Mục tiêu: Cải tiến PP phẫu thuật điều trị chứng ướt bàn tay do MH qua NSLN để có thể mổ cả 2 lồng ngực trong 1 lần mổ và để giảm tiết MHBT. 1- Cắt TKGC ngực qua NS 2 bên với 1 thế nằm của người bệnh. 2- Chỉ cắt đứt TKGC trên các sườn 2 và 3 mà không cắt bỏ cả đoạn. Phương pháp: Cải tiến thế nằm, đường mổ : - Thế nằm: người bệnh nằm sấp sau khi gây mê với thông khí chọn lọc, kê gối ngang dưới ngực.
Trang 160 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ ƯỚT BÀN TAY DO MỒ HÔI
QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC CẢI TIẾN TRÊN 1089 TH
Văn Tần*, Hồ Nam* và CS
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Cắt bỏ thần kinh giao cảm (TKGC) ngực trong điều trị ướt bàn tay do mồ hôi là cắt lấy đi
đoạn TKGC từ sườn 2 đến sườn 4 trong lồng ngực Đó cũng là cách điều trị các chứng ướt nách do mồ hôi (MH), hội chứng Raynaud và causalgia, bệnh Buerger ở chi trên Lổ khoan vào ngực để nội soi (NS) thường trên đường nách giữa với thế nằm nghiêng của người bệnh Với PP phẫu thuật này, 1 hậu quả có thể xẩy ra là đổ mồ hôi bù trừ (MHBT) 1 tỉ lệ khá cao Nhiều báo cáo cho thấy kết quả khô bàn tay đạt trên 98 % nhưng tỉ lệ đổ MHBT có thể lên đến 70%
Mục tiêu: Cải tiến PP phẫu thuật điều trị chứng ướt bàn tay do MH qua NSLN để có thể mổ cả 2 lồng ngực
trong 1 lần mổ và để giảm tiết MHBT 1- Cắt TKGC ngực qua NS 2 bên với 1 thế nằm của người bệnh 2- Chỉ cắt đứt TKGC trên các sườn 2 và 3 mà không cắt bỏ cả đoạn
Phương pháp: Cải tiến thế nằm, đường mổ : - Thế nằm: người bệnh nằm sấp sau khi gây mê với thông khí chọn lọc, kê gối ngang dưới ngực - Đường vào: soi và mổ qua 2 lỗ vào ngực trên đường nách sau Cải tiến
PP phẫu thuật: Cắt đốt làm đứt các đoạn TKGC trên sườn 2 và 3 Dụng cu: Máy nội soi Olympus và Storz với 2 trocar ngắn, không van 10 ly và 5 ly BS phẫu thuật: Từ 1 BS phẫu thuật trong 2 năm 1996-1997 đến 7 BS đã mổ được sau năm 2000 của khoa Ngoại Lồng ngực-Mạch máu BV Bình Dân
Bệnh nhân: Tất cả người bị ướt bàn tay do MH, gây trở ngại lao động, học tập, sinh hoạt, giao tiếp xã hội
đến yêu cầu điều trị tại BV Bình Dân từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 9 năm 2003 2 nhóm bệnh nhân chọn ngẫu nhiên được áp dụng 2 PP phẫu thuật khác nhau:
1- Nhóm 1 mổ với thế nằm nghiêng, lỗ vào qua đường nách giữa, cả 3 đoạn TKGC 2, 3, 4 phải cắt bỏ 2- Nhóm 2, nằm sấp, lỗ vào qua đường nách sau, chỉ cắt đứt đoạn TKGC trên các sườn 2 và 3
Tỉ lệ nam/nữ là 3/2, tuổi trung bình là 25, hơn ½ đến từ các tỉnh Hầu hết là học sinh, sinh viên và công nhân Cả 2 nhóm không có sự khác biệt về tuổi tác, nam nữ, nghề nghiệp và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Kết quả: 1089 người bệnh được mổ: nhóm 1 có 102 và nhóm 2 có 987 Trừ 1 trường hợp (TH) không thể
thực hiện phẫu thuật vì không đặt được ống nội khí quản để gây mê và 9 TH chỉ cắt được TKGC 1 bên vì bên kia phổi dính nhiều vào thành ngực, kết quả phẫu thuật đạt được như sau:
- Tỉ lệ khô bàn tay sau mổ ở nhóm 1 là 97,3 %, nhóm 2 là 96 % Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
- Tỉ lệ đổ MHBT ở các nơi khác của cơ thể ở nhóm 1: 41 %, ở nhóm 2: 22 % Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
- Tỉ lệ đổ mồ hôi bù trừ quá nhiều gây khó chịu ở nhóm 1 là 4 %, ở nhóm 2 là 0 %
- Thời gian mổ và số lỗ khoan vào ngực giảm ở nhóm 2, 2 lổ so với 3 lổ ở nhóm 1
- Ở cả 2 nhóm, mỗi nhóm có 1 TH phải dẫn lưu màng phổi 24 giờ Tất cả đều không dùng kháng sinh và chưa có TH nào bị nhiễm trùng vết mổ hay trong lồng ngực Tất cả đều được chụp phổi kiểm tra ngay sau mổ, được xuất viện ngày hôm sau Ngoài 2 TH phải dẫn lưu màng phổi vì tràn khí lượng trung bình, không có TH nào bị BC khác trong và sau mổ
* BV Bình Dân, TP Hồ Chí Minh
Trang 2- Trong theo dõi từ 3 tháng đến 8 năm, trung bình là 40 tháng trên 80 % TH, chỉ có 3 TH ở nhóm 2 và 1
TH ở nhóm 1 tái phát một bên và 1 TH đã mổ lại với kết quả rất tốt
Bàn luận: Ở trong nước, Nguyễn Thường Xuân đã điều trị chứng bệnh này bằng cách cắt bỏ TKGC qua
mở ngực hay chích nước sôi để phá hủy Ở nước ngoài, NSLN để điều trị chứng ướt bàn tay do MH đã được báo cáo nhiều trong các hội nghị NS và kết quả làm khô bàn tay là từ 95 đến 100% nhưng tỉ lệ đổ MHBT thì không khắc phục được Nghiên cứu của chúng tôi đã đạt được tỉ lệ khô bàn tay như họ và giảm được rất đáng kể tỉ lệ đổ MHBT ở những nơi khác Riêng về thế nằm sấp của bệnh nhân để mổ 2 bên 1 lần được Hann báo cáo lần đầu tại hội nghị NS Au-Á Istanbul năm 1997 Tác giả đã thực hiện 9 TH với ống thông NKQ 1 nòng và phải bơm CO 2 để làm xẹp phổi Vì số liệu qúa ít nên tác giả chỉ kết luận là tiện lợi vì mổ 2 ngực với 1 thế nằm Sau Hội nghị, chúng tôi đã ứng dụng thế nằm này nhưng lại dùng ống NKQ 2 nòng, thông khí chọn lọc nên không cần bơm CO 2 và chỉ dùng 2 trocar thay vì 3 trocar như Hann và đã đạt được các kết quả như ý muốn
Kết luận: Cắt TKGC ngực để điều tri chứng ướt bàn tay do MH qua NSLN với tư thế nằm sấp, lỗ vào trên
đường nách sau và chỉ cắt đốt TKGC trên sườn 2 và 3 là phẫu thuật dễ thực hiện và đạt được hiệu quả cao, ít gây BC, giảm thiểu tỉ lệ đổ MHBT, giảm thiểu ngày nằm viện, giảm thiểu ngày nghĩ lao động, ít đau sau mổ và vết sẹo nhỏ, khó thấy
Từ khóa: Nội soi lồng ngực (NSLN) điều trị ướt bàn tay do mồ hôi
SUMMARY
RESULT OF MODIFIED THORACOSCOPIC SYMPATHECTOMY TO TREAT THE
PALMAR HYPERHYDROSIS FOR 1089 CASES
Văn Tan, Ho Nam et al * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8 * Supplement of No 1 * 2004: 395 - 402
Background: Standard Thoracic Sympathectomy (TS) involves removal of the sympathetic nerve (SN)
with thoracic ganglia 2, 3 and 4 This is the standard approach for palmar hyperhidrosis (PH), Raynaud’s phenomena, Buerger’s disease and causalgia There are many surgical approaches and techniques for TS: By these procedures, many reports showed over 95 % of the wet hand having been cured, though a high compensary sweating (CSw) rate, from 21 to 70 % is reported in many researches
Purpose: We modify the techniques in treating the PH to get 2 aims: - To practice the bilateral TS with 1 patient position - To reduce the rate of CSw
Method: 1- As approach, patient is in prone position 2- As treatment, only the SN on T2 and T3 is cut
without removal
The Olympus and Storz laparoscopic system is used with short trocars without valve: 10 and 5 mms
A double lumen tracheal intubation is used for selective one side lung collapse
The results are randomized with a group operated by lateral position with the SN removal from T2 to T4 From August 1996 to September 2003, in 1089 patients operated (besides 1 case that we can’t intubate and 9 cases, the SN of one side can’t be cut because dense adhesions), there are:
- 102 patients of group 1: the SN from T2 to T4 was dissected and removed Patients were on the right then on left lateral decubitus with a 3 ports procedure
- 987 patients of group II: the SN on T2 and T3 were cut without removal Patients were on prone position with a 2 ports procedure
The middle age, 25, the gender rate male/female, 3/2, the occupations (almost are students and young workers), the history of disease, the clinical and the paraclinical characteristics of 2 groups are almost the same
Trang 3Results: The rate of wet hand being cured were 97% in the group I and 96 % in the group II The CSw of
the group I is 41% with 4 %, severe sweating and of the group II, the rate, only 22% and none having had severe sweating The other intra and post operative complications are the same The operative time and the ports are reduced in the group II, 2 ports in comparision with 3 ports There are any technical difficulties in group II in comparision with group I In the follow-up from 3 months to 8 years, (40 months average) in more than 80 % of cases; there are only 1 case in the group I and 4 cases in the group II that the PH recurs in one side
Dicussion: In Việt Nam, besides the sympathetectomy by thoracotomy, some authors have had treated the
PH by injection of hot water into the thoracic SN but they got uncertain results Many foreign authors have performed the TS and got good results though a high CSw is observed In our study, we get the same rate of wet hand cured but the CSw is reduced a lot About approach, Hann reported 9 cases operated with the posterior approach on the Euro-Asian Congress of Endoscopic Surgery, Istanbul 1997 For getting lung collapse, he used single lumen tracheal intubation with CO 2 inflated under pression We use double lumen tracheal intubation to create room by selective lung collapse, so the surgical procedure can be practiced easily
Conclusion: With posterior approach, we can practice the sympathetectomy of both thoracic cavities in
one patient position The transection of sympathetic nerve on the T2 and T3 is sufficient to cure 96% of wet
hands and can reduce a lot of the CSw Recurrence of wet hand after the procedure is seldom in middle term follow-up
.TỔNG QUAN
NSLN để điều trị ngày càng phát triển Những
năm sau này, hầu hết các phẫu thuật trong lồng ngực
đều có thể thực hiện qua NS(9,10,11)
Ở bệnh viện chúng tôi, phẫu thuật các bộ phận ở
trong lồng ngực qua NS được thực hiện từ năm 1996,
hơn 3 năm sau khi ứng dụng NS ổ bụng để điều trị(9)
NSLN cắt bỏ một số đoạn TKGC để điều trị chứng
ướt bàn tay do mồ hôi, chứng Raynaud, bệnh Buerger
đã được ứng dụng nhiều nơi trên thế giơi(7,13) Ngày
nay, hầu như không còn ai mở ngực để cắt TKGC như
trước đây(14) Với những thế năm và đường mổ để cho
dụng cụ vào, với những PP phẫu thuật khác nhau như
cắt bỏ các đoạn TKGC, các hạch giao cảm và các
nhánh trên sườn 2,3,4 hay chỉ kẹp thân, cắt các nhánh
mà không cắt thân và hạch thần kinh(1,2,5,7,11,12,13,15) đều
đạt kết quả làm khô bàn tay gần giống nhau ngoại trừ
tỉ lệ đổ MHBT sau mổ Đổ MHBT như vậy, nếu ít thì
không mấy khó chịu nhưng nếu nhiều thì thật rác rối
vì tuy bàn tay thì khô nhưng các nơi khác trên thân,
suốt ngày bị đẩm ướt
Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu cải tiến PP phẫu thuật qua NSLN để điều trị chứng ướt bàn tay do MH nhằm làm cho phẫu thuật đơn giãn, dễ phổ biến hơn và nhằm giảm tỉ lệ đổ MHBT
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bệnh nhân
Chúng tôi tiền cứu tất cả các TH cắt TKGC ngực qua NSLN ở những bệnh nhân bị ướt bàn tay do mồ hôi, gây trở ngại lao động đến điều trị tại BV Bình Dân từ tháng 8 năm 1996 đến tháng hết tháng 9/2003 (hình 1) Tỷ lệ nam/nữ là 3/2, tuổi trung bình
25, hơn 50% bệnh đến từ các tỉnh Đa số là học sinh, sinh viên và người lao động trẻ, có bệnh sử đổ mồ hôi cả 2 tay từ nhỏ
Trang 4Hình 1 Phương tiện phẫu thuật:
Chúng tôi sử dụng máy của hãng Olympus và
Storz với những Trocar ngắn không van, một Camera
với nguồn sáng thẳng 10 ly, và 1 cây cắt-đốt điện 5 ly,
có khi phải dùng thêm một dụng cụ để ép phổi và
một kéo cắt có cùng kích thước là 5 ly (hình 2)
Hình 2
Gây mê dùng ống thông nội khí quản 2 nòng
(hình 3) cho đa số các TH, để có thể cho xẹp phổi
từng bên Nếu không có hay không đặt được thì có
thể dùng ống thông khí quản 1 nòng với điều kiện là
phải thao tác nhanh để thời gian gây mê cho xẹp phổi
không quá 5 phút
Hình 3
BS phẫu thuật
Từ năm 1996 đến hết năm 1997, chỉ có 1 BS
phẫu thuật thực hiện nhưng sau năm 2000, chúng tôi
có 7 BS có thể mổ được với phương pháp này
Tư thế bệnh nhân
102 bệnh nhân nhóm 1, mổ ở thế nằm nghiêng (hình 4) và 987 nhóm 2, mổ ở thế nằm sấp (hình 5) Mỗi người bệnh đều được làm 1 bệnh án theo mẫu nghiên cứu Giữa 2 nhóm chọn ngẫu nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa về thống kê trên tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp cũng các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiền căn
Hình 4
Hình 5 Đường vào ngực:
Lỗ vào của nguồn sáng và cây cắt đốt điện nằm trên đường nách giữa (nằm nghiêng ở nhóm 1) (hình 6) hay trên đường nách sau, nằm sấp ở nhóm 2 (hình 5)
Hình 6 Phẫu thuật
Ở nhóm 1, cắt bỏ các đoạn TKGC nằm từ sườn 2
đến sườn 4 (hình 7); ở nhóm 2, cắt đốt mà không cắt bỏ TKGC trên sườn 2 hay cả trên sườn 3 (hình 8, 9)
Trang 5Không dẫn lưu xoang màng phổi sau mổ ở cả 2 nhóm
(hình 10)
Chụp phổi kiểm tra khi bệnh hồi tỉnh
Hình 8
Hình 9
Hình 10
KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT
Thế nằm và kết quả
-Nằm nghiêng: 102 TH Cắt xong một bên phải
xoay bệnh nhân lại để cắt bên kia
-Nằm sấp: 987 TH Không phải đổi tư thế người
bệnh, nên không cần thay đồ vải, áo mổ và găng
Thế nằm sấp có nhiều thuận lợi hơn thế nằm
nghiêng trong mổ cắt TKGC ngực 2 bên qua NS do
không phải đổi thế năm, rửa, sát trùng lại da lồng
ngực, không thay đồ vải và dụng cụ phẫu thuật Thế
nằm sấp cũng thuận lợi cho gây mê, chỉ xoay trở
người bệnh 1 lần, thay vì 2 lần trong thế nằm
nghiêng Không có TH nào phải chuyển từ thế nằm
sấp qua thế nằm nghiêng để mổ
Số đoạn TKGC phải cắt bỏ hay cắt đứt và kết quả
-Cắt bỏ cả đoạn TKGC trên các sườn 2, 3 và 4:
101 BN 1 TH không thực hiện được vì không đặt ống thông nội khí quản được
·Kết quả bàn tay khô hoàn toàn: 97,5%
·Đổ MHBT nơi khác là 41%, đổ MHBT nặng: 4%
·Phải khoan 3 lỗ vào lồng ngực mỗi bên: 10
mm, 5 mm, 5 mm
·Thời gian mổ trung bình là 20 phút, không kể thời gian gây mê
·Có 2 BN chỉ cắt được 1 bên vì bên kia phổi dính nhiều vào thành ngực
·1 BN phải dẫn lưu xoang màng phổi 24 giờ vì bị tràn khí
-Cắt đứt TKGC trên sườn 2 hay trên 2 và trên sườn 3: 987 BN
·Có 7 BN chỉ cắt được 1 bên, bên kia phổi dính nhiều vào thành ngực
·Kết quả là bàn tay khô hoàn toàn: 96%,
·Đổ MHBT ở những nơi khác trên cơ thể: 24%, không có BN nào đổ MHBT nhiều phải than phiền
·Khoan 2 lỗ vào lồng ngực mỗi bên: 10 mm, 5
mm
- Thời gian mổ trung bình là 10 phút, không kể thời gian gây mê
Như vậy, trừ một số ít TH phổi dính nhiều vào thành ngực 1 bên hay cả 2 bên, phẫu thuật NSLN không thực hiện được đầy đủ, thao tác phẫu thuật không gặp khó khăn ở cả 2 vị trí nằm của người bệnh, kết quả làm khô bàn tay sau mổ ở cả 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê: 96% và 97.5%ø, Đổ MHBT giảm rõ rệt có ý nghĩa ở nhóm 2 so với nhóm 1, 24% so với 41% và đổ MHBT nặng ở nhóm 2 không gặp TH nào so với nhóm 1 là 4%, thời gian mổ
ở nhóm 2 chỉ bằng ½ nhóm 1, 10 phút ở nhóm 2 so với 20 phút ở nhóm 1
Trang 6Ở cả 2 nhóm, không dùng kháng sinh, thuốc
giảm đau chỉ cho 1-2 liều ngay sau mổ Tất cả đều
được xuất viện ngày hôm sau và không có TH nào bị
những biến chứng khác và bị nhiễm trùng
Hiệu quả điều trị
Theo dõi trung bình là 38 tháng (ngắn nhất là 3
tháng và dài nhất là 8 năm), ngoài vấn đề đổ MHBT,
không thấy ai than phiền về một thay đổi nào khác
trên cơ thể Có 4 BN tái phát ở nhóm 2; 1 BN đã mổ
lại, khi mổ thấy còn 1 sợi thần kinh giao cảm phụ
Gây mê và phẫu thuật lần 2 cũng dãn đơn như lần
đầu Chúng tội đã cắt lại TKGC và kết quả tức thời rất
tốt Chúng tôi đang theo dõi và sẽ mổ lại sau 3 tháng
3 BN kia, nếu tình trạng ướt bàn tay vẫn còn(19,20)
BÀN LUẬN
Từ những tháng cuối năm 1996, chúng tôi đã
ứng dụng NSLN để cắt bỏ đoạn TKGC từ trên sườn số
2 đến sườn số 4 để điều trị chứng ướt bàn tay do mồ
hôi 99% TH phẫu thuật thực hiện được, bàn tay khô
tức thời sau mổ Trong theo dõi, chúng tôi thấy kết
quả khô bàn tay đến 97% nhưng biến chứng đổ
MHBT ở các nơi khác trên cơ thể quá cao và có thể
gây phiền hà cho người bệnh, nhất là một số BN bị đổ
mồ hôi bù trừ quá nhiều(9,10), chúng tôi cải tiến
phương pháp mổ: chỉ cắt đứt TKGC ngực trên sườn 2
hay cả trên sườn 3 (vì TKGC ở những người này có
nhiều nhánh nhỏ)(11)
Chúng tôi đã đạt được kết quả tức thời và lâu dài
(38 tháng) về khô bàn tay không khác gì ở nhóm 1,
nhưng ở nhóm sau này, tỷ lệ đổ MHBT giảm rất đáng
kể và không còn ai than phiền đổ MHBT quá nhiều ở
những nơi khác của cơ thể Chỉ có 0.4%(4) TH tái phát
ở nhóm 2, một tỉ lệ rất thấp
Ở cả 2 nhóm, tỷ lệ khô bàn tay hoàn toàn sau mổ
đạt trên 96%, số còn lại tuy bàn tay chưa hoàn toàn
khô, nhưng không còn quá ướt như trước(19,20)
Kỹ thuật này mô phỏng theo các tác giả Đài
Loan(3,5,6,18), và mới đây, các tác giả Saudi Arabia(22)
chỉ cắt ngang hay chỉ kẹp TKGC trên sườn số 2 cũng
đạt được kết quả đủ khô bàn tay với tỷ lệ cao(3,5,6) Các
tác giả cho biết chỉ kẹp là vì sợ khi bị biến chứng đồ MHBT quá nhiều, khi đó có thê đảo ngược tình trạng trên bằng cách lấy bỏ clip Các tác giả Hồng Kông(12) thì tán trợ cắt TKGC trên cả hai sườn 2 và 3 nhưng trước khi cắt phải thử xem chứng đổ mồi hôi tay của người bệnh có đáp ứng với phong bế TKGC không Các tác giả Do Thái và Đài Loan(8,18) đã thực hiện số người cắt TKGC nhiều nhất (cả mở ngực lẫn nội soi) và đã báo cáo trong các hội nghị NS thế giới, cho thấy kết quả làm khô tay gần 100% Ngoài biến chứng đổ MHBT ở các nơi khác của cơ thể, với 1302 trường hợp, các tác giả Đài Loan cho thấy có một số bị tràn khí hay cả tràn khí tràn máu nhẹ và có 2 TH ngưng tim trong lúc mổ (nhưng không tử vong), còn đau ngực và những biến chứng khác sau mổ thì không đáng kể Các tác giả Nhật(23) đã báo cáo kinh nghiệm về nhiều TH cắt thần kinh giao cảm chỉ bằng 1 camera 2.5 ly có gắn probe cắt –đôt điện, sau mổ không để lại sẹo vẫn đạt được kết quả rất tốt
Vấn đề đổ MHBT ở những nơi khác của cơ thể là điều rất đáng quan tâm sau mổ cắt TKGC ngực để điều trị chứng ướt bàn tay do MH, vì vậy, nhiều tác giả đã cải tiến cách mổ như chỉ cắt các nhánh của đoạn TKGC 2, 3, 4 mà không cắt đứt thân chính như phương pháp Wittmoser(1,15), chỉ cắt TKGC trên sườn số 2 và 3 như các tác giả Hồng Kông, Việt Nam(10,12) hay chỉ kẹp clip mà không cắt, phòng khi bị đổ MHBT quá nhiều thì mổ lại gỡ bỏ clip như các tác giả Đài Loan(6) Ngoài ra các tác giả còn cắt TKGC trên sườn số
2 để điều trị viêm mũi dị ứng, cắt TKGC trên sườn số 4 để chữa mồ hôi nách(4), cắt TKGC trên sườn số 5,6,7 ngay trên cơ hoành, để điều các chứng đau do ung thư các tạng ở tầng trên ổ bụng ở giai đoạn trễ hay viêm tụy mạn, đã thâu lượm được kết quả khả quan
Ở BV Bình Dân, chúng tôi đã khởi sự nghiên cứu điều trị chứng đổ mồ hôi nách bằng cách cắt TKGC số 4 và chống đau không chịu nổi các tạng trong ổ bụng do ung thư tụy, bao tử bằng cách cắt thần kinh giao cảm 5,6,7 Riêng về bệnh Buerger, hội chứng Raynaud và Causalgia, hàng chục TH đã được NSLN cắt TKGC (thường là 1 bên) đạt kết quả rất khích lệ Về thế nằm, vì phải cắt TKGC một lần ở cả 2 lồng
Trang 7ngực, nên chúng tôi cần tìm một thế nằm để có thể
thực hiện phẫu thuật cả 2 bên mà không phải thay
đổi tư thế bệnh nhân, không thay đồ vải, áo mổ và
nhất là gây khó khăn cho gây mê Sau một vài lần
gặp trở ngại như xương sườn sát vào nhau khó khoan
lỗ 10 mm cho camera vào, lỗ vào của camera và cây
cắt đốt quá gần nhau nên dễ chạm vào nhau, lỗ vào
của cây cắt đốt quá về phía sau khó với tới được TKGC
ở sát cột sống; nhưng khi đã có kinh nghiệm chúng
tôi thấy thế nằm sấp là thế có nhiều thuận lợi(2,10,21)
Vì phải mổ 1 lần cả 2 lồng ngực phải và trái nên tìm
một thế nằm mà không phải xoay trở người bệnh
trong lúc ngủ mê có thông nội khí quản là cần thiết
vì cần tránh xáo trộn về huyết động học cho người
bệnh, tránh gây khó khăn cho người gây mê và tránh
thay đổi đồ vải, dụng cụ mổ cho người làm dụng
cu(21)ï Tuy nhiên một số nhà phẫu thuật khác cho là
với vị trí này khó thực hiện phẫu thuật hơn là thế
nằm nghiêng và để cắt đốt phải cần đến tia Laser(17)
KẾT LUẬN
Sau khi tìm tòi, cải tiến liên tục các công đoạn
cũng như các phương pháp phẫu thuật, vừa đem
lại kết quả tối ưu, vừa tiện lợi cho người bệnh cũng
như kíp mổ, chúng tôi thấy chỉ cần cắt đứt TKGC
ngực trên sườn 2 hay cả trên sườn 2 lẫn 3 với
thế nằm sấp của người bệnh là phẫu thuật đơn
giãn, có thể làm khô bàn tay trên 95% TH mà
không bị đổ MHBT nặng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Gossot d et al - Endoscopic thoracic sympathectomy for
hyperhidrosis of Wittmoser’s technique and
conventional technique- Euro-Asian congress of
endoscopic surgery- Istanbul, Turkey, 17-21 June
1997
thoracoscopic sympathectomy- Euro-Asian congress of
endoscopic surgery - Istanbul, Turkey, 17-21 June
1997
thoracoscopic t2-sympathetic block by clipping in
hyperhidrosis- Euro-Asian congress of endoscopic
surgery - Istanbul, Turkey, 17-21 June 1997
4.Lin c.c - Thoracoscopic t2-symphathectomy for rhinitis :
a preliminary study- Euro-Asian congress of
endoscopic surgery- Istanbul, Turkey, 17-21 June
1997
5.Lin c c et al - Nerve stenosis procedure for management
of hyperhidrosis palmaris: animal experiment- Euro-Asian congress of endoscopic surgery- Istanbul, Turkey, 17-21June 1997
6.Lin c c et al - Thoracoscopic t2-sympathectomy block by
clipping : it’s technique and operative results- Euro-Asian congress of endoscopic surgery - Istanbul, Turkey, 17-21 June 1997
7.Mack P et al - Thoracoscopic sympathectomy - manual of
basic operative thoracic surgery, 1993
sympathectomy in the treatment of palmar hyperhidrosis : a review of 1000 patients- Euro-Asian congress of endoscopic surgery- Istanbul, Turkey,
17-21 June 1997
9.Van Tan et al - Preliminary results of endoscopic thoracic
sympathectomy at Binh Dan hospital - Journal of thoracic and vascular society of HCM city, January
1997
thoracoscopic sympathectomy - report on August 23,
1997 meeting of thoracic and vascular society of HCM city
11.Van Tan et al: Result of thoracoscopic sympathectomy of
96 palmar hyperhydrosis, reported in 13th Biennial Asian Congress on thoracic and cardiovascular surgery, Sidney-Australia,12-15, October 1997 Published as original article in Annals of Thoracic and Cardiovascular Surgery, Vol 4, No 5, October 1998
12.Tai YP et al : Thoracoscopic sympathectomy for palmar
hyperhidrosis : Hong Kong early experience HK Med J.1996 ;2(3): 2-5
13.Herbst F et al : Endoscopic thoracic sympathectomy for
palmar hyperhidrosis of upper limb A critical analysis and long term results of 480 operations Ann Surg 1994; 220: 86-90
palmar hyperhidrosis by the supraclavicular approach World J Surg 1977; 1:667-74
vagotomy In Cuschieri A,Buess G, Perissat J (eds) Operative manual of endoscopic surgery Springe-Verlag FRG 1992- pp 110-133
and axillary hyperhidrosis Arch Surg 113 :264, 1978
Lasers in Surgery and Medecine 11 :18, 1991
Experience in 1302 cases 2nd Asian Pacific Congress
of Endoscopic Surgery 19th-23rd 1995 Hong Kong
19.Van Tan et a (1999)l: Kết quả nghiên cứu cải tiến phẫu
thuật nội soi lồng ngực để điều trị chứng đổ mồ hôi tay Báo cáo và đăng trong “ Báo cáo khoa học” Đại hội Hội Ngoại Khoa Việt Nam lần thứ X, 29 – 30/10/1999 Tr 191-194
20 Hồ Nam (1999): Điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay
bằng phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm nhực qua nội soi Luận văn Thạc sĩ khoa học Y Dược, tp HCM 1999
(PGS Van Tan bảo trợ)
Trang 821. Vaên Taàn, Hoà Nam (2000): Results of modified
thoracoscopic sympathectomy for Palmar
Hyperhydrosis treatment Reported and published in
Surgery June 1-4, 2000 Singapore
needlescopic thoracic sympathectomy – Experience of
2364 patients JSES, Vol.7 No 7, 2002, p 438.
management of palmar hyperhydrosis JSES, Vol.7
No 7, 2002, p 438