét nghiệm duy 

nhất thì sẽ tăng gấp ba tỷ lệ đái tháo đường so 

với thực tế. Mối tương quan giữa ba xét nghiệm 

này chỉ ở mức độ trung bình (r= 0,45); vì vậy nếu 

bệnh  nhân  không  có  triệu  chứng  lâm  sàng  của 

tình  trạng  tăng  glucose  huyết  mạn  tính  thì 

không thể kết luận bệnh nhân bị đái tháo đường 

chỉ với một xét nghiệm duy nhất.  

Việc tiến hành hai xét nghiệm cùng lúc trên 

lâm  sàng  nhằm  mục  đích  hạn  chế  nhược  điểm 

của  từng  xét  nghiệm,  rút  ngắn  thời  gian  chẩn 

đoán, giảm chi  phí  và  thời  gian  đi  lại  của  bệnh 

nhân cũng là một ý kiến đáng ghi nhận. Nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tổ  hợp  hai  xét 

nghiệm glucose huyết khi đói và HbA1c cho kết 

quả gần tương đồng nhất với “tiêu chuẩn vàng” 

của nghiên cứu (4,5% so với 4,1%). Nghiệm pháp 

dung  nạp  glucose  và  glucose  huyết  khi  đói  có 

thể tiến hành ở những nơi chưa triển khai được 

xét  nghiệm  HbA1c  theo  phương  pháp  sắc  k ý 

lỏng (5% so với 4,1%). Tổ hợp xét nghiệm HbA1c 

và nghiệm pháp dung nạp glucose không được 

khuyến  khích  vì  cho kết  quả  cao  gấp  1,5  lần so 

với “tiêu chuẩn vàng” (6,4% so với 4,1%).  

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  góp  phần  làm 

sáng  tỏ  thêm  vai  trò  của  các  xét  nghiệm  trong 

chẩn  đoán  đái  tháo  đường.  Nghiên  cứu  được 

tiến  hành  lần  đầu  tiên  bằng  huyết  tương  tĩnh 

mạch trên một số lượng lớn bệnh nhân và được 

xét nghiệm tại một trung tâm duy nhất nên kết 

quả khá tin cậy. Kết quả nghiên cứu này có thể 

cung cấp thêm dữ liệu giúp các bác sỹ thực hành 

lâm sàng quyết định sẽ sử dụng xét nghiệm hoặc 

các xét nghiệm nào để rút ngắn thời gian và cải 

thiện  sự  chính  xác  trong  chẩn  đoán  bệnh  đái 

tháo  đường.  Khả  năng  ứng  dụng  kết  quả  của  nghiên cứu này là tại thành phố Hồ chí Minh với  các  điều  kiện  xét  nghiệm  sẵn  có.  Chưa  thể  mở  rộng ứng dụng cho các địa phương khác do có 

sự khác nhau về điều kiện xét nghiệm.  

KẾT LUẬN 

Tỷ  lệ  bệnh  đái  tháo  đường  trong  dân  số  nghiên  cứu  là  5,8%  nếu  sử  dụng  tiêu  chí  glucose  huyết  nhịn  đói  qua  đêm.  Nếu  chỉ  sử  dụng  xét  nghiệm  HbA1c  đơn  thuần  thì  tỷ  lệ  đái tháo đường là 8,7%. Vì vậy trong thời điểm  hiện tại chưa nên sử dụng HbA1c làm tiêu chí  chẩn  đoán  đái  tháo  đường  theo  khuyến  cáo  của  Tổ  chức  Sức  khỏe  Thế  giới  và  Liên  đoàn  Đái tháo đường Thế giới. Để rút ngắn thời gian  chẩn  đoán,  tiết  kiệm  thời  gian  và  chi  phí  di  chuyển  cho  bệnh  nhân  thì  glucose  huyết  khi  đói và HbA1c là bộ xét nghiệm được lựa chọn 

vì cho kết quả gần nhất với “tiêu chuẩn vàng”  trong  chẩn  đoán  đái  tháo  đường.  Glucose  huyết  hai  giờ  sau  nghiêm  pháp  dung  nạp  glucose  không  được  khuyến  khích  thực  hiện  một cách thường quy trên làm sàng.  

Chúng  tôi  xin  trân  trọng  cảm  ơn  sự  tài  trợ  kinh phí từ các công ty Bayer, Novo Nordisk và  Merck Serono để thực hiện nghiên cứu này.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bennett  C,  Guo  M,  and  Dharma  S  (2007).  ʺHbA1c  as  a  screening  tool  for  detection  of  Type  2  diabetes:  a  systematic 

reviewʺ. Diabetic Medicine, 24, pp 333‐343. 

2 Cohen  R,  Snieder  H,  and  Lindsell  C  (2006).  ʺEvidence  for  independent  heritability  of  the  glycation  gap  (glycosylation 

gap) fraction of HbA1c in nondiabetic twins.ʺ Diabetes care, 29, 

pp 1739‐1743. 

3 Davidson  M.  and  Schriger  D.  (2010).  ʺEffect  of  age  and  race/ethnicity  on  HbA1c  levels  in  people  without  known  diabetes mellitus: implications for the diagnosis of diabetes.ʺ 

Diabetes Res Clin Pract, 87, pp 415‐421. 

4 Ealovega  M,  et  al.  (2004).  ʺOpportunistic  screening  for 

diabetes in routine clinical practiceʺ. Diabetes care, 27, pp 9‐12. 

5 Ko  GT  et  al.  (1998).  ʺThe  Reproducibility  and  Usefulness  of  the Oral Glucose Tolerance Test in Screening for Diabetes and 

other Cardiovascular Risk Factors ʺ. Ann Clin Biochem, 35, pp 

62‐67. 

6 Le DSN, et al. (2004). ʺPrevalence and risk factors for diabetes 

in Ho Chi Minh City, Vietnamʺ. Diabet Med, 21(4), pp 371‐376. 

7 Sacks D (2006). ʺCarbohydratesʺ. Textbook of Clinical Chemistry 

and Molecular Diagnostics., pp 837‐902. 

Trang 7

8 Sacks  D,  Bruns  D,  and  Goldstein  D  (2002).  ʺGuidelines  and 

recommendations for laboratory analysis in the diagnosis and 

management of diabetes mellitusʺ. Clin Chem, 48, pp 436‐472. 

9 Sacks DB (2011). ʺA1c versus Gluocse testing: A comparisonʺ. 

Diabetes care, 34, pp 518‐523. 

10 Selvin  E,  et  al.  (2007).  ʺShort‐term  variability  in  measures  of 

glycemia  and  implications  for  the  classification  of  diabeteʺ. 

Arch Intern Med, 167, pp 1545‐1551. 

11 Ta  M,  Nguyen  T,  and  Nguyen  N  (2010).  ʺIdentification  of 

undiagnosed  type  2  diabetes  by  systolic  blood  pressure  and 

waist‐to‐hip ratioʺ. Diabetologia, 53(10), pp 2139‐2146. 

12 The  Diabetes  Control  and  Complications  Trial  Research 

Group (1993)  The effect of in‐tensive treatment of diabetes on 

the development and progression of long‐term complications 

insulin‐dependent  diabetes  mellitusʺ.  N  Engl  J  Med,  329,  pp 

977‐986. 

13 The  International  Expert  Committee  (2009)   International  Expert Committee Report on the Role of the A1c Assay in the 

Diagnosis of Diabetesʺ. Diabetes care, 32, pp 1327‐1334. 

14 The  International  Expert  Committee.  International  Expert  Committee  Report  on  the  Role  of  the  A1c  Assay  in  the 

Diagnosis of Diabetesʺ. Diabetes care, 32, pp 1327‐1334. 

15 Wang,  W.,  E.T.  Lee,  and  R.  Fabsitz  (2002).  ʺUsing  HbA1c  to  Improve  Efficacy  of  the  American  Diabetes  Association  Fasting Plasma Glucose Criterion in Screening for New Type 

2  Diabetes  in  American  Indiansʺ.  Diabetes  care,  25,  pp  1365‐

1370. 

 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w