1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tác dụng phụ của thuốc kháng giáp trong điều trị cường giáp giai đoạn tấn công

7 160 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 426,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết có nội dung nhằm đánh giá tác dụng phụ của 2 nhóm thuốc kháng giáp trong giai đoạn điều trị tấn công, tính tỷ lệ từng nhóm tác dụng phụ của từng nhóm thuốc. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

TRONG ĐIỀU TRỊ CƯỜNG GIÁP GIAI ĐOẠN TẤN CÔNG 

Trần Thị Kim Chi*, Nguyễn Thị Thu Thảo*, Trần Đỗ Lan Phương*, Trương Thị Nga*,  

Nguyễn Hữu Nguyên* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tác dụng phụ của 2 nhóm thuốc kháng giáp trong giai đoạn điều trị tấn 

công. Tính tỉ lệ từng nhóm tác dụng phụ của từng nhóm thuốc. 

Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu là mô tả, cắt ngang. Bệnh nhân cường giáp 

bắt đầu hoặc đang điều trị trong giai đoạn tấn công. 

Kết quả: Tác dụng phụ do thuốc kháng giáp trong giai đoạn điều trị tấn công là 19%. Tỉ lệ tác dụng phụ 

xảy ra ở 2 nhóm thuốc không khác nhau: nhóm PTU là 19,67%, nhóm Thyrozol là 18,7%. Dị ứng là tác dụng  phụ hay gặp nhất là 11%, tăng men gan 5%, tăng bilirubin 5%, giảm bạch cầu hạt 2%, các tác dụng phụ khác  2%. 

Kết luận: Đa số các trường hợp bị tác dụng phụ nhẹ, tự ổn. Một số trường hợp cần phải chuyển sang nhóm 

thuốc thứ 2 hoặc sang phương pháp điều trị khác. Chọn lựa thuốc khởi đầu nên dựa và khuyến cáo của FDA và  kinh nghiệm của bác sĩ trong từng trường hợp cụ thể. 

Từ khóa: cường giáp, tác dụng phụ. 

ABSTRACT 

EVULATE THE SIDE EFFECTS OF ANTITHYROID DRUGS  

IN THE ATTACK STAGE OF MANAGEMENT HYPERTHYROIDISM 

Tran Thi Kim Chi, Nguyen Thi Thu Thao, Tran Do Lan Phuong, Truong Thi Nga,   Nguyen Huu Nguyen  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 81 ‐ 87 

Objectives: To study the prevalence of side effects of Methimazone and Propylthiouracil in the attack stage 

of treatment hyperthyroidism. 

Methods  and  subjects: Cross‐sectional study. Hyperthyroidism patients began treatment with high dose 

antithyroid drugs. 

Results: The Study shows results: 19% of patients had the side effects. There was no difference between two 

drugs with 19.67% of patients receiving PTU compared to 18.7% of patient receiving MMI. Skin reaction: 11%,  increase in amimotransferase levels: 5%, hyperbilirubinemia: 5%, granulocytopenia: 2%, rare side effects: 2%.  

Conclusion: Most cases were minor, self‐stable. Some patients might be switched to the other drug or the 

another therapy. The choice between two drugs has been based on FDA recommendation and clinical experience 

of physicians. 

Key words: hyperthyroidsim, side effect. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hội  chứng  cường  giáp  là  tình  trạng  hoạt 

động quá mức của tuyến giáp làm tăng sản xuất 

hormon  giáp  nhiều  hơn  bình  thường,  gây  ra 

những tổn hại về mô và chuyển hóa. 

Cường giáp chiếm tỉ lệ 2% nữ và 0,2% nam(1) 

Các phương pháp điều trị 

Nội khoa: thuốc kháng giáp tổng hợp 

* Khoa Nội Tiết Thận – Bệnh viện Nhân Dân Gia Đinh 

Trang 2

Iod đồng vị phóng xạ. 

Chọn lựa phương pháp điều trị ban đầu: có 

sự  khác  nhau  giữa  các  nước  trên  thế  giới.  Đối 

với    bệnh  Basedow,  các  nước  Châu  Âu,  Nhật 

Bản  và  một  số  nước  châu  Á  có  khuynh  hướng 

chọn  lựa  nội  khoa.  Trong  khi  ở  Mỹ,  khuynh 

hướng lại thích dùng Iod đồng vị phóng xạ hơn. 

Thuốc kháng giáp 

Có 2 nhóm (1) Thiouracil: hay dùng nhất là 

Propylthiouracil  (PTU),  ra  đời  1947.  (2)  Nhóm 

Imidazole: hay dùng nhất là Methimazol (MMI), 

ra đời 1950. 

Chọn  lựa  thuốc  đầu  tay  trong  điều  trị  chủ 

yếu tùy thuộc kinh nghiệm chủ quan của bác sĩ 

lâm sàng. 

MMI thường được cho rằng dễ sử dụng hơn 

PTU vì số lần dùng ít hơn, tác dụng mạnh hơn, 

ít tác dụng phụ hơn, giá thành rẻ hơn 

Tuy  nhiên,  với  một  số  trường  hợp,  PTU 

cũng  được  ưa  chuộng  vì  có  thể  dùng  khá  an 

toàn  cho  cả  đối  tượng  phụ  nữ  có  thai  (nhất  là 

trong  tam  cá  nguyệt  I),  cho  con  bú,  trong  các 

trường hợp cường giáp nặng‐bão giáp. 

Cảnh báo của FDA 2009. Nguy cơ tổn thương 

gan cấp nặng có thể đưa đến tử vong ở cả người 

lớn  và  trẻ  em  khi  sử  dụng  PTU  cao  hơn  MMI. 

Khuyến cao đưa ra 34 BN tổn thương gan nặng 

liên quan đến PTU gồm 23 người lớn (13 BN tử 

vong, 5 Bn ghép gan), 11 trẻ em (2 Bn tử vong, 7 

BN ghép gan). Trong khi với MMI  chỉ  có  5  BN 

tổn  thương  gan  (2  BN  tử  vong).  Liều  gây  suy 

gan của PTU khoảng 300 mg. 

Khuyến  cáo.  Không  chọn  PTU  đầu  tiên  cho 

trẻ em và người trẻ. 

Khuyến cáo PTU nên là chọn lựa thứ 2 sau 

MMI, chỉ nên sử dụng PTU khi BN dị ứng MMI 

hoặc có thai trong 3 tháng đầu thai kì. 

Ưu  tiên  PTU  trong  các  trường  hợp  cường 

giáp nặng đe dọa tử vong (vì PTU có thêm tác 

dụng  ức  chế  sự  chuyển  đổi  T4  thành  T3  ở 

ngoại vi). 

Tháng 4/2010, FDA yêu cầu nhà sản xuất đặt  thêm  khung  cảnh  báo  trên  thông  tin  kèm  theo  thuốc  PTU  về  “tổn  thương  gan  nghiêm  trọng,  suy gan cấp, tử vong xảy ra ở cả người lớn và trẻ 

em.  Chúng  tôi  thực  hiện  đề  tài  này  với  mong  muốn có cái nhìn tổng quát về tác dụng phụ của  thuốc kháng giáp (cả 2 nhóm) trong điều trị tại  Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định sau khi có cảnh  báo của FDA. 

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 

Các nghiên cứu trên thế giới ghi nhận các tác  dụng phụ nhẹ như: dị ứng thuốc, đau khớp, rối  loạn tiêu hóa xảy ra với tỉ lệ cao nhất khoảng 5%.  Các tác dụng nặng như giảm BC hạt, tổn thương  gan thay đổi trong khoảng < 1%. 

Bảng 1: Các tác dụng phụ của thuốc kháng giáp 

(David S Cooper)  (2)  

Nhẹ

Dị ứng da Đau khớp

Rl tiêu hóa Bất thường vị giác, khướu giác Viêm tuyến nước bọt

4-6% 1-5% 1-5% Hiếm Hiếm

Nặng

Giảm bạch cầu hạt Viêm gan dị ứng Tắc mật Viêm đa khớp Viêm mạch máu ANCA(+)

0,1-0,5% 1% Hiếm 1-2% Hiếm

Khác

Giảm prothrombin, hạ đường huyết, Viêm tụy Hiếm

Ở  Việt  Nam.  Các  nghiên  cứu  ở  Việt  Nam 

trước đây chỉ mới thực hiện trên một nhóm nhỏ  bệnh nhân (nội trú), và chỉ nghiên cứu trên 1 loại  tác dụng phụ. 

BV  Nội  tiết  Trung  Ương  2001‐2002,  nghiên  cứu của tác giả Trần Thị Thanh Hóa ghi nhận tỉ 

lệ tăng men gan BN cường giáp nội trú: 25,5%. 

BV  NDGĐ  2001‐2002,  tác  giả  Nguyễn  Thế  Thành ghi nhận giảm BC hạt BN cường giáp nội  trú 8,33%(7). 

Kinh  nghiệm  chung.  Tác  dụng  phụ  thường 

xảy ra trong giai đoạn tấn công (4‐12 tuần đầu)  liều cao (>2 viên/ngày). 

Trang 3

Tác  dụng  phụ  nếu  xảy  ra  ở  nhóm  thuốc 

này thì thường cũng xảy ra với nhóm kia. Tuy 

nhiên  với  nhóm  MMI,  tác  dụng  phụ  thường 

tùy thuộc liều. 

Tác  dụng  phụ  nhẹ:  tiếp  tục  thuốc,  điều  trị 

triệu chứng. 

Tác  dụng  phụ  nặng:  ngưng  thuốc  và  theo 

dõi  sát,  dùng  lugol  tạm  thời  sau  đó  sẽ  chuyển 

sang  chọn  lựa  điều  trị  khác  là  phẫu  thuật  hoặc 

dùng iod đồng vị phóng xạ. 

Giảm  BC  hạt  (nặng  hơn:  tuyệt  lạp  BC)  đe 

dọa tính mạng bn vì nguy cơ nhiễm trùng cao; 

cần  dùng  kháng  sinh  và  thuốc  kích  thích  BC 

rất đắt tiền.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa nội tiết và 

ngoại trú tại phòng khám nội tiết BV Nhân Dân 

Gia  Định  trong  thời  gian  nghiên  cứu  (từ  tháng 

11/2011 đến tháng 6/2012). 

Phương pháp nghiên cứu  

Thiết kế nghiên cứu: mô tả, cắt ngang. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  mới  được  chẩn  đoán 

cường giáp và bắt đầu điều trị tấn công hoặc Bn 

đang được điều trị trong giai đoạn tấn công mà 

khởi  đầu  và  trong  quá  trình  điều  trị  có  đầy  đủ 

xét nghiệm đáp ứng yêu cầu. 

“Giai  đoạn  tấn  công”  được  quy  định  trong 

nghiên cứu là đang hoặc bắt đầu dùng thuốc với 

liều như sau 

PTU > 100 mg/ngày (>2 viên, 1 viên 50 mg)  

Hoặc  MMI  (Thyrozol)  >  10  mg/ngày  (>  2 

viên, 1 viên 5 mg). 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân không được làm các xét nghiệm 

theo  dõi  (công  thức  máu,  men  gan,  bilirubin) 

trong quá trình tấn công. 

Bệnh  nhân  bỏ  trị  trước  khi  giai  đoạn  tấn 

công kết thúc. 

Cỡ mẫu 

Cỡ mẫu ước lượng theo công thức n = [Z2 1‐α/2  

x  p(1‐p)] / d2 .  Với  p:  15%;  sai  số  chấp  nhận  là:  5%;  độ  tin  cậy 95%, chọn d= 5%. 

Như  vậy  cỡ  mẫu  của  nghiên  cứu  chúng  tôi 

là 196 bệnh nhân 

Thu thập số liệu 

Dùng  một  mẫu  bệnh  án  thống  nhất  để  hỏi  bệnh, khám, ghi nhận và theo dõi định kì mỗi 2‐

4 tuần tùy tình trạng từng bệnh nhân. 

Chẩn đoán cường giáp 

Lâm sàng: hội chứng cường giáp 

Xét nghiệm FT3 và hoặc FT4 tăng, TSH giảm  Siêu âm tuyến giáp 

Các Xn khác: TRab, anti‐TPO 

Theo dõi tác dụng phụ. 

Lâm sàng: phản ứng dị ứng, đau‐viêm khớp, 

rối loạn tiêu hóa, bất thường khứu giác‐vị giác,  sốt‐đau họng, vàng da… 

Cận lâm sàng:  

Theo  dõi  chức  năng  tuyến  giáp  FT3,  FT4,  TSH,  bệnh  nhân  được  giảm  liều  dần  và  dùng  liều duy trì khi FT3 và FT4 bình thường 

Theo dõi tác dụng phụ: công thức máu, men  gan, bilirubin trước điều trị và định kì trong quá  trình theo dõi. 

Tăng men gan: trên 1,1 lần giới hạn trên BT  (>45 UI/L). 

Tăng bilirubin cao trên mức bình thường  Giảm  BC  hạt:  BC  hạt  <  1500,  tuyệt  lạp  BC: 

BC hạt< 500. 

Phân tích thống kê 

Sử  dụng  phần  mềm  SPSS  16.0  để  xử  lý  số  liệu 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 

Có 200 BN điều trị tại phòng khám và khoa 

Nội Tiết được chọn vào mẫu nghiên cứu.  

Bệnh lý đi kèm 

Trang 4

phụ nữ có thai: 11 ca. 

suy tim: 5 ca. 

rung nhĩ: 10 ca. 

đái tháo đường: 6 ca. 

Tình trạng tái phát. 

Mới chẩn đoán: 156 BN (78%). 

Tái  phát:  44  BN  (22%):  lần  đầu:  34 

BN(72,27%)  (6  tháng‐12  năm),  nhiều  lần:  10 

BN(27,73%) (1 năm‐ 17 năm). 

Bảng 2: Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 

Phái (nam/nữ) 32/168 (16%/84%)

Tuổi 14-80 (41,22 ± 15,02)

Chẩn đoán (Basedow/BG nhân) 102/98 (51%/49%)

Lần đầu/tái phát 156/44 (78%/22%)

Thời gian tấn công 1-24 tuần (TB: 8,725)

PTU/Thyrozol (4-10 viên/3-6 viên) 61/139 (30,5%/69,5%)

Tác dụng phụ chung 

Tổng số Bn bị tác dụng phụ: 38 BN/200 BN 

(19%). 

Bảng 3: So sánh các đặc điểm giữa nhóm có và nhóm 

khôngcó tác dụng phụ. 

Nhóm có td phụ

(38 BN)

Nhóm bình thường

Phái

(nam/nữ) 15,8%/84,2% 16%/84% 0,969

Tuổi (TB) 42,53 41,06 0,59

Tuổi > 40/tuổi

≤ 40 50%/50% 51,85%/48,15% 0,837

Basedow/BG

nhân 42,1%/57,9% 53,08%/46,92% 0,223

Lần đầu/tái

phát 71,05%/28,95% 79,01%/20,99% 0,29

Phái

(nam/nữ)

6/32 (15,8%/84,2%) 26/136 (16%/84%) 0,969

Tuổi 42,53±15,82 41,06±14,93 0,591

Nhận  xét:  Không  có  sự  khác  biệt  về  tuổi, 

phái,  nguyên  nhân  cường  giáp,  tình  trạng  tái 

phát giữa nhóm có và không có tác dụng phụ 

do thuốc (p > 0,005). 

Bảng 4: Phân bố các nhóm tác dụng phụ. 

Dị ứng 15 Giảm bạch cầu hạt 2

Đau khớp 1

Dị ứng+ Giảm bạch cầu 1

Dị ứng+ Tăng men gan 2

Dị ứng + Đau khớp 2 Tăng men gan+ Tăng bilirubin 1

Dị ứng+ Tăng men gan+ tăng bilirubin 1

Dị ứng+ tăng men gan+ loét miệng 1 Giảm bạch cầu+ tăng men gan+ tăng bilirubin 1

Nhận  xét:  đa  số  BN  chỉ  có  1  tác  dụng  phụ. 

Một  số  ít  Bn  có  nhiều  biểu  hiện  tác  dụng  phụ  cùng lúc. 

Bảng 5: Tỉ lệ từng loại tác dụng phụ 

Dị ứng 22 11%

Nhận xét: “Dị ứng” là nhóm hay gặp nhất 

Bảng 6: Tác dụng phụ của nhóm dùng PTU và 

Thyrozol 

Có td phụ 19,67% 18,7%

Tăng men gan 4,91% 5,03%

Tăng bilirubin 4,91% 5,03%

Nhận xét: tỉ lệ tác dụng phụ của 2 nhóm gần 

giống nhau. 

Bảng 7: Mô tả thuốc dùng gây tác dụng phụ “dị 

ứng” 

Thuốc Số ca Liều

Không đổi thuốc (giảm liều hoặc giữ nguyên)

Đổi nhóm khác

Biểu hiện dị ứng: đa phần Bn ngứa, một số ít 

bị phát ban.  

Đa số BN chấp nhận được tình trạng này và  thuyên  giảm  hoặc  hết  theo  thời  gian  điều  trị. 

Một vài Bn khi giảm liều, dị ứng cũng giảm hẳn. 

Một số BN đổi sang nhóm thuốc khác do ý  kiến  của  BN  hoặc  quyết  định  chủ  quan  của  BS  điều trị. Có 1 BN dùng PTU bị dị ứng nặng và  kèm  giảm  BC  hạt  phải  nhập  viện  chuyển  sang 

Trang 5

đó BN được làm Iod đồng vị phóng xạ. 

Bảng 8: Giảm bạch cầu hạt 

Thuốc Giảm BC hạt Liều Giữ nguyên điều trị Thay đổi điều trị

Có  4  BN  giảm  sau  điều  trị  (do  thuốc),  mức 

giảm cũng nhẹ (>1000). Không ca nào phải dùng 

thuốc kích thích tăng BC, gồm. 

Do PTU: 1 ca, ca này đồng thời cũng kèm tác 

dụng  phụ  khác  (ngứa,  phát  ban  nặng).  Phải 

nhập viện và chuyển sang điều trị thyrozol liều 

thấp  cùng  lugol  tạm  thời  và  làm  iod  đồng  vị 

phóng xạ lâu dài. 

Do  thyrozol:  3  ca.  có  1  ca  sau  giảm  liều  thì 

ổn,  1  ca  chuyển  sang  PTU  thành  công,  ca  này 

đồng  thời  cũng  bị  tăng  men  gan  và  tăng 

bilirubin.  1  ca  cũng  giảm  BC  với  PTU  nên 

chuyển sang iod đồng vị phóng xạ. 

Bảng 9: Tăng men gan 

Thuốc Tăng men gan Liều Giữ nguyên điều trị Thay đổi điều trị

Tăng men gan trước điều trị: 

7 ca, có 1 ca VGSVB đang trị, 1 ca sán lá gan, 

các ca còn lại men gan về bình thường sau điều 

trị cường giáp. Mức độ tăng 2‐3 lần. 

Sau điều trị: Mức độ tăng 2‐8 lần. 

Nhóm PTU: các ca tăng men đều dùng liều 

6v. Trong đó, 1 ca tiếp tục duy trì điều trị, 2 ca 

chuyển sang nhóm thyrozol. 

Nhóm  Thyrozol:  liều  dùng  4v.  1  ca  tiếp  tục 

thyrozol. 6 ca còn lại chuyển sang nhóm PTU 

Bảng 10: Tăng Bilirubin. 

Đổi thuốc Đổi sang thyrozol:1, xạ:1 6

Tăng trước điều trị: 2 Bn , 1 Bn xơ gan tim, 1 

Bn có tán huyết miễn dịch đi kèm. 

Tăng sau điều trị: 10 Bn. 

Các tác dụng phụ hiếm gặp 

Có 3 Bn bị đau khớp, 1 Bn loét miệng. Phần  lớn đều nằm chung trong bênh cảnh dị ứng và  không làm thay đổi điều trị. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm dân số chung 

Phái: nam (16%) /nữ (84%)  Điều này phù hợp với tất cả các nghiên cứu 

về cường giáp, là bệnh ưu thế ở nữ. 

Tuổi trung bình 41,22. Đây là lứa tuổi trung  niên  hay  gặp  của  cường  giáp,  và  cũng  là  tuổi  thường  gặp  của  các  nhóm  bệnh  lý  tự  miễn  (trong đó có Basedow) 

Basedow trong tất cả các nghiên cứu đều là  nguyên  nhân  thường  gặp  nhất  của  “hội  chứng  cường giáp”, trong ngiên cứu chúng tôi, tỉ lệ này 

là 51%. Sau đó là bướu giáp nhân. 

Khi  điều  trị  nội  khoa,  tỉ  lệ  tái  phát  cường  giáp rất cao, có nghiên cứu đã ghi nhận tỉ lệ này  lên đến 51 ‐ 68%(1). Trong nghiên cứu chúng tôi  ghi nhận tỉ lệ Bn tái phát cũng khá cao (22%), có  những trường hợp tái phát rất nhiều lần (10 Bn),  sớm nhất có ca mới ngưng thuốc được 6 tháng,  cũng có Bn tái phát sau > 10 năm ổn định bệnh 

Tác dụng phụ chung 

Theo một vài nghiên cứu ghi nhận, tác dụng  phụ  không  liên  quan  đến  phái  tính,  điều  này  phù hợp với nghiên cứu chúng tôi.  

Thuốc dùng 

Tác giả Ana B.Emiliano(5) tổng kết tình hình 

sử  dụng  thuốc  kháng  giáp  tại  Mỹ  từ  1991  đến 

2008. Methimazol được dùng tăng gấp 9 lần so  với  PTU  chỉ  tăng  19%.  1991‐1995  PTU  được  kê  toa 2/3, từ 1996‐2008 PTU chỉ chiếm ¼.  

Trong nghiên cứu của chúng tôi, PTU được 

kê gần 1/3 do các BS cảnh giác hơn với khuyến  cáo  của  FDA.  Thực  tế  hiện  nay,  chúng  tôi  thường  chọn  Thyrozol  là  thuốc  đầu  tay,  PTU  thường chỉ khởi đầu cho các trường hợp có thai,  bệnh  cần  chuẩn  bị  phẫu  thuật  khẩn‐bán  khẩn,  các  cường  hợp  cường  giáp  nặng,  đe  dọa  bão  giáp. 

Trang 6

thai đều được dùng PTU. 

7/14  ca  ung  thư  do  BV  Ung  Bướu  chuyển 

đến được dùng PTU. Đa số các trường hợp đều 

cần phẩn thuật sớm vì bệnh lý cơ bản. 

Nghiên cứu của Werner và cộng sự cho thấy 

không  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  về 

nhóm thuốc dùng PTU hay MMI và tỉ lệ nhóm 

tác dụng phụ nhẹ (dị ứng, phát ban, đau khớp, 

rối loạn tiêu hóa) khoảng 1‐5%. Tác dụng phụ ở 

nhóm  MMI  liên  quan  đến  liều  dùng,  trái  lại,  PTU  không  liên  quan  liều.  Vì  vậy,  liều  thấp  MMI tác dụng phụ sẽ thấp hơn PTU ở bất kì liều  nào.  

Giảm BC hạt tỉ lệ thấp 0,2‐0,5%, rất hiếm xảy 

ra  với  MMI  liều  <  10  mg/  ngày.  Viêm  gan  do  thuốc  xảy  ra  ở  PTU  nhiều  hơn.  Vì  vậy,  nhìn  chung, MMI an toàn hơn PTU, đặc biệt ở những  đối tượng bệnh mức độ nhẹ‐ trung bình chỉ cần  dùng MMI liều thấp. 

Phân tích từng loại tác dụng phụ 

Bảng 11: So sánh tỉ lệ các tác dụng phụ với các nghiên cứu của Hirotoshi Nakemura (6)  

Tác dụng phụ Thyrozol

(n=139)

PTU (n=61)

mg/ngày

MMI 15 mg/ngày

Bảng 12: So sánh thuốc dùng gây tác dụng phụ “dị 

ứng” 

Nc chúng tôi Nc Prakash A và cs (7)

Tỉ  lệ  dị  ứng  của  hai  nhóm  thuốc  trong 

nghiên cứu chúng tôi tương tự như nghiên cứu 

của tác giả Prakash A. 

Đa  số  các  nghiên  cứu  đều  ghi  nhận,  tình 

trạng  dị  ứng  thường  nhẹ  và  tự  khỏi  theo  thời 

gian hoặc khi giảm liều. Cá biệt, một số trường 

hợp dị ứng với cả 2 nhóm thuốc. 

Giảm bạch cầu hạt 

Trong ngiên cứu chúng tôi, cả 4 BN giảm BC 

hạt xảy ra trong 1 tháng đầu điều trị, BN dùng 

PTU  với  liều  200mg,  Bn  dùng  thyrozol  với  liều 

20 mg/ngày. Mức BC giảm nhẹ, không cần dùng 

thuốc kích thích tăng BC. Có 2 Bn > 40 tuổi, 2 BN 

< 40 tuổi. 

Nghiên cứu của David S.Cooper(4) cho thấy:  

Nguy  cơ  giảm  BC  hạt  khi  BN>40  tuổi  cao 

gấp 6,4 lần ở tuổi trẻ hơn (p< 0,001). 

Liều MMI >40mg/ngày nguy cơ giảm BC hạt 

tăng 8.6 lần (p<0,01). 

Nghiên cứu của Takata, 2087 BN điều trị với  MMI  30  mg/ngày  và  2739  BN  dùng  MMI  15  mg/ngày,  tỉ  lệ  giảm  BC  hạt  của  nhóm  30mg/ngày tăng gấp 5 lần (p <0,001) 

Theo  các  tác  giả,  giảm  BC  hạt  do  thuốc,  thường  xảy  ra  trong  3  tháng  đầu  điều  trị.  Tuy  nhiên, một số rất ít các trường hợp có thể xảy ra  trễ sau 1 năm hoặc thậm chí khi đã ngưng thuốc.  

Nguy cơ giảm BC hạt cao ở người lớn tuổi 

và tỉ lệ tử vong ở nhóm BN này cũng rất cao. 

Cơ chế giảm BC hạt là qua trung gian tự miễn. 

Sốt,  đau  họng  là  2  triệu  chứng  thường  gặp  nhất. Nhiễm trùng huyết do giảm BC hạt phần  lớn  do  Pseudomonat  aeruginosa.  Nếu  xảy  ra,  nhập  viện,  ngưng  điều  trị,  dùng  kháng  sinh  phổ  rộng  bao  phủ  được  Pseudomonat.  Tuyệt  lạp  BC  (BC<500)  là  bệnh  cảnh  rất  nặng,  cần  dùng thuốc kích thích tăng BC chi phí rất cao, 

tỉ lệ tử vong cao. 

Tăng men gan 

Sau giảm BC hạt, tổn thương gan là một tác  dụng phụ nặng. Tỉ lệ thường khoảng 0.1‐0,2%(2).  Nhận diện tình trạng này không phải là dễ  dàng.  Tăng  men  gan  do  cường  giáp  không 

Trang 7

phải  là  yếu  tố  tiên  đoán  Bn  cũng  sẽ  bị  tổn 

thương  gan  do  thuốc.  Có  30%  BN  dùng  PTU, 

có men gan bình thường trước điều trị sẽ tăng 

men gan thoáng qua trong suốt quá trình điều 

trị (1,1‐6 lần)(2). 

Tổn  thương  gan  do  PTU  thường  xảy  trong 

vòng 3 tháng đầu, tuy nhiên nó cũng có thể xảy 

ra trong bất kì giai đoạn điều trị nào, với bất kì 

liều  nào.  Mức  độ  nhẹ  Bn  biểu  hiện  tình  trạng 

viêm gan dị ứng kèm tăng men gan.  

PTU đứng hàng thứ 3 các nguyên nhân cần 

ghép  gan  ở  Mỹ  vì  suy  gan  cấp  do  thuốc.  Đối 

tượng  hay  gặp  là  trẻ  em,  người  trẻ  <17  tuổi  và 

người > 40 tuổi(8). 

Tăng Bilirubin 

Tổn  thương  gan  do  MMI  thường  nhẹ,  biểu 

hiện bằng tình trạng tắc mật, ít gây suy gan cấp. 

Hay gặp ở người >61 tuổi.  

Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi,  tình  tạng 

bilirubin tăng cũng gặp ở thyrozol nhiều hơn (7 

ca, so với PTU là 3 ca), tuy nhiên, số lượng ít nên 

sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê.  

Các tác dụng phụ hiếm gặp 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  các  tác 

dụng  phụ  còn  lại  như  đau  khớp,  loét  miệng 

thường  biểu  hiện  nhẹ,  thoáng  qua  không  cần 

thay đổi điều trị. Các biểu hiện này thường cũng 

nằm chung trong bệnh cảnh dị ứng.  

Vì  số  lượng  bệnh  ít  nên  chúng  tôi  không 

thực hiện được thống kê để xem có sự khác biệt 

giữa nhóm PTU và MMI hay không. 

KẾT LUẬN 

Với  các  mục  tiêu  nghiên  cứu  đã  nêu  trên, 

chúng tôi ghi nhận những kết quả như sau: 

Tác  dụng  phụ  do  thuốc  kháng  giáp  trong 

giai đoạn điều trị tấn công cường giáp là 19%. 

Tỉ  lệ  tác  dụng  phụ  xảy  ra  ở  2  nhóm  thuốc 

không  khác  nhau,  với:  nhóm  PTU  là  19,67%, 

nhóm Thyrozol là 18,7%. 

Dị  ứng  là  tác  dụng  phụ  hay  gặp  nhất  11%.  Tăng men gan 5%, tăng bilirubin 5%, giảm bạch  cầu hạt 2%, các tác dụng phụ khác 2%. Đa số các  trường  hợp  nhẹ,  tự  ổn.  Một  số  trường  hợp  cần  chuyển  sang  nhóm  thuốc  thứ  2  hoặc  phương  pháp điều trị khác. 

Đề xuất 

1. Sau cảnh báo của FDA, rất nhiều chuyên  gia trên thế giới vẫn tiếp tục sử dụng PTU, các  nghiên  cứu  về  2  nhóm  thuốc  này  vẫn  đưa  ra  nhiều  tranh  cãi.  Chúng  tôi  nghĩ  rằng,  sự  chọn  lựa thuốc ban đầu vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào  quyết định của BS lâm sàng.  

2. Trong giai đoạn tấn công, BS phải dặn dò 

BN  theo  dõi  các  dấu  hiệu  cảnh  báo  tác  dụng  phụ. Tái khám định kì mỗi 2‐4 tuần, làm các XN  cần thiết và can thiệp kịp thời khi tác dụng phụ  xảy  ra.  Điều  này  cũng  góp  phần  giúp  BN  tuân  trị và khả năng lành bệnh cao. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Abraham P, Avenell A, Park CM. (2005). A systematic review of  drug therapy for Grave’s hyperthyroidism. European Journal of  Endocrinology. 153, 489‐498. 

2 Cooper  DS  (2005).  Antithyroid  drugs.  New  England  Journal  Medicine. 352, 905‐917. 

3 Cooper  DS,  RivkeesSA.  (2009).  Putting  Propylthiouracil  in  perspective. J Clin Endocrinol Metab. 94, 1881‐1882. 

4 Cooper  DS.,  Goldminz  D,  Levin.  A  (1983).  Agranulocytosis  Associated  with Antithyroid drugs: Effects of patient age and  drug dose. Ann Intern Med. 98(1), 26‐29. 

5 Emiliano  AB,  Governale  L,  Parks  M  and  Cooper  DS  (2010).  Shifts  in  Propylthiouracil  and  Methimazole  prescribing  practices: antithyroid drug use in the United States from 1991‐

2008. J Clin EEndocrinol Metab. Vol95, No.5,2227‐2233. 

6 Nakamura  H,  Yoshimura  J  et  al.  (2007).  Comparison  of 

Hyperthyroidism caused by Graves’s disease. J Clin Endocrinol  Metab. 92 (6), 2157‐2162.  

7 Nguyễn  Thế  Thành.(2003).  Giảm  bạch  cầu  hạt  ở  bệnh  nhân  cường giáp. Tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 7, Phụ  bản số 2, 12‐15. 

8 Rivkees  SA,  Szarfman  A.  (2010).  Dissimilar  hepatotoxicity  profiles of propylthiouracil and methimazole in children. J Clin  Endocrinol Metab. Vol 95, No 7, 3260‐3257. 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:18/9/2012  Ngày bài báo được đăng: 10/12/2013 

Ngày đăng: 20/01/2020, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w