1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố nguy cơ gây đau sau phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối

7 59 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 472,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của nghiên cứu là xác định các yếu tố liên quan đến biến chứng đau sau phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối. Mẫu nghiên cứu bao gồm các trường hợp trĩ độ 3 hoặc độ 4 được áp dụng phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010.

Trang 1

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY ĐAU SAU PHẪU THUẬT TRĨ

BẰNG MÁY KHÂU NỐI

Trần Thị Mai Trang*, Lê Minh Trí**, Nguyễn Trung Tín***

TÓM TẮT

Mục đích: Mục đích của nghiên cứu là xác định các yếu tố liên quan đến biến chứng đau sau phẫu thuật trĩ

bằng máy khâu nối

Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu được thực hiện là nghiên cứu cắt dọc, can thiệp lâm sàng Mẫu nghiên

cứu bao gồm các trường hợp trĩ độ 3 hoặc độ 4 được áp dụng phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010 Mức độ đau sau mổ được đánh giá bằng thang điểm NRS Các yếu tố đưa vào phân tích tương quan gồm có tuổi, giới tính, vị trí đường khâu nối, việc xử lý thương tổn khác tại chỗ, sự hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu môn và sợi cơ trơn trong khoanh niêm mạc trực tràng, tụ máu đường khâu nối,

tụ máu khoanh niêm mạc trực tràng và bầm máu quanh hậu môn

Kết quả: Mẫu nghiên cứu bao gồm 97 bệnh nhân, tuổi trung bình là 46,69 tuổi 18,56% trường hợp đau

nhiều sau mổ Tỷ lệ bệnh nhân đau nhiều sau mổ trong nhóm có khoảng cách đường lược – đường khâu nối < 2

cm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có khoảng cách đường lược – đường khâu nối 2 cm (p = 0,03) Biến chứng này cũng có tương quan với việc xử lý thương tổn khác tại chỗ (p = 0,006), sự hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu môn trong khoanh niêm mạc trực tràng (p = 0,04), tụ máu khoanh niêm mạc trực tràng (p = 0,03) và bầm máu quanh hậu môn (p = 0,02)

Kết luận: Biến chứng đau nhiều sau phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối có thể tránh khỏi nếu chỉ định đúng

và được tiến hành cẩn thận bởi những phẫu thuật viên chuyên khoa nhiều kinh nghiệm

Từ khóa: thang điểm NSR, phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối, đau sau phẫu thuật, trĩ

ABSTRACT

RISK FACTORS ASSOCIATED WITH POSTOPERATIVE PAIN AFTER STAPLED

HEMORRHOIDECTOMY

Tran Thi Mai Trang, Le Minh Tri, Nguyen Trung Tin

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 134 - 140

Purpose: The purpose of the study was to determine the variables associated with postoperative pain after

stapled hemorrhoidectomy

Methods: The study design was the longitudinal, interventional study Patients with grade III to IV

hemorrhoidal disease who underwent stapled hemorrhoidectomy from December 2009 to May 2010 were prospectively included Postoperative pain was evaluated by means of a numeric rating scale The variables analyzed included age, gender, level of staple line, additional procedure, presence of anal epithelium and muscle fibers in the resected specimen, hematoma of the staple li ne, hematoma of specimen and perianal hematoma

Results: 97 patients with a mean age of 46.69 years were included 18.56% patients had severe

* Bộ môn Ngoại Tổng quát, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

** Khoa Giải phẫu bệnh – BV Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre

*** Bộ Môn Ngọai Tổng Quát– Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Trần Thị Mai Trang, ĐT: 0907681115, Email: tranthimaitrang@yahoo.com

Trang 2

postoperative pain Severe pain was more frequently in patients with staple line height < 2 cm than in patients with staple line height 2 cm (p = 0.03) This complication was also associated with additional procedure (p= 0.006), presence of anal epithelium in the resected specimen (p = 0.04), hematoma of specimen (p = 0.03) and perianal hematoma (p = 0.02)

Conclusions: Severe postoperative pain after stapled hemorrhoidectomy seems to be avoidable with correct

indications and carefully performance by experienced colorectal surgeons

Keywords: numeric rating scale, stapled hemorrhoidectomy, postoperative pain, hemorrhoid

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau sau mổ vốn không phải là biến chứng

của phẫu thuật Nhưng với phẫu thuật điều trị

bệnh trĩ, vết thương ở vùng nhạy cảm khiến

cho tình trạng đau nhiều sau mổ thật sự là nỗi

ám ảnh của bệnh nhân Phương pháp phẫu

thuật trĩ bằng máy khâu nối cùng lúc cắt một

khoanh niêm – dưới niêm mạc của trực tràng

và khâu vị trí cắt lại, không can thiệp vào vùng

Vì vậy, kỹ thuật này được đánh giá là một

bước đột phá mới, có ý nghĩa quan trọng trong

điều trị bệnh trĩ

Nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

ngẫu nhiên có đối chứng đã được tiến hành để

so sánh phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối với

các phương pháp cắt trĩ thông thường khác, kết

quả cho thấy phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối

rõ ràng ít đau hơn(6,7,8,19,20) Nhưng sau một thời

gian áp dụng, bắt đầu xuất hiện một số báo cáo

về các trường hợp đau nhiều kéo dài sau mổ

1/27 trường hợp đau kéo dài hơn 14 tuần

Sileri(22) sau 1 năm theo dõi phát hiện 3/66 bệnh

nhân vẫn còn đau dữ dội Rầm rộ và nghiêm

(31%) đau hậu môn kèm đi cầu gấp kéo dài hơn

7 – 15 tháng theo dõi

Các kết quả nghiên cứu khác nhau gây ra

nhiều tranh luận Một số nghiên cứu đã được

tiến hành nhằm xác định các yếu tố nguy cơ gây

đau nhiều sau phẫu thuật trĩ bằng máy khâu

nối(3,16) Ở Việt Nam, nhiều nơi đã áp dụng và

báo cáo kết quả điều trị của phương pháp

này(1,15,14) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều

quan tâm đến kết quả chung của phẫu thuật mà

không khảo sát các yếu tố liên quan đến biến chứng, đặc biệt là biến chứng đau nhiều sau mổ

Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố nguy cơ gây đau sau phẫu thuật điều trị bệnh trĩ bằng máy khâu nối

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được áp dụng phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010, thỏa tất cả các tiêu chuẩn sau:

Là người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên

Có chẩn đoán trước mổ là trĩ nội độ 3, trĩ nội

độ 4 hoặc trĩ hỗn hợp

Có sự tham gia của chúng tôi trong quá trình phẫu thuật

Có khoanh niêm mạc và dưới niêm mạc trực tràng cắt ra được gởi giải phẫu bệnh lý

Có địa chỉ và/hoặc số điện thoại có thể liên

hệ được sau thời gian theo dõi 1 tháng

Bên cạnh đó, chúng tôi loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu nhưng thuộc các đối tượng:

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi

Cỡ mẫu cho nghiên cứu được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:

2

2 2 / 1

) 1 (

d

p p Z

− α

Trong đó:

n: cỡ mẫu tối thiểu phải có

2 ) 2 / 1 ( − α

z : hệ số tin cậy, z(21−α/2) = 1,962 ở khoảng tin cậy 95%

Trang 3

p: tỷ lệ biến chứng đau của phương pháp

phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối Theo Ravo và

cộng sự, p = 6,7%(21)

d: sai số tuyệt đối so với thực tế, chọn d =

0,05

96 05

, 0

933 , 0 067 , 0 96

,

=

⇒ n

Vậy cỡ mẫu tối thiểu phải có là 96 bệnh

nhân

Ước lượng tỷ lệ bệnh nhân không liên lạc

được sau 1 tháng là 10% thì số bệnh nhân cần

phải có là ≥ 106 bệnh nhân

Thiết kế nghiên cứu được thực hiện là

nghiên cứu cắt dọc, can thiệp lâm sàng

Phẫu thuật được tiến hành dựa theo kỹ

niêm mạc – dưới niêm mạc trực tràng và khâu vị

trí cắt lại bằng máy khâu nối Các trường hợp

phẫu thuật đều sử dụng bộ máy khâu nối PPH

03 – Ethicon, nhưng vị trí đặt mũi khâu túi, cách

cầm máu đường khâu nối, … khác nhau tùy

theo phẫu thuật viên và tình trạng bệnh nhân

Khoanh niêm mạc trực tràng cắt ra được khảo

sát vi thể để xác định sự hiện diện của tế bào

biểu mô ống hậu môn và sợi cơ trơn, do một bác

sĩ độc lập với nghiên cứu ghi nhận

Mức độ đau sau mổ được đánh giá bằng

thang điểm NRS (0: hoàn toàn không đau; 10:

qua phỏng vấn trực tiếp trong thời gian nằm

viện và phỏng vấn bằng điện thoại 1 tháng sau

mổ Bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng thước

đo NRS để tự đánh giá mức độ đau khi sinh

hoạt bình thường và khi đi cầu trong tuần đầu

tiên sau mổ, lúc cảm thấy đau nhiều nhất

Hình 1 Thang điểm đánh giá đau NRS

Điểm NRS 1 – 3 : đau ít

Điểm NRS 4 – 6 : đau vừa

Nếu điểm NRS ≥ 7, bệnh nhân được xác định là có biến chứng đau nhiều sau mổ Nếu tình trạng này kéo dài sang ngày hậu phẫu thứ

7, bệnh nhân được xác định là có biến chứng đau kéo dài sau mổ

Các yếu tố đưa vào phân tích tương quan gồm có tuổi, giới tính, vị trí đường khâu nối, việc xử lý thương tổn khác tại chỗ, sự hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu môn và sợi cơ trơn trong khoanh niêm mạc trực tràng, tụ máu đường khâu nối, tụ máu khoanh niêm mạc trực tràng và bầm máu quanh hậu môn

Các dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 13.0

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010, tại bệnh viện Bình Dân TP.HCM, chúng tôi ghi nhận được 106 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu, trong đó có 97 bệnh nhân liên hệ phỏng vấn được sau thời gian theo dõi 1 tháng

Mẫu nghiên cứu gồm có 49 bệnh nhân nam (50,52%) và 48 bệnh nhân nữ (49,48%) Tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,69 ± 13,88 tuổi Tuổi thấp nhất là 21, tuổi cao nhất là 93

Các trường hợp trĩ nội độ 3 chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu (85 bệnh nhân, 87,63%), còn lại 7 bệnh nhân (7,22%) có trĩ nội độ 4 và 5 bệnh nhân (5,15%) có trĩ hỗn hợp

55 bệnh nhân (56,70%) được tiến hành phẫu thuật Longo đơn thuần; 42 bệnh nhân còn lại (43,30%) cần kết hợp xử lý các thương tổn khác tại chỗ, bao gồm cắt da thừa, cắt trĩ và cắt nhú gai phì đại

Có 3 trường hợp (3,09%) đứt chỉ khi bấm máy, không cắt trọn được khoanh niêm mạc trực tràng Khảo sát vi thể tìm thấy cơ trơn ở 91 trường hợp (93,81%), trong đó, 8 trường hợp (8,25%) có thêm sự hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu môn 8 trường hợp này đều là bệnh nhân nam, tương quan giữa giới tính nam và sự hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu môn trong

Trang 4

khoanh niêm mạc trực tràng có ý nghĩa thống kê

(p = 0,006) Chúng tôi cũng tìm được sự tương

quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí đường khâu

nối và sự hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu

môn (p = 0,05)

Biến chứng đau nhiều trong tuần đầu tiên

sau mổ gặp ở 18 bệnh nhân, chiếm 18,56% Sau

mổ 1 tuần, chỉ còn 5 bệnh nhân đau nhiều,

chiếm 5,15% Các bệnh nhân còn lại (92 bệnh

nhân, 94,85%) đều không đau hoặc đau ít,

nhưng cảm giác đau này tồn tại khá lâu Có 21

bệnh nhân (21,65%) chưa hết đau hẳn khi phỏng

vấn lại sau thời gian theo dõi 1 tháng

Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ gây đau nhiều sau mổ

(N = 97)

Đau nhiều sau

mổ (%) Yếu tố

Có (n = 18)

Không (n = 79)

p

Tuổi > 60 tuổi 5,56 16,46 0,46 (*)

Khoảng cách đường lược –

đường khâu nối < 2 cm 27,78 7,59 0,03

(*)

Xử lý thương tổn khác tại chỗ 72,22 36,71 0,006

Cósợi cơ trơn/khoanh niêm mạc

trực tràng

100 92,41 0,59 (*)

Có tế bào biểu mô ống hậu

môn/khoanh niêm mạc trực tràng

22,22 5,06 0,04 (*)

Tụ máu đường khâu nối 16,67 8,86 0,39 (*)

Tụ máu khoanh niêm mạc trực

Bầm máu quanh hậu môn 22,22 3,80 0,02 (*)

(*) : Kiểm định Fisher

Chúng tôi tìm thấy mối tương quan giữa

biến chứng đau nhiều sau mổ với các yếu tố:

khoảng cách từ đường lược đến đường khâu

nối, phương pháp phẫu thuật (có hay không có

xử lý thương tổn khác tại chỗ), sự hiện diện của

tế bào biểu mô ống hậu môn trong khoanh niêm

mạc trực tràng, tụ máu khoanh niêm mạc trực

tràng và bầm máu quanh hậu môn (bảng 1)

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến

chứng đau nhiều sau mổ là 18,56% Sau mổ 1

tuần, tỷ lệ này còn 5,15% Có lẽ do khác nhau về

quy ước xác định biến chứng mà tỷ lệ đau nhiều trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả của các tác giả khác (bảng 2)

Bảng 2: Biến chứng đau nhiều sau mổ ở các nghiên

cứu

Tác giả Số bệnh

nhân

Trong tuần đầu tiên sau

mổ (%)

Kéo dài hơn 1 tuần sau mổ (%)

5 trường hợp đau nhiều kéo dài hơn 1 tuần sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi đều bắt đầu giảm đau dần ở ngày hậu phẫu thứ 8 – 9 và lần lượt hết hẳn ở các ngày hậu phẫu thứ 11, 20

và 28, riêng 2 trường hợp chưa hết đau hẳn khi phỏng vấn lại sau 1 tháng nhưng mức độ đau

hợp (31%) đau hậu môn kèm đi cầu gấp kéo dài suốt 7 – 15 tháng theo dõi, sau đó tác giả thôi

nhận được 1 trường hợp đau kéo dài hơn 14 tuần Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu khác đều không có trường hợp nào đau kéo dài sau thời gian theo dõi 1 – 2 năm(1,7,8,20) Nghiên cứu của chúng tôi có tất cả 21 bệnh nhân (21,65%) còn đau hậu môn 1 tháng sau mổ, đa số được mô tả như cảm giác vướng, tức mơ hồ ở hậu môn hoặc chỉ thốn khi ngồi lâu hay khi đi cầu bón Vì thời gian theo dõi ngắn nên chúng tôi chưa thể xác định các trường hợp trên có tiếp tục đau kéo dài hay không Tuy nhiên, kết quả ghi nhận được đến thời điểm này có thể cho thấy chúng tôi không gặp trường hợp nào có tình trạng đau như Cheetham đã đề cập

đường lược 0,5 – 1,5 cm rất nhạy cảm với cảm giác đau trong khi trực tràng hầu như không

có đầu mút thần kinh tiếp nhận cảm giác này Trên cơ sở đó, các phẫu thuật trên đường lược

ra đời nhằm khắc phục biến chứng đau nhiều sau mổ trĩ Đối với phương pháp phẫu thuật

mũi khâu túi trên đường lược 4 – 5 cm để sau khi cắt khoanh niêm mạc trực tràng, đường

Trang 5

khâu nối nằm trên đường lược ít nhất 2 cm Sự

hiện diện của tế bào biểu mô ống hậu môn

trong khoanh niêm mạc trực tràng chứng tỏ có

tổn thương đến vùng nhạy cảm phía trên

đường lược, đồng thời được xem như yếu tố

cũng tìm thấy sự tương quan có ý nghĩa thống

kê giữa hai yếu tố này (p = 0,05) Tuy nhiên, có

5 bệnh nhân có khoảng cách đường khâu nối –

đường lược từ 2 cm trở lên nhưng khảo sát vi

thể khoanh niêm mạc trực tràng vẫn tìm thấy

tế bào biểu mô ống hậu môn Đó có thể do cấu

trúc mô học vùng hậu môn – trực tràng, nơi

chuyển tiếp từ biểu mô lát tầng không sừng

hóa thành biểu mô vuông tầng cách đường

lược một khoảng cách không hằng định, đồng

thời sự chuyển tiếp có thể không đều trên

nghiên cứu của chúng tôi, tất cả trường hợp có

tế bào biểu mô ống hậu môn trong khoanh

niêm mạc đều là bệnh nhân nam – vốn có ống

hậu môn dài hơn, tương quan giữa giới tính

nam và sự hiện diện của tế bào lát tầng là có ý

nghĩa thống kê (p = 0,006), phù hợp với báo

cáo của Sileri và cộng sự (66,7% trường hợp có

tế bào biểu mô ống hậu môn trong khoanh

thấy khoảng cách đường khâu nối – đường

lược quan sát được khi kết thúc phẫu thuật chỉ

giúp tiên lượng được phần nào về sự hiện diện

của tế bào biểu mô ống hậu môn trong khoanh

niêm mạc đã cắt Mặc dù vậy, qua so sánh

thống kê chúng tôi vẫn tìm được mối tương

quan có ý nghĩa giữa khoảng cách này với biến

chứng đau nhiều sau mổ (p = 0,03) Trong khi

tương quan giữa mức độ đau và vị trí đường

khâu nối không có ý nghĩa thống kê (p =

0,977)

chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân đau nhiều

sau mổ trong nhóm có sự hiện diện của tế bào

biểu mô ống hậu môn/khoanh niêm mạc trực

tràng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm

không có sự hiện diện của tế bào biểu mô (p =

0,04) Sileri và cộng sự không xác định được mối

Cheetham, không có tế bào biểu mô ống hậu môn trong khoanh niêm mạc cắt ra ở cả 5 bệnh nhân đau kéo dài nhưng lại hiện diện ở 2 trường hợp không biến chứng Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê(4)

Trong báo cáo trên, Cheetham tìm thấy mối tương quan giữa tình trạng đau kéo dài với sự hiện diện của sợi cơ trơn (p = 0,012), xuất hiện ở 4 bệnh nhân trong 5 trường hợp có biến chứng(4) Theo tác giả, đây có thể là yếu tố liên quan đến đau sau mổ nhưng không phải

là nguyên nhân chắc chắn và duy nhất Chúng tôi không tìm thấy mối tương quan này, phù hợp với kết quả của một số tác giả khác(3,13,16,22) Giải thích cho những trường hợp đau nhiều nhưng khoanh niêm mạc không có cơ trơn, Ravo cho rằng các sợi cơ trơn không bị cắt ra

Chúng tôi chưa gặp nghiên cứu nào chứng minh hoặc phản bác suy luận này

Có ý kiến cho rằng tụ máu đường khâu là

cáo 1 bệnh nhân đau nhiều do có máu tụ dưới niêm mạc ở đường khâu nối, hết đau 10 ngày

của chúng tôi, tỷ lệ đau nhiều trong nhóm có

tụ máu đường khâu nối (30%) cao hơn nhóm không tụ máu (17,24%), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,39) Quan sát khoanh niêm mạc trực tràng cắt ra, chúng tôi ghi nhận có máu tụ ở 37 trường hợp, tỷ lệ đau nhiều trong nhóm tụ máu khoanh niêm mạc trực tràng cao hơn đáng kể so với nhóm không

có tụ máu (p = 0,03) Chúng tôi cho rằng tụ máu khoanh niêm mạc trực tràng cắt ra là dấu hiệu gián tiếp của tình trạng tụ máu trong đường khâu nối với kích thước nhỏ nên không phát hiện được trực tiếp Tuy nhiên, chưa thấy tài liệu nào đề cập đến vấn đề này

Xét các yếu tố liên quan đến tổn thương vùng rìa hậu môn là tình trạng bầm máu quanh hậu môn sau mổ và việc có xử lý

Trang 6

thương tổn khác tại chỗ, chúng tôi đều tìm

được tương quan có ý nghĩa thống kê với biến

chứng đau nhiều (p lần lượt là 0,02 và 0,006)

Bản thân phẫu thuật Longo không giải quyết

được các thương tổn tại chỗ kèm theo nhưng

việc xử lý các thương tổn này lại làm giảm đi

ưu điểm ít đau của phẫu thuật

Chúng tôi không tìm được mối tương quan

có ý nghĩa thống kê giữa biến chứng đau với

các yếu tố tuổi và giới tính Theo Lê Thiện

nhiều cao hơn giới nữ đáng kể (p = 0,003), có lẽ

do thời điểm ghi nhận và cách xác định đau

khác với chúng tôi

KẾT LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh

nhân đau nhiều sau mổ khá cao, có liên quan

đến các yếu tố: khoảng cách từ đường lược

đến đường khâu nối < 2 cm; có tế bào biểu mô

ống hậu môn trong khoanh niêm mạc – dưới

niêm mạc trực tràng; có tụ máu ở khoanh niêm

mạc – dưới niêm mạc trực tràng; có xử lý

thương tổn khác tại chỗ kèm theo và có bầm

máu quanh hậu môn

Đây là các yếu tố thuộc về kỹ thuật mổ Như

vậy, mặc dù các thao tác của phương pháp phẫu

thuật trĩ bằng máy khâu nối có vẻ đơn giản

nhưng vẫn cần được tiến hành bởi một phẫu

thuật viên chuyên khoa nhiều kinh nghiệm, nắm

rõ các sai sót có thể xảy ra và hậu quả kèm theo

Hơn nữa, sự cẩn thận khi thực hiện phẫu thuật

là điều hết sức quan trọng để tránh biến chứng

cho bệnh nhân, ngay cả ở các bác sĩ đã quen

thuộc với phương pháp này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Basdanis G., Papadopoulos V N., Michalopoulos A.,

Apostolidis S., Harlaftis N (2005), "Randomized clinical trial of

stapled hemorrhoidectomy vs open with Ligasure for

prolapsed piles", Surg Endosc, 19 (2), pp 235-239

2 Breivik H., Borchgrevink P C., Allen S M., Rosseland L A.,

Romundstad L., Hals E K., Kvarstein G., Stubhaug A (2008),

"Assessment of pain", Br J Anaesth, 101 (1), pp 17-24

3 Correa-Rovelo J M., Tellez O., Obregon L., Duque-Lopez X.,

Miranda-Gomez A., Pichardo-Bahena R., Mendez M., Moran

S (2003), "Prospective study of factors affecting postoperative

pain and symptom persistence after stapled rectal

mucosectomy for hemorrhoids: a need for preservation of

squamous epithelium", Dis Colon Rectum, 46 (7), pp 955-962

4 Cheetham M J., Mortensen N J., Nystrom P O., Kamm M A., Phillips R K (2000), "Persistent pain and faecal urgency after

stapled haemorrhoidectomy", Lancet, 356 (9231), pp 730-733

5 Duthie H L., Gairns F W (1960), "Sensory nerve-endings and

sensation in the anal region of man", Br J Surg, 47, pp 585-595

6 Ganio E., Altomare D F., Gabrielli F., Milito G., Canuti S (2001), "Prospective randomized multicentre trial comparing

stapled with open haemorrhoidectomy", Br J Surg, 88 (5), pp

669-674

7 Gravie J F., Lehur P A., Huten N., Papillon M., Fantoli M., Descottes B., Pessaux P., Arnaud J P (2005), "Stapled hemorrhoidopexy versus Milligan-Morgan hemorrhoidectomy: a prospective, randomized, multicenter

trial with 2-year postoperative follow up", Ann Surg, 242 (1),

pp 29-35

8 Hetzer F H., Demartines N., Handschin A E., Clavien P A (2002), "Stapled vs excision hemorrhoidectomy: long-term

results of a prospective randomized trial", Arch Surg, 137 (3),

pp 337-340

9 Hussein A M (2001), "Ligation-anopexy for treatment of

advanced hemorrhoidal disease", Dis Colon Rectum, 44 (12), pp

1887-1890

10 Lê Thiện Hiếu (2009), Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật Longo,

Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

11 Longo A (1996), "PPH procedure for prolapse and

hemorrhoids", Ethicon Endo - Surgery, INC A Johnson -

Johnson company

12 Longo A (1998), "Treatment of haemorrhoidal disease by reduction of mucosa and haemorrhoidal prolapse with a

circular suturing device: a new procedure", Proceeding of the 6 th congress of endoscopic surgery, Roma, Italy

13 Naldini G., Martellucci J., Moraldi L., Romano N., Rossi M (2009), "Is simple mucosal resection really possible? Considerations about histological findings after stapled

hemorrhoidopexy", Int J Colorectal Dis, 24 (5), pp 537-541

14 Nguyễn Hữu Thịnh, Dương Phước Hưng, Nguyễn Trung Tín (2008), "Phẫu thuật Longo điều trị trĩ độ 3: kinh nghiệm qua

260 trường hợp", Y học TP Hồ Chí Minh, 12 (1), tr 66-70

15 Nguyễn Phúc Minh, Dương Văn Hải, Lê Quang Nghĩa (2008),

"Kết quả bước đầu điều trị trĩ bằng phẫu thuật Longo", Tạp chí

đại trực tràng học, 1, tr 122-127

16 Ohana G., Myslovaty B., Ariche A., Dreznik Z., Koren R., Rath-Wolfson L (2007), "Mid-term results of stapled hemorrhoidopexy for third- and fourth-degree hemorrhoids correlation with the histological features of the resected tissue",

World J Surg, 31 (6), pp 1336-1342

17 Ortiz H., Marzo J., Armendariz P (2002), "Randomized clinical trial of stapled haemorrhoidopexy versus conventional

diathermy haemorrhoidectomy", Br J Surg, 89 (11), pp

1376-1381

18 Oughriss M., Yver R., Faucheron J L (2005), "Complications of stapled hemorrhoidectomy: a French multicentric study",

Gastroenterol Clin Biol, 29 (4), pp 429-433

19 Palimento D., Picchio M., Attanasio U., Lombardi A., Bambini C., Renda A (2003), "Stapled and open hemorrhoidectomy:

randomized controlled trial of early results", World J Surg, 27

(2), pp 203-207

20 Racalbuto A., Aliotta I., Corsaro G., Lanteri R., Di Cataldo A., Licata A (2004), "Hemorrhoidal stapler prolapsectomy vs

Trang 7

Milligan-Morgan hemorrhoidectomy: a long-term randomized

trial", Int J Colorectal Dis, 19 (3), pp 239-244

21 Ravo B., Amato A., Bianco V., Boccasanta P., Bottini C.,

Carriero A., Milito G., Dodi G., Mascagni D., Orsini S.,

Pietroletti R., Ripetti V., Tagariello G B (2002), "Complications

after stapled hemorrhoidectomy: can they be prevented?" Tech

Coloproctol, 6 (2), pp 83-88

22 Sileri P., Stolfi V M., Palmieri G., Mele A., Falchetti A., Di Carlo S., Gaspari A L (2007), "Stapled hemorrhoidopexy: a prospective study from pathology to clinical outcome", J Gastrointest Surg, 11 (12), pp 1662-1668

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w