1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu xác định một số thành phần hoá học của dạng cao đặc phương thuốc quế chi thang XH

9 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 340,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm điều chế và định tính một số thành phần hoá học của cao đặc Quế chi thang XH và các vị thuốc, góp phần xây dựng tiêu chuẩn cao đặc XH. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA DẠNG CAO ĐẶC PHƯƠNG THUỐC QUẾ CHI THANG XH

Bùi Hồng Cường*; Đào Thị Thanh Hiền*; Nguyễn Hoàng Tuấn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: điều chế và định tính một số thành phần hoá học của cao đặc Quế chi thang XH và các vị thuốc, góp phần xây dựng tiêu chuẩn cao đặc Nguyên vật liệu và phương pháp: cao đặc

Quế chi thang XH được điều chế từ các vị thuốc Quế chi, Hương phụ, Bạch thược, Xuyên khung, Gừng bằng phương pháp sắc với nước và chiết với ethanol 60%; định tính một số thành phần

hoá học bằng thuốc thử đặc trưng và sắc ký lớp mỏng (SKLM) Kết quả: cao đặc Quế chi thang

XH được điều chế bằng phương pháp chiết nóng với nước cho hiệu suất chiết 23,22% và chiết nóng với ethanol 60% cho hiệu suất chiết 8,49% Các mẫu cao đạt chỉ tiêu chung của Dược điển Việt Nam (DĐVN) IV về thể chất, hình thức và độ ẩm Tất cả mẫu cao đều có alcaloid, saponin, coumarin, flavonoid, tanin, axít amin, đường khử, polysaccharid và chất béo Bằng phương pháp SKLM trên sắc ký đồ, cao chiết nước và cao chiết ethanol đều có các vết tương ứng với những vị thuốc trong phương thuốc Kết luận: nghiên cứu đã điều chế được cao đặc Quế chi thang XH chiết nước và chiết ethanol, các mẫu cao đều có thành phần chính tương ứng với thành phần của các vị thuốc, có thể áp dụng để tiếp tục xây dựng tiêu chuẩn cao đặc phương thuốc

* Từ khoá: Cao đặc Quế chi thang XH; Thành phần hoá học; Sắc ký lớp mỏng

Study on Phytochemical Analysis of some Components of the Extractum Que chi thang XH Spisum

Summary

Objectives: Studying formulation and phytochemical components of the Extractum Que chi thang XH remedy and each contributed herbs to establish a standardization Subjects and methods: The Extractum Que chi thang XH remedy was prepared from Ramulus Cinnamomi, Radix Paeoniae lactiflorae, Rhizoma Ligustici wallichii, Rhizoma Cyperi, Rhizoma Zingiberis Qualitative detection

of chemical components were done by thin layer chromatography The Extractum was prepared

by hot water and ethanol 60% which have efficiency alternatively 23.22% and 8.49%; Results: The extractum contains alkaloids, saponins, coumarins, flavonoids, tannins, amino acids, reducing sugars, polysaccharides, and fats Thin layer chromatography showed the hot water extracts and the ethanol extracts which have many spots corresponding to the contributed herbs

in the Que chi thang XH remedy, can be used to build standard of Extractum Que chi thang

XH spisum Conclusion: The Extractum Que chi thang XH remedy was prepared by extracting with hot water and ethanol 60%, both extractums have all the main chemical components corresponding

to the components of the contributed herbs, those results can use as part of a future study in oder to establish of Extractum standardization

* Key words: Extractum Que chi thang XH spisum; Chemical components; Thin layer chromatography

* Trường Đại học Dược Hà Nội

Người phản hồi (Corresponding): Bùi Hồng Cường (cuonghongbui@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 13/02/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 03/05/2017

Ngày bài báo được đăng: 10/05/2017

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quế chi thang [1] có công năng phát

tán phong hàn, thông kinh lạc, dùng để

điều trị hội chứng vai gáy, kinh lạc bị ứ trệ

gây đau cứng cơ (đau cổ gáy, giãn dây

chằng lưng), tê mỏi cơ, đau dây thần kinh

ngoại biên, là một phương thuốc có hiệu

lực mạnh trong Y Dược học cổ truyền

Tuy nhiên, việc sử dụng dạng thuốc sắc

không tiện dụng Phương thuốc Quế chi

thang XH (gia giảm) gồm các vị thuốc:

Quế chi, Bạch thược, Gừng (giảm Đại táo,

Cam thảo), gia Hương phụ, Xuyên khung

nhằm tăng hiệu lực điều trị Theo lý luận

Y học cổ truyền, phương thuốc được cấu

tạo từ một số vị thuốc có tác dụng chính:

Quế chi: giải biểu hàn, thông kinh lạc,

hoạt huyết; Hương phụ: hành khí giải uất,

giảm đau; Bạch thược: bổ huyết, điều kinh,

bình can thư cân; Xuyên khung: giải biểu

hàn, hoạt huyết, giảm đau; Gừng: giải biểu

hàn, ôn vị chỉ nôn Như vậy, phương thuốc

gồm những vị thuốc được phối ngũ theo

hướng hiệp đồng tác dụng, ứng dụng để

điều trị hội chứng vai gáy, kinh lạc bị ứ trệ

gây đau cứng cơ (đau cổ gáy, giãn dây

chằng lưng), tê mỏi cơ, đau dây thần kinh

ngoại biên như: liệt dây thần kinh VII,

thần kinh liên sườn do cảm mạo phong hàn

xâm nhập vào kinh lạc, gân cơ Việc nghiên

cứu điều chế cao đặc làm bán thành

phẩm để sản xuất dạng bào chế hiện đại

và xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản

phẩm là cần thiết Bài báo này trình bày

kết quả điều chế cao đặc bằng cách chiết

với nước và ethanol, định tính một số thành

phần hóa học trong mẫu cao bằng phương

pháp hoá học và SKLM với mục tiêu:

Điều chế và định tính một số thành phần

hoá học của cao đặc và các vị thuốc góp

phần xây dựng tiêu chuẩn cao đặc Quế chi

thang XH

NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nguyên liệu, hoá chất và thiết bị

Các vị thuốc đã chế biến gồm: Quế chi (QC), Hương phụ (HP), Bạch thược (BT), Xuyên khung (XK), Gừng (SK) do Phòng Chẩn trị Đông y Phùng Gia Đường (A3 Lô A, Khu Trung ương, Yên Hoà - Cầu Giấy -

Hà Nội) cung cấp Dược liệu đối chiếu tương ứng do Viện Kiểm nghiệm Thuốc Trung ương cung cấp Các vị dược liệu

đã được kiểm nghiệm và đạt chỉ tiêu trong chuyên luận DĐVN IV [2]

Hoá chất, dung môi: n-hexan, cloroform, ethyl acetat, toluen, axít formic, methanol, ethanol, aceton và các hoá chất khác đạt tiêu chuẩn phân tích

Thiết bị: thiết bị SKLM hiệu năng cao

Linomat 5 (Camag, Thuỵ Sỹ), bao gồm: thiết bị phun mẫu Linomat 5, bình triển khai sắc ký Camag, thiết bị chụp ảnh Camag, phần mềm: Wincats, Videoscan

2 Phương pháp nghiên cứu

- Điều chế dạng cao đặc chiết nước và

ethanol: sắc với nước (CN) và chiết ở 800C (hồi lưu, cách thủy) với ethanol 60% (CE),

cô đến dạng cao đặc

- Xác định độ ẩm: phương pháp mất khối lượng do làm khô (sấy 110oC trong

4 giờ) [2]

- Định tính một số thành phần: bằng thuốc thử chung của từng nhóm chất [3]

- Định tính so sánh các mẫu cao đặc

và vị thuốc (đối chiếu) bằng SKLM [4, 5]

* Phương pháp chung:

Phun mẫu: thiết bị Linomat 5 (Camag), điều khiển bằng phần mềm Wincats

Trang 3

Cỡ bơm: 100 µl Vị trí phun: cách cạnh

dưới 10 mm, cách cạnh bên 12 mm, tốc

độ phun: 80 nl/giây

Triển khai: bão hòa bình triển khai

10 x 10 cm trong 30 phút (giấy lọc) bằng

5 ml dung môi pha động Dung môi để

khai triển bản mỏng 5 ml

Chụp ảnh sắc ký đồ: buồng chụp ảnh

Camag, tại các bước sóng: 254, 366 nm,

ánh sáng trắng

Xử lý kết quả: phần mềm Wincats,

Videoscan

* Định tính cắn ether dầu hỏa từ cao và

Quế chi:

Mẫu nghiên cứu: cao chiết nước: 3 g,

cao chiết ethanol 60%: 1,5 g, Quế chi: 4 g

Cho mẫu nghiên cứu vào bình nón

100 ml, thêm 30 ml nước cất, đun cách

thủy 15 phút, để nguội, lọc thu dịch lọc

Cho dịch lọc vào bình gạn 100 ml, lắc với

ether 3 lần, mỗi lần 10 ml, thu dịch chiết

ether, cô cách thủy đến cắn Hòa tan cắn

trong 2 ml ether để phun sắc ký

- Pha tĩnh: bản mỏng silica gel 60 F254,

5 x 10 cm hoạt hóa ở 1100C trong 60 phút

- Pha động: n-hexan:cloroform:ethyl acetat

(4:1:1)

- Thể tích mẫu: 4 µl/mẫu, phun mẫu trên

băng dài 8 mm

- Phát hiện: soi UV ở bước sóng 254 nm

và 366 nm

* Định tính cắn n-butanol từ cao và

Bạch thược:

Mẫu nghiên cứu: cao chiết nước: 6 g,

cao chiết ethanol 60%: 3 g, Bạch thược: 2 g

Cho mẫu nghiên cứu vào bình nón

100 ml thêm 60 ml ethanol, lắc siêu âm trong

20 phút, lọc Cô dịch lọc trên cách thủy

đến cắn khô, hòa tan cắn trong 20 ml nước cất, chiết bằng n-butanol đã bão hòa nước 3 lần, mỗi lần 20 ml Gộp các dịch chiết butanol, rửa bằng nước cất

3 lần, mỗi lần 15 ml nước cất, gạn bỏ nước rửa Bốc hơi dịch chiết còn lại trên cách thủy đến cắn khô Hòa tan cắn trong

2 ml ethanol để phun sắc ký

- Pha tĩnh: bản mỏng silica gel 60 F254,

5 x 10 cm, hoạt hóa ở 1100C trong 60 phút

- Pha động: toluen:ethyl acetat:axít formic

(5:4:1)

- Thể tích mẫu: 5 µl/mẫu, phun mẫu trên băng dài 8 mm

- Phát hiện: soi UV ở bước sóng 254 nm,

366 nm và thuốc thử vanilin/axít sulfuric5%

* Định tính cắn cloroform trong cao, Hương phụ và Xuyên khung:

Mẫu nghiên cứu: cao chiết nước: 6 g, cao chiết ethanol 60%: 2 g, Hương phụ:

6 g, Xuyên khung: 2 g

Cho mẫu nghiên cứu vào bình nón

100 ml, thêm 30 ml nước cất, đun cách thủy,

để nguội, lọc thu lấy dịch lọc Cho dịch lọc vào bình gạn 100 ml, kiềm hóa bằng dung dịch amoniac đặc đến pH = 9 - 10 Lắc với cloroform (3 lần, mỗi lần 15 ml) Gạn lấy lớp cloroform, cô cách thủy đến cắn Hòa tan cắn trong 2 ml ethanol để phun sắc ký

- Pha tĩnh: bản mỏng silica gel 60 F254,

6 x 10 cm, hoạt hóa ở 1100C trong 60 phút

- Pha động: cloroform:toluen:aceton: axít

formic (7:4:5:1,5)

- Thể tích mẫu: 5 µl/mẫu, phun mẫu trên băng dài 6 mm

- Phát hiện: soi UV ở bước sóng 254 nm

và 366 nm

Trang 4

* Định tính cắn ethyl acetat từ cao,

Bạch thược, Hương phụ và Quế chi:

Mẫu nghiên cứu: cao chiết nước: 6 g,

cao chiết ethanol 60%: 2 g, Quế chi: 8 g,

Hương phụ: 6 g, Bạch thược: 2 g

Cho mẫu nghiên cứu vào bình nón

250 ml, thêm 100 ml ethanol 90%, đậy nắp,

đun cách thủy 30 phút Lọc nóng, dịch lọc

đem cô cách thủy thành cắn Hòa tan cắn

trong 15 ml nước cất, lọc qua giấy lọc

Đối với 2 mẫu cao, hòa tan vào 15 ml

nước cất (đun nóng để hòa tan hoàn

toàn), thêm ethanol 90% (30 ml x 3 lần),

đun nóng, để lắng, lọc Dịch lọc đem cô

cách thủy thành cắn Hòa tan cắn trong

15 ml nước cất, lọc qua giấy lọc

Các dịch lọc từ cao và dược liệu được

lắc loại tạp với ether dầu hỏa (10 ml x 3 lần)

Lắc dịch chiết nước với ethyl acetat (10 ml x

3 lần) Cô cách thủy dịch chiết ethyl acetat

đến cắn Hòa tan cắn trong 2 ml ethanol

để chấm sắc ký

- Pha tĩnh: bản mỏng silica gel 60 F254,

8 x 10 cm, hoạt hóa ở 1100C trong 60 phút

- Pha động: cloroform:methanol:axít formic

(7:1:1)

- Thể tích mẫu: cao chiết ethanol 60%,

Quế chi, Bạch thược: 5 µl/mẫu; cao chiết

nước, Hương phụ: 10 µl/mẫu, phun mẫu

trên băng dài 6 mm

- Phát hiện: soi UV ở bước sóng 254 nm,

366 nm và hơi amoniac đặc

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Điều chế dạng cao đặc chiết nước

và ethanol

sắc: mỗi mẻ cân khoảng 280 g dược liệu

(Quế chi 110 g, Hương phụ 80 g, Bạch thược 30 g, Xuyên khung 30 g, Gừng 30 g), chiết 3 lần, thời gian chiết lần lượt 2, 1,

1 giờ Dịch chiết được lọc nóng qua vải gạc, cô đến thể chất cao đặc, xác định độ

ẩm của cao

pháp chiết nóng ở 80oC trên nồi cách thủy: mỗi mẻ cân khoảng 140 g (Quế chi

55 g, Hương phụ 40 g, Bạch thược 15 g, Xuyên khung 15 g, Gừng 15 g), tiến hành tương tự phương pháp sắc

Quy trình điều chế được thực hiện lặp lại 4 lần (4 mẻ) để tính giá trị trung bình

cao đặc

Tổng khối lượng dược liệu khô (g) (4 mẻ)

Tổng khối lượng cao (g) (tính theo cao khô, 4 mẻ)

Độ ẩm cao đặc trung bình (%)

Hiệu suất bào chế cao trung bình (%)

Thể chất, màu sắc, mùi vị

Thể chất mềm dẻo, đặc quánh, mịn, đồng nhất Màu nâu đen, mùi thơm đặc trưng, vị ngọt hơi đắng

Hiệu suất điều chế cao chiết bằng ethanol 60% thấp hơn nhiều so với cao chiết nước Thể chất tương đồng giữa các mẫu cao Các mẫu cao đặc đạt chỉ tiêu chung theo DĐVN IV [2] về thể chất, hình thức, độ ẩm

Trang 5

2 Định tính các nhóm chất hữu cơ bằng phản ứng hoá học

Mẫu nghiên cứu STT Nhóm chất

(-: âm tính; +: dương tính)

Quế chi có flavonoid, tanin, đường khử Bạch thược có flavonoid, tanin, axít amin, đường khử, polysaccharid và chất béo Hương phụ có alcaloid, saponin, flavonoid, tanin, axít amin, đường khử, polysaccharid Xuyên khung: alcaloid, đường khử và chất béo Cao đặc chiết nước và ethanol đều có alcaloid, saponin, flavonoid, tanin, axít amin, đường khử, polysaccharid và chất béo

3 Định tính bằng SKLM

* Định tính cắn ether dầu hỏa từ cao và Quế chi:

bước sóng 254 nm

Mẫu nghiên cứu

Trang 6

Hình 1: Sắc ký đồ định tính cắn ether dầu hỏa

từ cao và Quế chi ở bước sóng 254 nm

Trên sắc ký đồ quan sát ở bước sóng

254 nm, các vết tách tốt và có vết tương

ứng với nhau Trong đó, cao chiết nước

và cao chiết ethanol 60% có 5 vết, Quế

chi có 4 vết, cao chiết nước và cao chiết

ethanol 60% có 2 vết tương ứng với Quế

chi Cao chiết ethanol 60% có thêm 1 vết

tương ứng với Quế chi

* Định tính cắn n-butanol từ cao và

Bạch thược:

tính cắn n-butanol từ cao và Bạch thược

ở bước sóng 254 nm

Mẫu nghiên cứu

thược

((+): Có vết, (++): Vết đậm, (+++): Vết

rất đậm)

từ cao và Bạch thược

Trên sắc ký đồ quan sát ở bước sóng

254 nm, các vết tách tốt và tương ứng với nhau Trong đó, cao chiết nước và cao chiết ethanol 60% có 5 vết và đều có 1 vết tương ứng với Bạch thược

* Định tính alcaloid trong cao, Hương phụ

và Xuyên khung:

tính cắn cloroformtừ cao, Hương phụ và Xuyên khung ở bước sóng 254 nm

Mẫu nghiên cứu Vết R f Màu

((+): Có vết, (++): Vết đậm, (+++): Vết rất đậm)

Trang 7

Hình 3: Sắc ký đồ định tính cắn CHCl3

từ cao, Hương phụ và Xuyên khung

Trên sắc ký đồ quan sát ở bước sóng

254 nm, các vết tách tốt và tương ứng

với nhau Trong đó, cao chiết nước và

cao chiết ethanol 60% có 5 vết, Hương phụ

có 4 vết, Xuyên khung có 2 vết Cao chiết

nước và cao chiết ethanol 60% có 2 vết

tương ứng với Hương phụ, 1 vết tương

ứng với Xuyên khung

* Định tính cắn ethyl acetat từ cao,

Bạch thược, Hương phụ và Quế chi:

tính cắn ethyl acetat từ cao, Bạch thược,

Hương phụ và Quế chi sau khi hiện màu

Mẫu nghiên cứu Vết R f Màu

sắc CN CE QC HP BT

((+): Có vết, (++): Vết đậm, (+++): Vết rất đậm)

cao, Bạch thược, Hương phụ và Quế chi Trên sắc ký đồ sau khi hiện màu bằng hơi NH3 đặc, có các vết tách tốt và tương ứng với nhau Trong đó, cao chiết nước

có 5 vết, cao chiết ethanol 60% và Quế chi

có 3 vết, Hương phụ 5 vết, Bạch thược

2 vết Cao chiết nước và cao chiết ethanol 60% có 1 vết tương ứng với Quế chi và Hương phụ, 2 vết tương ứng với Bạch thược Cao chiết nước có thêm 1 vết tương ứng với Hương phụ, 1 vết tương ứng với Quế chi

Trang 8

BÀN LUẬN

1 Về dạng cao đặc của phương thuốc

Phương thuốc gồm 5 vị, trong đó 4 vị

(Quế chi, Hương phụ, Xuyên khung và

Gừng) có tinh dầu Tuy nhiên, trong quá

trình thực nghiệm thấy hàm lượng tinh

dầu quá thấp Phương thuốc được dùng

chủ yếu dưới dạng nước sắc Do đó,

ngoài tinh dầu có thể các thành phần

khác tan trong nước cũng có tác dụng

sinh học Nước có khả năng hòa tan

rộng, lại chiết bằng phương pháp sắc

truyền thống nên cao thu được có nhiều

tạp chất, một số hoạt chất có thể bị

phân hủy, nhiều thành phần tan trong

nước nóng nhưng bị tủa lại khi để nguội

Nếu tiếp tục tiến hành loại tủa, có thể làm

mất hoạt chất Ethanol là một dung môi

an toàn, hòa tan được nhiều hoạt chất,

ít hòa tan tạp chất, nên chúng tôi đã

nghiên cứu điều chế cao đặc Quế chi

thang XH với 2 dung môi là nước và

ethanol 60% để làm nguyên liệu cho các

nghiên cứu tiếp theo và làm bán thành

phẩm để nghiên cứu các sản phẩm như

siro, cốm, viên… Mặt khác, chiết với nước

và ethanol 60% ở 800C là phương pháp

phù hợp với thiết bị chiết tại các Công ty

Dược Việt Nam Hiệu suất điều chế cao

chiết ethanol (8,49%) thấp hơn nhiều so

với cao chiết nước (23,22%) Do đó, để

bào chế dạng cao thuốc, cốm thuốc có thể

sử dụng cao chiết nước, bào chế viên có

thể sử dụng cao chiết ethanol

Kết quả cho thấy 2 loại cao đặc Quế chi thang XH đều đạt các chỉ tiêu theo quy định của DĐVN IV về thể chất và độ

ẩm Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu các biện pháp loại tạp hợp lý, dạng bào chế phù hợp để đảm bảo đủ liều dùng và hạn chế số lượng thuốc mà bệnh nhân sử dụng trong ngày

2 Về định tính bằng phản ứng hóa học và SKLM

Kết quả định tính sơ bộ cho thấy trong cao đặc chiết với nước và ethanol đều có các thành phần cơ bản tương tự như thành phần của vị thuốc có trong phương thuốc, bao gồm: alcaloid, saponin, coumarin, flavonoid, tanin, axít amin, đường khử, polysaccharid và chất béo

Định tính bằng SKLM là phương pháp

dễ thực hiện tại các phòng kiểm nghiệm Mặt khác, theo DĐVN IV, hai vị thuốc trong phương thuốc là Bạch thược và Quế chi được định tính bằng SKLM Do vậy, chúng tôi đã chọn phương pháp SKLM để định tính một số thành phần chính của cao, đồng thời xác định sự có mặt của các vị thuốc trong cao Kết quả phân tích SKLM với bốn loại cắn chiết bằng dung môi khác nhau từ cao chiết nước, cao chiết ethanol và các vị thuốc đối chiếu cho thấy, trên sắc ký đồ cả hai cao đều có các vết tương ứng với vết của vị thuốc trong phương thuốc Như vậy, có thể sử dụng phương pháp SKLM để xác định thành phần hóa học của các vị thuốc trong cao đặc nhằm góp phần xây dựng tiêu chuẩn

cao đặc phương thuốc

Trang 9

KẾT LUẬN

Cao đặc Quế chi thang XH được điều

chế bằng phương pháp chiết nóng với

nước đạt hiệu suất 23,22% và chiết nóng

với ethanol 60% cho hiệu suất 8,49%

Các mẫu cao đạt chỉ tiêu chung của

DĐVN IV về thể chất, hình thức và độ ẩm

Các mẫu cao đều có alcaloid, saponin,

coumarin, flavonoid, tanin, axít amin,

đường khử, polysaccharid và chất béo

Bằng phương pháp SKLM, trên sắc ký đồ,

cao chiết nước và cao chiết ethanol đều

có vết tương ứng với các vị thuốc trong

phương thuốc Có thể áp dụng những kết

quả trên để xây dựng tiêu chuẩn cao đặc

phương thuốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trình Nhu Hải, Lý Gia Canh Trung Quốc

danh phương toàn tập Nhà xuất bản Y học

2004

2 Bộ Y Tế Dược điển Việt Nam IV Nhà xuất

bản Y học 2009

3 Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Viết Tựu

Phương pháp nghiên cứu hóa học cây thuốc Nhà xuất bản Y học 1985

4 Viện Dược liệu Nghiên cứu thuốc từ thảo

dược Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật

2006

5 Wagner H, Bauer R, Melchart D, Xiao P.G, Staudinger A Chromatographic Fingerprint

Analysis of herbal medicines thin layer and high performance liquid chromatography of Chinese drugs Springer Wien, New York 2011, Vol 1, pp.568, 682

Ngày đăng: 20/01/2020, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w