1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tồn lưu ác tính ở bệnh nhân bạch cầu cấp sau điều trị tấn công bằng dấu ấn miễn dịch tế bào

5 65 7

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 435,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu nhằm theo dõi mức độ tồn lưu ác tính ở các bệnh nhân mắc các bệnh bạch cầu cấp sau hóa trị thông qua việc xác định sự tồn tại những kiểu hình DAMD bất thường trên tế bào non ác tính.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TỒN LƯU ÁC TÍNH Ở BỆNH NHÂN BẠCH CẦU CẤP SAU ĐIỀU TRỊ TẤN CÔNG BẰNG DẤU ẤN MIỄN DỊCH TẾ BÀO

Nguyễn Phương Liên*, Nguyễn Tấn Bỉnh**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Theo dõi mức độ tồn lưu ác tính ở các bệnh nhân mắc các bệnh bạch cầu cấp sau

hóa trị thông qua việc xác định sự tồn tại những kiểu hình DAMD bất thường trên tế bào non ác tính

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả thực nghiệm lâm sàng tiến cứu Sử dụng các kháng thể đơn dòng có

gắn huỳnh quang và phương pháp nhuộm 4-5 màu, phân tích bằng hệ thống máy FACS Canto II trên phần mềm Diva Tiến hành nghiên cứu trên những bệnh nhân được chẩn đoán bạch cầu cấp và điều trị theo các phác đồ tại bệnh viện Truyền Máu Huyết Học từ tháng 4/2010 đến tháng 11/2010

Kết quả: Dựa vào 4 mức độ TBTLAT, đa số bệnh nhân BCC dòng lymphô nằm trong nhóm nguy cơ

trung bình (0,1% - <1% tế bào tủy, 48,8%) và nguy cơ thấp (0,01% - <0,1% tế bào tủy, 41,9%), có 3 bệnh nhân tái phát sớm sau 4-6 tháng theo dõi; đa số bệnh nhân BCC dòng tủy thuộc nhóm nguy cơ trung bình (68,8%) 2 kiểu hình DAMD bất thường gặp nhiều nhất là sự xuất hiện KN khác dòng và các KN không đồng bộ

Kết luận: Kỹ thuật DAMD giúp phân biệt rõ tế bào non ác tính và tế bào non bình thường trong tủy

xương đang tái hoạt hóa sau hóa trị liệu mà bằng hình thái chúng ta không thể phân biệt được Việc đánh giá mật độ TBTLAT trên bệnh nhân BCC bằng kỹ thuật DAMD cho chúng ta tiên lượng sớm kết quả điều trị dựa vào 4 mức độ nguy cơ

Từ khóa: kiểu hình DAMD bất thường, tế bào tồn lưu ác tính, bệnh BCC, kháng thể đơn dòng gắn

huỳnh quang, tế bào bạch cầu non

Viết tắt: DAMD: dấu ấn miễn dịch, BCC: bạch cầu cấp, TBTLAT: tế bào tồn lưu ác tính, KN: kháng

nguyên

ABSTRACT

ABBERANT IMMUNOPHENOTYPES FOR OBSERVING MINIMAL RESIDUAL DISEASE IN

ACUTE LEUKEMIAS

Nguyen Phuong Lien, Nguyen Tan Binh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 314 - 318

Objective: 4 different risk categories of minimal residual disease (MRD) in acute leukemias mainly rely

on the immunophenotypic aberrancies or leukemia-associated phenotypes (LAP) observed at diagnosing and following time point

Method: Cohort - descriptive research From April to December 2010, we used many fluorescence

monoclonal antibodies and 4-5 immunostaining combinations to analyse 59 samples after induction treatment on FACS Canto II with Diva software at Blood Transfusion and Hematology Hospital

Results: Based on 4 MRD levels, of 43 patients with B-ALL: 48,8% at the low risk (0,01%–<0,1% cells), 41,9% at the intermediate risk (0,1%–<1% cells) and 3 pateints relapsed after 4 follow-up months; of

16 pateints with AML: 68.8% at intermediate risk Common LAPs are cross-lineage and asynchronous antigen expressions

Trang 2

Conclusion: Flow cytometry can distinguish the malignant from regeneration of the normal blasts in

bone marrow samples which morphology can’t detect Using immunophenotypical investigation, 4 levels of MRD after induction therapy provide early prognostic assessment

Keywords: minimal residual disease, leukemia-associated phenotypes, acute leukemia, immunostaining

combinations, MRD levels

ABR: MRD: minimal residual disease, ALL: acute lymphononic leukemia, AML: acute myeloid

leukemia, LAP: leukemia-associated phenotypes

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đáp ứng sớm với điều trị là một yếu tố tiên

lượng quan trọng đối với bệnh BCC Phân tích

hình thái học của tủy xương sau điều trị rất

cần thiết để xác định nhóm bệnh nhân không

đạt lui bệnh hoàn toàn và có tiên lượng rất

xấu Tuy nhiên, trong số những người đang lui

bệnh hoàn toàn vẫn có một tần suất tái phát

cao không thể tiên lượng bằng hình thái, vì thế

cần phải có một phương pháp khác cho phép

phát hiện TBTLAT ở mức độ thấp hơn Nhiều

nghiên cứu đã chứng minh đánh giá sớm mẫu

tủy sau điều trị bằng kỹ thuật DAMDTB có thể

xác định 4 mức độ TBTLAT(4,11)

Chúng tôi sử dụng bộ những kháng thể

đơn dòng có gắn huỳnh quang đang được sử

dụng tại bệnh viện Truyền Máu Huyết Học,

thành phố Hồ Chí Minh để theo dõi TBTLAT

trên mẫu tủy đầu tiên lui bệnh hoàn toàn sau

giai đoạn tấn công của bệnh nhân mắc bệnh

BCC dòng lymphô B và BCC dòng tủy với mục

đích đánh giá và tiên lượng sớm kết quả điều

trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả kết quả lâm sàng tiến cứu

Dân số nghiên cứu

Những bệnh nhân mắc bệnh BCC tại bệnh

viện TMHH, TP HCM

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Là bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh

BCC dòng lymphô B hoặc BCC dòng tủy, có

ghi nhận những kiểu hình DAMD bất thường

lúc chẩn đoán, đã lui bệnh hoàn toàn sau điều

trị tấn công, chấp nhận thực hiện xét nghiệm DAMD lần 2 để theo dõi TBTLAT

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân mắc các bệnh khác: bạch cầu mạn dòng lymphô hoặc dòng tủy, các bệnh tăng sinh dòng lymphô hoặc lymphoma, các bệnh tăng sinh tủy hoặc loạn sinh tủy, các bệnh nhân BCC không lui bệnh hoàn toàn sau điều trị tấn công, hoặc bệnh nhân không đồng

ý tham gia xét nghiệm

Kỹ thuật

Sử dụng những mẫu tủy hút được giữ chống đông (bằng ACD, Heparin hoặc EDTA) đem nhuộm với các kháng thể đơn dòng gắn huỳnh quang khoảng 10 phút, ở nhiệt độ phòng, trong bóng tối Sau đó, loại bỏ hồng cầu bằng dung dịch amonium chloride và cố định mẫu bằng paraformaldehyde 1% trước khi được rửa sạch Một số trường hợp cần thiết, mẫu tủy tiếp tục được làm tăng tính thấm bề mặt để nhuộm với các kháng thể đơn dòng trong nhân hoặc trong tế bào chất (như TdT, cyCD79a, MPO, cyCD3) Cuối cùng mẫu tủy sẽ được thu thập bằng hệ thống máy FACS CantoII và được phân tích trên phần mềm FACSDiva verson 2.1 của hãng Becton Dickinson (Mỹ) Các mẫu tủy trước và sau điều trị đều được nhuộm với cùng một bộ thuốc thử (gồm 21 CD kết hợp 4-5 màu huỳnh quang): CD19-FITC, CD19-PE, CD22-PE, CD20-Per.CP, CD34-APC, CD34-FITC, TdT-FITC, CD10-PE, CD45-Per.CP, CD45-PE.Cy5, CD3-FITC, CD5-FITC, CD7-FITC, HLA.DR-FITC, CD14-HLA.DR-FITC, CD4-PE, CD33-PE,

CD13-PE, CD13-APC, CD2-CD13-PE, CD56-APC, CD8-APC, CD15-CD8-APC, CD36-CD8-APC, CD117-PE

Trang 3

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm của các mẫu tủy

Tuổi trung bình

(dãy)

<15 tuổi

>15 tuổi

5,65 ±5,35 (1 – 29)

41

2

30,19 ±18,52 (2 – 62)

5

11

12,31 ± 15,18 (1 – 62)

46

13

Tỉ lệ trung bình tế bào non sau tấn

công lui bệnh (%) 4,3 ± 2,98

(0,8 – 12)

4,26 ± 1,7 (2,4 – 8,4)

4,3 ± 2,67 (0,8 – 12)

Tỉ lệ trung bình tế bào non với LAP+

lúc chẩn đoán (%) 42,06 ± 14,78

(12 – 89)

31,,64 ± 10,45 (10 – 47)

39,23 ± 14,43 (10 – 89)

Tỉ lệ trung bình tế bào non với LAP+

sau tấn công (%) 0,174 ± 0,195

(0,01 – 0,779)

0,22 ± 0,25 (0,006 – 0,970)

0,186 ± 0,209 (0,001 – 0,970) Thời gian theo dõi bệnh nhân

(tháng)

3,9 ±1,55 (1 – 6)

3,56 ± 1,63 (1 – 6)

3,81 ± 1,57 (1 – 6)

Tỉ lệ sống không bệnh sau 4 tháng(%) 88,89% (n=27) 100% (n=10) 91,89% (n=37)

Tỉ lệ trung bình tế bào lymphô B tái

hoạt hóa (%) 2,08 ± 1,77

(0,043 – 9,07)

1,634 ± 0,763 (0,68 – 3,95)

1,95 ± 1,567 (0,043 – 9,07)

Tỉ lệ trung bình tế bào dòng tủy tái hoạt

(0,345 – 7,44)

2,419 ± 1,28 (0,8 – 5,838)

2,2 ± 1,48 (0,345 – 7,44)

Ghi chú: B-ALL: BCC dòng lymphô B, AML: BCC dòng tủy, LAP + : dương tính với kiểu hình DAMD bất thường liên quan đến bệnh BCC

Bảng 2: Các chiến lược phân tích TBTLAT:

Chiến lược xác định các kiểu hình

DAMD bất thường (1, 7)

B-ALL (n=43)

AML (n=16)

Sự xuất hiện KN Khác dòng 40 13

Sự xuất hiện các KN không đồng bộ 29 14

Mất một KN đặc hiệu của dòng 0 0

Sự tăng cao bất thường của một KN 0 0

Chiến lược CD45– Æ yếu 2 0

Ghi chú: B-ALL: BCC dòng lymphô B, AML; BCC dòng

tủy, KN: kháng nguyên

Bảng 3: Phân nhóm yếu tố nguy cơ theo tỉ lệ

TBTLAT:

Nhóm nguy cơ (4,11) B-ALL

n=43 (%)

AML n=16 (%)

< 0,01% 4 (9,3) 2 (12,5)

≥0,01% - <0,1% 21 (48,8) 3 (18,8)

≥0,1% - <1% 18 (41,9) 11 (68,8)

≥1% 0 0 0 0

Bảng 4: Mô tả đặc điểm 3 ca tái phát

Đặc điểm Ca 1 Ca 2 Ca 3

Thời gian tái phát (tháng) 4 5 6

Tỉ lệ blast dương tính với LAP lúc chẩn đoán (%)

38 42 23

Tỉ lệ blast dương tính với LAP sau tấn công (%)

0,05 0,17 0,35

Tỉ lệ tế bào non sau điều trị (%) 0,8 6,5 5

Tỉ lệ trung bình tế bào lymphô B tái hoạt hóa (%)

0,45 3,9 2,215

Tỉ lệ trung bình tế bào dòng tủy tái hoạt hoá (%)

0,3 2,43 2,435

BÀN LUẬN BCC dòng lymphô B

Trong nghiên cứu của chúng tôi có tổng cộng 43 bệnh nhân BCC dòng lympho B, 95,35%

là trẻ em dưới 15 tuổi, và tuổi trung bình là 5,5 tuổi, được điều trị bằng phác đồ FRALLE 2000

và còn lại là 2 bệnh nhân (5,65%) từ 15-29 tuổi, được điều trị bằng phác đồ CALGB Sau giai đoạn tấn công, tất cả đều lui bệnh bằng hình thái học (số lượng tế bào non <5% tế bào tủy)(3) Kết quả này phù hợp với y văn, bệnh BCC dòng lympho B thường gặp ở trẻ em hơn người lớn(5)

Trang 4

Bằng kỹ thuật DAMD, chúng tôi ghi nhận tỉ

lệ trung bình tế bào non trong tủy xương sau tấn

công lui bệnh là 4,3 ± 2,98% tế bào tủy (từ 0,8 –

12%) Trong đó, tỉ lệ trung bình tế bào non

dương tính với những kiểu hình DAMD bất

thường, chính là mật độ TBTLAT, là 0,01 ±

0,779% (từ 0,174 – 0,195%) Như vậy không phải

toàn bộ tế bào non trong tủy xương sau hoá trị

liệu đều là những tế bào ác tính còn sót lại, đa

phần chúng là các tế bào non bình thường tăng

sinh vì sự tái hoạt hóa của tủy sau dùng các

thuốc chống ung thư (6) Chúng tôi ghi nhận có

hai quần thể tế bào non tái sinh được thấy nhiều

nhất thuộc dòng lympho B (2,08 ± 1,77%, từ

0,043 – 9,07% tế bào tủy) và dòng tủy (2,12 ±

1,55%, từ 0,345 – 7,44%) Bằng hình thái học

chúng ta không thể đánh giá được tỉ lệ chính xác

của các quần thể tế bào non như trên

Lập lại các chiến lược xác định các kiểu hình

DAMD bất thường vào lúc chẩn đoán, chúng tôi

nhận thấy những TBTLAT quan sát được sau

điều trị lui bệnh thường mang các kiểu hình liên

quan đến sự xuất hiện các KN khác dòng (93%)

hoặc sự xuất hiện các KN không đồng bộ

(67,44%), hoàn toàn không ghi nhận được các

kiểu hình liên quan đến chiến lược tăng cao bất

thường của một KN hay mất đi một KN đặc

hiệu của dòng Việc sử dụng kết hợp 4-5 màu

giúp dễ dàng nhận định các kiểu hình DAMD

bất thường liên quan đến sự xuất hiện của các

KN khác dòng và KN không đồng bộ(8,9)

Dựa vào 4 mức độ nguy cơ, chúng tôi ghi

nhận 48,8% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ

thấp (≥0,01% - <0,1%) và 41,9% bệnh nhân

thuộc nhóm nguy cơ trung bình (≥0,1% - <1%),

chỉ có 9,3% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ rất

thấp (<0,01%) tương đương với TLTBAT âm

tính (4) Các nhà khoa học trên thế giới cũng đã

chứng minh rằng vào giai đoạn lui bệnh hoàn

toàn dựa vào hình thái học, bệnh nhân BCC

vẫn còn tồn lưu khoảng 1010 tế bào ác tính

trong tủy xương (3) Trong 27 bệnh nhân đã trải

qua ít nhất 4 tháng theo dõi, có 3 bệnh nhân bị

tái phát sớm gồm: 2 bệnh nhân thuộc nhóm

nguy cơ trung bình, và 1 bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp, không phụ thuộc các yếu tố: tuổi, giới, tỉ lệ tế bào non trong tủy sau tấn

công, tỉ lệ tế bào tái hoạt hóa,…

BCC dòng tủy

Số lượng bệnh nhân tham gia nghiên cứu đánh giá TBTLAT của nhóm BCC dòng tủy gồm

16 bệnh nhân, trong đó 68,75% là bệnh nhân > 15 tuổi, tuổi trung bình là 30,2, đã đạt được lui bệnh hoàn toàn về hình thái sau điều trị bằng phác đồ tấn công 7 ngày Daunorubicin và 3 ngày cytosine arabinoside (ARA-C) Tương tự các thống kê khác, nhóm bệnh BCC dòng tủy thường gặp ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn(10) Bằng kỹ thuật DAMD, chúng tôi xác định được tỉ lệ trung bình tế bào non trong tủy xương sau tấn công lui bệnh là 4,26 ± 1,7% (2,4 – 8,4%);

tỉ lệ trung bình TBTLAT sau hóa trị là 0,22 ± 0,25% (0,006 – 0,970%) Hầu hết TBTLAT quan sát được sau điều trị lui bệnh thường mang các kiểu hình liên quan đến sự xuất hiện các KN khác dòng (81,25%) hoặc sự xuất hiện các KN không đồng bộ (87,5%), hoàn toàn không ghi nhận được các kiểu hình liên quan đến chiến lược tăng cao bất thường của một KN hay mất

đi một KN đặc hiệu của dòng Kết quả này cũng được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu khác(2) Sau điều trị tấn công, ở bệnh nhân BCC dòng tủy cũng nhận thấy tình trạng tái hoạt hóa của tế bào non dòng lympho B (1,634 ± 0,763% tế bào tủy) và dòng tủy (2,419 ± 1,28%) Điều này khiến việc phân biệt tế bào non ác tính và tế bào non bình thường trở nên phức tạp, đòi hỏi phải

bổ sung những kết hợp 4-5 màu huỳnh quang(1) Dựa vào 4 mức độ nguy cơ, chúng tôi ghi nhận gần 70% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ trung bình (≥0,1% - <1%), 18% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp (≥0,01% - <0,1%) và 12% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ rất thấp (<0,01%) Tuy nhiên, không ghi nhận hiện tượng tái phát sớm (trong đó có 10 bệnh nhân đã được theo dõi trên 4 tháng) Chúng tôi không thể đưa

ra so sánh hay phân tích sâu hơn do số lượng mẫu chưa nhiều và thời gian theo dõi ngắn

Trang 5

KẾT LUẬN

Kỹ thuật DAMD cho phép phân tích khách

quan tình hình tủy tăng sinh sau hoá trị, đồng

thời là công cụ giúp phân biệt rõ tế bào non ác

tính và tế bào non bình thường của tủy tái hoạt

hóa (mà bằng hình thái học chúng ta không thể

phân biệt được)

Việc đánh giá mật độ TBTLAT dựa vào

DAMD giúp tiên lượng sớm kết quả điều trị của

các bệnh nhân BCC theo 4 nhóm nguy cơ Anh

hưởng của các mức độ nguy cơ thấy rõ nhất là

trong nhóm bệnh BCC dòng lymphô B Tuy

nhiên, cần có những nghiên cứu lớn hơn với thời

gian đủ dài để khẳng định chắc chắn giá trị của

việc đánh giá TBTLAT bằng DAMD

Qua nghiên cứu này chúng tôi cũng thống

nhất với các tác giả nước ngoài rằng trong

tương lai cần bổ sung thêm tiêu chuẩn lui bệnh

bằng DAMD trong định nghĩa về lui bệnh

hoàn toàn

Để chọn được những kiểu DAMD bất

thường có độ đặc hiệu cao, nhóm nghiên cứu đã

thực hiện kiểm tra đối chứng trên một số mẫu

máu và mẫu tủy bình thường Do đó, các kiểu

hình DAMD bất thường sử dụng trong nghiên

này là những kiểu hình với độ nhạy cao, có thể

giúp tìm ra những tế bào bạch cầu ác tính còn

sót lại ở những mẫu tủy sau điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al-Mawali A, Gillis D, Hissaria P, Lewis I (2008) Incidence,

sensitivity, and specificity of leukemia-associated phenotypes

in acute myeloid leukemia using specific five-color

multiparameter flow cytometry Am J Clin Pathol; 129 (6),

pp.934-945

2 Al-Mawali A, Gillis D, Lewis I (2009) The role of

multiparameter flow cytometry for detection of minimal

residual disease in acute myeloid leukemia Am J Clin Pathol;

131 (1), pp.16-26

3 Campana D, Coustan-Smith E (1999) Detection of minimal residual disease in acute leukemia by flow cytometry

Cytometry; 38 (4), pp.139-152

4 Coustan-Smith E, Sancho J, Behm FG, Hancock ML, Razzouk

BI, Ribeiro RC, Rivera GK, Rubnitz JE, Sandlund JT, Pui CH, Campana D (2002) Prognostic importance of measuring early clearance of leukemic cells by flow cytometry in childhood

acute lymphoblastic leukemia Blood; 100 (1), pp.52-58

5 Dongen Jv, Szczepánski T, Adriaansen H (2002)

Immunophenobiology of leukemia Leukemia, 7th edition;

Saunders, Philadelphia, USA, pp.85-130

6 6ochem Ev, Wiegers Y, Beemd Rvd, Hhlen K, Dongen Jv, Hooijkaas H (2000) Regeneration pattern of precursor-B-cells

in bone marrow of acute lymphoblastic leukemia patients

depends on the type of preceding chemotherapy Leukemia;

14 (4), pp.688-695

7 Lucio P, Gaipa G, van Lochem EG, van Wering ER, Porwit-MacDonald A, Faria T, Bjorklund E, Biondi A, van den Beemd MW, Baars E, Vidriales B, Parreira A, van Dongen JJ, San Miguel JF, Orfao A (2001) BIOMED-I concerted action report: flow cytometric immunophenotyping of precursor B-ALL with standardized triple-stainings BIOMED-1 Concerted Action Investigation of Minimal Residual Disease

in Acute Leukemia: International Standardization and

Clinical Evaluation Leukemia; 15 (8), pp.1185-1192

8 Lucio P, Parreira A, van den Beemd MW, van Lochem EG, van Wering ER, Baars E, Porwit-MacDonald A, Bjorklund E, Gaipa G, Biondi A, Orfao A, Janossy G, van Dongen JJ, San Miguel JF (1999) Flow cytometric analysis of normal B cell differentiation: a frame of reference for the detection of

minimal residual disease in precursor-B-ALL Leukemia; 13

(3), pp.419-427

9 Nagler A, Condiotti R, Rabinowitz R, Schlesinger M, Nguyen

M, Terstappen LW (1999) Detection of minimal residual disease (MRD) after bone marrow transplantation (BMT) by

multi-parameter flow cytometry (MPFC) Med Oncol; 16 (3),

pp.177-187

10 Rohatiner A, Lister TA (2002) Acute myeloid leukemia

Leukemia, 7th edition; Saunder, Pennnsylvania, USA,

pp.485-518

11 San Miguel JF, Vidriales MB, Lopez-Berges C, Diaz-Mediavilla J, Gutierrez N, Canizo C, Ramos F, Calmuntia MJ, Perez JJ, Gonzalez M, Orfao A (2001) Early immunophenotypical evaluation of minimal residual disease

in acute myeloid leukemia identifies different patient risk groups and may contribute to postinduction treatment

stratification Blood; 98 (6), pp.1746-1751

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w